Trang nhà > Giáo dục > Căn bản > Vài ý kiến nhỏ về giáo dục và đào tạo

Vài ý kiến nhỏ về giáo dục và đào tạo

Thứ Bảy 23, Tháng Hai 2008

Hiện nay ở Việt Nam (VN) đang rộ lên dư luận về việc ồ ạt mở trường đại học (ĐH) và cao đẳng (CĐ), đặc biệt là chuyện tăng học phí trường công lập. Nhận thấy chủ đề giáo dục (GD) và đào tạo (ĐT) là thứ đáng quan tâm nhất, cho nên tôi xin mạo muội góp vài ý nhỏ được tóm tắt sau đây:

1. GDĐT là việc đại sự quốc gia vì nó liên quan đến mọi gia đình và tương lai của tổ quốc. Chiến tranh đã kết thúc từ rất lâu rồi mà nền GDĐT ở VN lại không theo kịp thời đại, đã có nhiều cải cách đắt đỏ nhưng tình hình chung vẫn không cho phép và cũng không ai có thể thay đổi nó trong vài năm. Hầu hết người dân đành chịu ... chờ ... cải cách lần nữa. Một số (rất) nhỏ chọn cách cho con học trường ngoại - một giải pháp thực dụng tuy rằng cực tốn kém (và nếu cho du học nữa thì có thêm rủi ro: con không về).

2. Hơn thế nữa, ngày nay GDĐT còn là việc đại sự quốc tế vì nó liên quan đến mọi nước và tương lai loài người. Từ vài chục năm nay, nhiều nước đi trước đã cải cách nền GD vốn được coi là tốt của họ để lót đường tiến vào xã hội thông tin và toàn cầu hóa kinh tế với những kết quả khích lệ, chẳng hạn phương pháp lấy học sinh làm trung tâm và GD hướng nghiệp với các chương trình và sách giáo khoa phù hợp. Những bài học thất bại cũng không ít. Vấn đề là kẻ đi sau phải biết khôn khéo rút kinh nghiệm để đỡ mất thời gian và công sức ("phát minh lại bánh xe" hoặc "cải lùi"). Nhưng nếu không biết tự chủ nâng cao chất lượng thì một phần lớn thị trường giáo dục của chúng ta ắt sẽ rơi vào tay nước ngoài.

3. Có thể lấy thí dụ Hàn Quốc, một nước nhỏ Á Đông khá giống VN về truyền thống Nho học lâu đời với quá khứ cận đại bị nô dịch, chiến tranh tàn khốc chia cắt đất nước và đảo lộn toàn bộ xã hội. Vậy mà chỉ trong vòng 3, 4 chục năm, nhờ dám noi gương Mỹ, Nhật (thậm chí không ngại "sao chép" mô hình của các đại học và trung tâm nghiên cứu tiên tiến), đến cuối thế kỷ vừa qua Hàn Quốc đã trở thành kiểu mẫu về sự trỗi dậy kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ. Nhiều tổ chức quốc tế đã phải ca ngợi, cho rằng Hàn Quốc bắt đầu có ảnh hưởng ngược lại đến nước mẹ cũ Nhật Bản đang gặp suy thoái. Xin mở ngoặc nhắc thêm rằng Hàn Quốc chưa hề có một siêu bác học nào nhưng đã đủ kỹ sư và thợ lành nghề có kỷ luật lao động. Nếu cần chọn bài học từ láng giềng cho sát hơn thì nên xem xét Thái Lan hoặc Malaixia v.v.

4. Với tinh thần mở trong thế giới mở, VN chúng ta đang và còn cần phải học tập ngoại quốc mạnh dạn hơn nữa. Bộ GDĐT không nên ngại các ý kiến trái ngược, hãy cho thí điểm áp dụng nhiều mô hình và giải pháp khác nhau để sau vài năm sẽ lựa chọn một vài thứ phù hợp nhất từ trong số đó. Theo tôi, mấu chốt phải tháo gỡ đầu tiên trong vấn đề giáo dục là thay đổi và chi tiết hóa các chính sách sử dụng nhân lực, từ thầy giáo và nhân viên nhà trường, đến học sinh tốt nghiệp và cả không tốt nghiệp (phối hợp các Bộ khác). Ưu tiên trọng dụng người thực sự có nghề và yêu nghề, chứ học giỏi thì chưa đủ. Cần tuyển chọn chặt chẽ hơn, sau đó hàng năm cho bồi dưỡng trình độ và cập nhật kiến thức. Phải có các thước đo cụ thể và kiểm tra thường xuyên qua thực tiễn để đánh giá cán bộ và chuyên gia, không nên chỉ lấy bằng cấp, giấy tờ làm căn cứ phân loại. Cần phân biệt lãnh đạo với quản lý, chính trị với chuyên môn. Mặt khác cần tăng cường quyền tự chủ của các trường và quyền giám sát của học sinh, thầy giáo, nhân viên cũng như của xã hội về chất lượng giáo dục.

5. Các trường công lập (tương tự bệnh viện công) là tài sản của toàn xã hội và có mục đích công ích lâu dài (sự nghiệp trăm năm), không thể cổ phần hóa cho một nhóm cá thể để kinh doanh như doanh nghiệp. Nhân đây mong các doanh nghiệp và tổ chức vụ lợi (là những người hưởng lợi vì sử dụng nhân lực) có một hình thức đóng góp xứng đáng hơn cho GDĐT nước ta. Đừng để lẫn lộn các khái niệm như: xã hội hóa với tư nhân hóa, công lập với dân lập, giáo dục (đại trà) với đào tạo (chuyên sâu), số lượng với chất lượng, chính quy với tại chức [1]...

6. Giáo dục với các bậc học phổ thông + đại cương (university) có nhiệm vụ hình thành nhân cách thông qua cung cấp các kiến thức phổ quát (universal) và phương pháp luận, do đó không nên kéo dài quá lâu mà chỉ cần khoảng 10+3 năm là đủ, nhất là khi cơ hội cập nhật đã dễ dàng hơn với Internet có mặt mọi nơi. Nhân tài thường xuất thân từ những gia đình nghèo hoặc có truyền thống hiếu học. Ở đây học phí không tỷ lệ với chất lượng và nên được miễn vì là lợi ích chung, mặt khác toàn xã hội đều phải đóng thuế và chia sẻ ngân sách giáo dục quốc gia. Vấn đề là phân bổ ngân sách và đầu tư hợp lý, trước hết cho thầy trò và tinh giản chương trình sách giáo khoa.

Sau khi tốt nghiệp các trường đó, học sinh cần được đào tạo, dạy nghề để thành công nhân, kỹ sư, thầy thuốc, thầy giáo, luật sư, nhà khoa học, người lãnh đạo v.v.. Nhưng trường nghề cũng không thể thay cho môi trường làm việc thực tiễn và đa số chúng ta bắt buộc phải thường xuyên nâng cấp vì bản chất xã hội công nghiệp là thay đổi nhanh và nền kinh tế tri thức là đa dạng. Các khóa học chuyên nghiệp ngắn hạn (từ một buổi đến vài tuần) của các trường đại học, cao đẳng và trung tâm đào tạo sẽ có sức thu hút rất lớn nếu đáp ứng yêu cầu xã hội hoặc liên kết chặt với những doanh nghiệp và tổ chức sử dụng nhiều nhân lực (đầu ra). Như vậy đây chính là những nơi có thể tăng học phí tỷ lệ với chất lượng đào tạo, trang bị và sách vở (tài liệu điện tử thì càng hợp thời).

6. Công nghệ thông tin và viễn thông (ICT) chỉ là một ngành nuôi sống, học tập, giảng dạy hoặc nghiên cứu của thiểu số nhưng có thể trở thành một công cụ vô cùng đắc lực cho GDĐT nói riêng và cả xã hội nói chung. Trước hết đã có những ứng dụng bắt đầu phổ biến như học qua mạng (e-learning), thương mại trực tuyến (e-commerce), hành chính điện tử (e-government). Ở đây, càng có nhiều nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và những người sử dụng cùng tham gia làm việc trên mạng thì chính họ và xã hội càng thành công lớn hơn.

7. Không ít người từng nói về những điều trên đây, nhưng cho đến nay cả nước chưa có một hội nghị nào bàn thảo cho hết nhẽ. Vẫn thấy các cuộc họp cấp tốc thiếu sự chuẩn bị, các lãnh đạo vẫn bị vây quanh bởi mấy cái đầu quân sư quạt máy đã thôi làm chuyên môn quá lâu rồi, hoặc các chương trình, dự án thất bại mà không ai đứng ra nhận lỗi và từ chức. Bệnh thành tích vô bổ - nếu không nói là có hại, vẫn tiếp diễn (ít nhất thì các cuộc thi như sinh viên kể chuyện giỏi hoặc hoa hậu học đường... cũng tỏ rõ điều này). Một số đài, báo và forum thường là nơi trút bức xúc nhất thời nên dễ lẫn lộn các ý tưởng tốt đâu đó với chê bai rải rác, thậm chí dèm pha cá nhân. Chắc mọi người cũng mong có nơi hoặc dịp tốt để phát biểu đầy đủ và sâu sắc hơn.

Trích thư tham gia Diễn đàn ICT của Nguyễn Chí Công


[1Theo Bộ GD&ĐT ... việc tổ chức thi tuyển mang tính hình thức với chất lượng đầu vào thấp, điều kiện phục vụ học tập nghèo nàn, giảng viên yếu, sinh viên chểnh mảng... Năm 2007, tỷ lệ trượt tốt nghiệp tại ĐH Hà Nội, ở TP HCM chiếm hơn 90%.

Ngày 21/2, Hội nghị Tổng kết công tác đào tạo Không chính quy (giai đoạn 2003-2007) diễn ra, với sự tham gia của hơn 600 đại biểu đến từ các ĐH, CĐ, trung tâm giáo dục thường xuyên trên cả nước. Thừa nhận chất lượng sinh viên tốt nghiệp hệ không chính quy hiện gây bức xúc dư luận, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, cần phải khuyến khích người học đạt được năng lực thật, phục vụ cho xã hội và có thu nhập cho mình chứ không khuyến khích học chỉ vì bằng cấp.

Thống kê kết quả từ 153 ĐH, CĐ cho thấy, tỷ lệ trượt tốt nghiệp không chính quy năm 2007 là 51%, năm 2006 là gần 44%. Đáng lưu ý, tỷ lệ này ở ĐH Công nghệ Thông tin (ĐH Quốc gia TP HCM) là gần 80%, ĐH Mở TP HCM là 90% (2007) và 97% (2006), ĐH Hà Nội là 93%... Trong số 357 trường ĐH và CĐ ở Việt Nam, hiện có 200 trường tổ chức đào tạo không chính quy cho hơn 830.000 sinh viên, chủ yếu dưới hình thức vừa làm vừa học (75%). Khối Kinh tế chiếm nhiều nhất với 37%, tiếp đó là khối Sư phạm (26%), Kỹ thuật-Công nghệ (16%), Y-Dược chiếm hơn 1%.