LOGO CỦA WEBSITE NÀY

Trang nhà > Sử­ sách > Thời mới > VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ VÀ XTALIN TRONG CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN

VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ VÀ XTALIN TRONG CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN

Thứ Ba 1, Tháng Tư 2008

Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 là cuộc đối đầu quân sự cục bộ lớn nhất đầu tiên giữa hai phe XHCN và tư bản chủ nghĩa ngay sau Thế chiến II. Trước đây sách báo hai phe đưa ra những tư liệu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về sự kiện lớn này.
Phụ nữ trẻ em là nạn nhân đầu tiên
Phụ nữ, trẻ em là nạn nhân đầu tiên
Đầu thập kỷ 90, chính quyền Nga bắt đầu công bố nhiều tư liệu liên quan như các hồi ký và bài viết, bài phỏng vấn một số nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên tỵ nạn tại Liên Xô cũ ; đồng thời giải toả hơn 1000 trang tài liệu mật của 3 Cục Lưu trữ Hồ sơ, trong đó có thư, điện trao đổi giữa Xtalin với lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành và lãnh tụ Trung Quốc (TQ) Mao Trạch Đông. Tháng 6.1994, Tổng thống Nga Yeltsin trao cho TT Hàn Quốc Kim Young Sam 215 bộ hồ sơ của Liên Xô cũ có liên quan tới chiến tranh Triều Tiên; phía Hàn Quốc đã dịch và xuất bản thành sách “Trích yếu các văn kiện chiến tranh Hàn Quốc”. Bản tiếng Anh tài liệu này cũng đã xuất bản ở một số nước.
TQ cuối thập kỷ 80 đã công bố lần đầu tiên nhiều tài liệu về chiến tranh Triều Tiên rải rác trong một số sách như “Các bài viết của Mao Trạch Đông từ ngày thành lập nước”, “Tuyển tập quân sự Bành Đức Hoài”, “Tuyển tập Ngoại giao Chu Ân Lai”, “Tuyển tập quân sự Mao Trạch Đông” v.v… Ngoài ra còn xuất bản một số bài báo, hồi ký, phỏng vấn các nhân vật liên quan. Giới sử học thế giới đã tổ chức 2 cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Washington 12.1995 và Hongkong 1.1996). Nhờ đó việc nghiên cứu lịch sử cuộc chiến tranh Triều Tiên đã có tiến triển lớn. Cho tới nay tuy vẫn có những ý kiến bất đồng song dù sao nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ. Dưới đây xin bàn về vai trò của Liên Xô và của cá nhân Xtalin trong cuộc chiến tranh nói trên.
Sau Thế chiến II, theo Hiệp nghị Potsdam (7.1945) quy định, bán đảo Triều Tiên chia làm 2 miền cách nhau bởi vĩ tuyến 38; phía bắc do Liên Xô, phía nam do Mỹ chiếm đóng. Tháng 5 năm 1948, nước Cộng hoà Nhân dân Dân chủ Triều Tiên (sau đây gọi tắt là Bắc Triều Tiên) thành lập dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Kim Nhật Thành. Đồng thời ở miền Nam cũng thành lập nước Cộng hoà Triều Tiên (gọi tắt Nam Triều Tiên) do Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đứng đầu.
Liên Xô có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng chính quyền và lực lượng quân sự của Bắc Triều Tiên. Xtalin cho rằng bán đảo Triều Tiên có tầm chiến lược quan trọng, nếu Nam Triều Tiên được giải phóng thì phạm vi thế lực của Liên Xô sẽ được mở rộng tới sát Nhật Bản, đối thủ kỳ cựu đáng gờm nhất của nước Nga từ cuối thế kỷ XIX. Tuy vậy Liên Xô không muốn đụng độ với Mỹ; vì thế dù Kim Nhật Thành nhiều lần đề nghị Liên Xô giúp thống nhất đất nước nhưng Xtalin đều chưa tán thành mà chỉ chủ trương tăng viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên. Cuối năm 1948, Liên Xô chủ động rút quân ra khỏi Bắc Triều Tiên, nhưng tình hình bán đảo này vẫn rất căng thẳng. Bắc Triều Tiên tố cáo Lý Thừa Vãn tập trung 40 nghìn quân sát vĩ tuyến 38 định tấn công miền Bắc. Tháng 3. 1949, Kim Nhật Thành sang Liên Xô bàn với Xtalin vấn đề bảo vệ Bắc Triều Tiên. Sau đó ít lâu, Xtalin nhận được tin tình báo Bắc Triều Tiên cho biết: tháng 5.1949 Mỹ sẽ rút hết quân ra khỏi Nam Triều Tiên, Lý Thừa Vãn quyết định tháng 6 tấn công lên phía Bắc. Xtalin rất lo vì Bắc Triều Tiên lúc này mới có 3 sư đoàn bộ binh, so với Nam Triều Tiên có 6 sư đoàn trang bị vũ khí Mỹ hiện đại. Xtalin bèn đề nghị Kim Nhật Thành bàn với Mao Trạch Đông cho tất cả các binh sĩ TQ người gốc Triều Tiên (chừng 12 nghìn người) mang theo vũ khí biên chế vào quân đội Bắc Triều Tiên. Tới tháng 9.1949, quân đội Bắc Triều Tiên đã có 90 nghìn người, trang bị đày đủ các loại vũ khí nặng nhẹ. Kim Nhật Thành nhận định: nếu tình hình quốc tế cho phép thì Bắc Triều Tiên có thể chiếm Nam Triều Tiên trong vòng từ 2 tuần đến 2 tháng.
Tình hình thuận lợi đó đã xuất hiện khi hai ngày 5 và 12 tháng 1.1950 Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố vành đai an toàn của Mỹ không bao gồm Nam Triều Tiên và Đài Loan; Mỹ sẽ không dùng hành động quân sự trực tiếp bảo vệ khu vực này. Hai tuần sau, Xtalin báo Kim Nhật Thành biết ông sẵn sàng bàn việc thống nhất Triều Tiên, đồng thời Liên Xô tăng viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên lên tới mức 300 triệu rúp. Lúc này Xtalin càng tích cực ủng hộ giải phóng Nam Triều Tiên vì tình báo Liên Xô vừa bắt được điện mật của tướng MacArthur (Tư lệnh Quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật) gửi từ Nhật về Mỹ, nêu chủ trương không can thiệp vào cuộc xung đột Nam-Bắc Triều Tiên. Tuy thế, Xtalin vẫn thận trọng nhắc Kim Nhật Thành chỉ được dùng hình thức phản công khi Nam Triều Tiên tấn công trước, và kế hoạch phản công đó phải được Mao Trạch Đông đồng ý. Có điều đáng nói là Xtalin không hề lộ cho Mao Trạch Đông biết ý định nói trên, mặc dù lúc đó Mao Trạch Đông đang ở thăm Liên Xô (từ ngày 16.12.1949 đến ngày 27.2.1950) và tích cực đề nghị Xtalin giúp TQ giải phóng Đài Loan trước, giúp Bắc Triều Tiên giải phóng Nam Triều Tiên sau.
Ngày 30 tháng 3, Kim Nhật Thành bí mật đến Liên Xô gặp Xtalin bàn vấn đề trên; trước khi đi, ông có báo cho Mao Trạch Đông biết về chuyến đi đó. Trung tuần tháng 5.1950, Kim Nhật Thành đến TQ thông báo kết quả cuộc hội đàm ở Moskva. Bị đặt trước một sự việc đã rồi và được Xtalin an ủi bằng cách dành cho TQ quyền quyết định tối hậu về cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mao Trạch Đông miễn cưỡng đồng ý với kế hoạch tấn công của Bắc Triều Tiên và đồng ý giúp về quân sự nếu Bắc Triều Tiên có nhu cầu.
Được Liên Xô và TQ ủng hộ hết lòng, Kim Nhật Thành ráo riết chuẩn bị hành động. Liên Xô tích cực viện trợ vũ khí và cử hơn 3000 cố vấn quân sự sang giúp Bắc Triều Tiên; đổ đồng cứ 45 lính Bắc Triều Tiên có 1 cố vấn Liên Xô. Trung tướng Vaxilev dẫn đầu đoàn cố vấn lập kế hoạch tác chiến, yêu cầu trong 22-27 ngày phải chiếm xong Nam Triều Tiên. Ngày 11 tháng 6.1950, chính quyền Lý Thừa Vãn từ chối đề nghị hoà bình thống nhất đất nước của Bắc Triều Tiên. Sau đó ngày 25 lại xảy ra vụ khiêu khích của quân đội Nam Triều Tiên tại vĩ tuyến 38. Lập tức 7 sư đoàn quân Bắc Triều Tiên ém sẵn tại đây tràn qua giới tuyến quân sự, ào ào tiến xuống miền Nam như thác lũ. Trong các bức điện ngày 1 và 6 tháng 7, Xtalin viết: Liên Xô sẽ “hoàn toàn thoả mãn yêu cầu của Bắc Triều Tiên về vận chuyển vũ khí và các trang bị quân sự khác”, “sẽ cung cấp toàn diện các loại vũ khí, xe tăng v.v…” Viện trợ quân sự của Liên Xô trong năm 1950 lên tới kỷ lục 870 triệu rúp. Nhờ vậy quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm gần hết Nam Triều Tiên, trừ khi tới mỏm Pusan tận cùng phía Nam mới gặp chống cự đáng kể.
Xtalin theo dõi chiến sự từng ngày, liên tục gửi điện chỉ đạo tác chiến cho Kim Nhật Thành. Khi thấy sau khi chiếm được Seoul, quân Bắc Triều Tiên ngừng tiến công để nghỉ ngơi và chỉnh đốn, Xtalin liền chỉ thị Kim Nhật Thành: “tuyệt đối phải tiếp tục tấn công, phải giải phóng Nam Triều Tiên sớm nhất, không để cho Mỹ có cơ hội tham chiến.” Ngày 28 tháng 8, ông đề nghị Kim Nhật Thành tập trung không quân vào nhiệm vụ tấn công; sau khi hứa “sẽ cung cấp thêm máy bay” ông an ủi “chớ nên lo nghĩ về việc chưa giành được thắng lợi hoàn toàn”, và ca ngợi Bắc Triều Tiên “đã trở thành ngọn cờ của phong trào giải phóng châu Á”.
Tuy vậy, Xtalin không muốn công khai việc Liên Xô giúp Bắc Triều Tiên về quân sự. Ông cấm các cố vấn quân sự Liên Xô vượt vĩ tuyến 38 với lý do “không muốn để lại chứng cớ để người ta tố cáo Liên Xô tham dự cuộc chiến tranh này, đây là việc của Kim Nhật Thành”. Khi đà tấn công bị chững lại do máy bay Mỹ ném bom đội hình hành quân, ngày 8 tháng 7, Kim Nhật Thành đề nghị cho 25-35 cố vấn quân sự Liên Xô vượt vĩ tuyến 38 xuống giúp Bộ Tham mưu mặt trận và Quân đoàn II, Xtalin buộc phải đồng ý nhưng nhấn mạnh các cố vấn này phải lấy danh nghĩa là “phóng viên báo Sự Thật”, và chỉ “đến Bộ Tư lệnh Mặt trận mà không xuống đơn vị chiến đấu.”
Ngày 15 tháng 9, quân Mỹ đổ bộ Incheon ở phía Tây Seoul; cắt đường rút lui của quân đội Bắc Triều Tiên; chiến cuộc bắt đầu bất lợi khiến Xtalin rất lo lắng. Ngày 18, ông yêu cầu Kim Nhật Thành điều ngay 4 sư đoàn từ Pusan về Seoul, và chỉ thị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Vaxilevxki lập kế hoạch cho không quân Liên Xô bảo vệ thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Triều Tiên, điều một số biên đội máy bay, ra-đa và bộ đội phòng không sang đóng ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Xtalin còn cử Phó Tổng Tham mưu trưởng Xakharov (đổi tên là Matveev) dẫn đầu một phái đoàn sang Bắc Triều Tiên mang theo lệnh của Xtalin: ngừng tấn công vành đại phòng thủ Pusan, rút bộ đội về giữ Seoul. trong bức điện ngày 27 tháng 9, Xtalin trách “Bộ Tư lệnh Mặt trận, Bộ tư lệnh Quân đoàn (Bắc Triều Tiên) đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ huy quân sự, nhất là về chiến thuật”, và phê bình “các cố vấn quân sự Liên Xô có trách nhiệm càng lớn hơn về các sai lầm đó”, họ đã “ngu xuẩn” trong việc vận dụng chiến thuật xe tăng và tỏ ra “thiếu hiểu biết” trong công tác tình báo; tình hình mặt trận xấu đi là do các cố vấn Liên Xô coi nhẹ “ý nghĩa chiến lược của việc địch đổ bộ Incheon …. Điều đó cộng với sự thiếu tầm mắt chiến lược đã khiến họ nghi ngờ tính tất yếu của việc rút bộ đội từ miền Nam về Seoul; việc điều động bộ đội đã bị kéo dài và gác lại”. Ông cho rằng “nếu thi hành đúng và kịp thời lệnh của Bộ Thống soái Tối cao Liên Xô về việc rút 4 sư đoàn từ mặt trận chính về Seoul” thì “lẽ ra đã có thể thay đổi căn bản tình hình ở Seoul”.
Trong bức điện ngày 1 tháng 10, Xtalin trách các cố vấn Liên Xô chưa góp ý cho lãnh đạo Bắc Triều Tiên, “do đó đã làm cho thái độ dao động của Bắc Triều Tiên càng nặng hơn”; ông trách Matveev “không chuyển về cho Moskva biết các nhận định về chiến cuộc ở Triều Tiên và chưa đề xuất bất cứ kiến nghị nào cần thiết”, do đó đã gây khó khăn cho Liên Xô khi đưa ra các quyết sách và dẫn đến việc “lãnh đạo Bắc Triều Tiên chưa có bất kỳ kế hoạch nào bảo vệ nước cộng hoà ở phía Bắc vĩ tuyến 38, chưa có kế hoạch rút quân từ Nam Triều Tiên về.”
Ngày 28 tháng 9.1950, Bộ Chính trị Đảng Lao động Triều Tiên họp, nhận định không còn đủ sức ngăn quân đội “Liên Hợp Quốc” (tức Mỹ và đồng minh) vượt vĩ tuyến 38, và thông qua thư yêu cầu Liên Xô, TQ lập tức viện trợ quân sự trực tiếp. Trong bức thư của hội nghị gửi Xtalin có viết: ưu thế tuyệt đối của không quân Mỹ đã phá vỡ mọi hoạt động quân sự của quân đội Bắc Triều Tiên, “gây ra các thiệt hại lớn về người và trang bị cho chúng tôi”, thông tin liên lạc bị cắt đứt, bộ đội ở miền Nam bị chia cắt và bao vây, cô lập, “việc bỏ Seoul là không thể tránh khỏi”; “khi quân địch vượt vĩ tuyến 38, chúng tôi vô cùng cần sự viện trợ quân sự trực tiếp của Liên Xô”; “đề nghị giúp chúng tôi thành lập một đội quân tình nguyện quốc tế gồm những binh sĩ TQ và các nước dân chủ nhân dân khác ” …. Thư này phát đi lúc 23 giờ 30 đêm 30 tháng 9 bằng điện báo tối khẩn; 0 giờ 35 sáng 1 tháng 10 được giải mã; 01giờ 45 được đánh máy và đưa đến biệt thự Xtalin ở Biển Đen miền Nam Liên Xô lúc 02 giờ 50.
Cùng ngày, Xtalin điện cho Đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh và cho Matveev, chỉ thị: “phải lập tức động viên mọi lực lượng ngăn không cho địch vượt vĩ tuyến 38, đồng thời chuẩn bị tác chiến ở Bắc vĩ tuyến này”, “chớ nên đánh giá thấp khả năng và thực lực của Bắc Triều Tiên trong tổ chức phòng ngự … Họ có đầy đủ sức mạnh, có nguồn lực và tài nguyên cực lớn có thể động viên; chỉ cần tổ chức lại và cô gắng hết sức chiến đấu”; về “vấn đề viện trợ vũ trang, chúng tôi cho rằng hình thức có thể tiếp nhận là tổ chức quân tình nguyện nhân dân. Về điểm này, trước hết chúng tôi phải bàn với TQ”.
Cùng hôm đó, Xtalin điện cho Mao Trạch Đông, nêu yêu cầu: “Nếu đồng chí cho rằng trong trường hợp khẩn cấp có thể cho bộ đội sang giúp Bắc Triều Tiên, thì nên cho ngay ít nhất 5-6 sư đoàn đến vĩ tuyến 38, để Bắc Triều Tiên dưới sự yểm hộ của các đồng chí, tổ chức chiến đấu ở phía bắc vĩ tuyến 38. Có thể coi quân đội TQ là quân tình nguyện, dĩ nhiên là do người TQ chỉ huy”. Vì không muốn để Mao Trạch Đông biết yêu cầu đó là do Kim Nhật Thành đề xuất, Xtalin viết: “Chúng tôi chưa và cũng không có ý định cho các đồng chí Triều Tiên biết ý kiến trên; theo tôi, sau khi biết tin này nhất định họ sẽ rất phấn khởi.”
Ngày 2 tháng 10, Mao Trạch Đông trả lời Xtalin là TQ chưa có quyết định tối hậu về vấn đề đưa quân sang Bắc Triều Tiên. Ngày 7, Xtalin lại mạnh mẽ yêu cầu Mao Trạch Đông đưa quân sang giúp Bắc Triều Tiên: “Hiện nay Mỹ chưa sẵn sàng tiến hành chiến tranh lớn”, “lực lượng quân phiệt Nhật còn chưa hồi phục”, Liên Xô ủng hộ TQ, do đó Mỹ sẽ phải nhượng bộ, sẽ phải bỏ Đài Loan và không thể để cho Nhật trở thành bàn đạp của Mỹ ở Viễn Đông. Nếu TQ “áp dụng chính sách tiêu cực chờ và xem” thì “TQ chẳng những không đạt được các nhượng bộ nói trên mà sẽ không thể thu hồi Đài Loan”. Trả lời ý kiến của Mao Trạch Đông cho rằng chiến tranh TQ-Mỹ sẽ kéo Liên Xô vào cuộc và tình hình sẽ “trở nên vô cùng nghiêm trọng”, Xtalin viết: “Chúng ta sợ điều đó ư ? Theo tôi thì không nên sợ, vì chúng ta hợp sức lại sẽ mạnh hơn Mỹ và Anh. Các nước tư bản châu Âu mà không có nước Đức (hiện Đức không thể giúp gì cho Mỹ) thì chẳng phải là lực lượng quân sự quan trọng. Nếu chiến tranh là không tránh khỏi thì hãy cứ để nó đến bây giờ đi …” Những lời lẽ hùng hồn của Xtalin không làm Mao Trạch Đông xúc động. Tuy đã quyết tâm đưa Chí nguyện quân TQ sang giúp Bắc Triều Tiên, nhưng trong điện trả lời cùng ngày, Mao Trạch Đông vẫn viết: “hiện giờ chưa thể phái bộ đội đi, cần chờ một thời gian nữa”, và báo sẽ cử Chu Ân Lai sang gặp Xtalin.
Sau khi Chu Ân Lai và Lâm Bưu (lúc ấy đang được Mao Trạch Đông chuẩn bị cử sang chỉ huy Chí nguyện quân TQ tại Triều Tiên) đến vùng nghỉ ở Biển Đen hội đàm với Xtalin, ngày 13 tháng 10.1950, Xtalin điện cho Kim Nhật Thành thông báo kết quả hội đàm và nói rất lấy làm tiếc là do TQ chưa sẵn sàng tham chiến nên tốt nhất Bắc Triều Tiên hãy rút hết bộ đội sang TQ và Liên Xô. Ông cũng chỉ thị Đại sứ Liên Xô tại Bình Nhưỡng giúp Bắc Triều Tiên thảo kế hoạch rút lui.
Cùng hôm đó, Đại diện Liên Xô tại Liên Hợp Quốc kêu gọi Mỹ từ bỏ chính sách “cứng rắn” và khôi phục quan hệ hợp tác với Liên Xô như trong thời gian Thế chiến II.
Ngày 14 tháng 10.1950, khi biết TQ đã quyết định đưa quân sang Bắc Triều Tiên, Xtalin lập tức điện cho Kim Nhật Thành: “Bản kiến nghị do cuộc hội đàm lãnh đạo Xô - Trung nêu ra và (hôm qua) đã báo cho đồng chí là vô hiệu”.
Ngày 19 tháng 10, Quân Chí nguyện TQ dưới sự chỉ huy của tướng Bành Đức Hoài vượt sông Áp Lục tiến sang Bắc Triều Tiên chiến đấu đánh Mỹ. Từ đó trở đi Xtalin không còn trực tiếp chỉ đạo Kim Nhật Thành như trước, nhưng ông vẫn theo dõi chiến sự và tiếp tục viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên và TQ. Từ đầu năm 1951, quân Mỹ đã bị đảy lui trở lại vĩ tuyến 38, song chiến sự càng trở nên vô cùng ác liệt. Cuộc chiến tranh Triều Tiên cuối cùng đã chấm dứt bằng một hiệp định ngừng bắn ký ngày 27 tháng 7 năm 1953 giữa các bên tham chiến.
Nguyên Hải (tổng hợp theo tài liệu TQ)