Trang nhà > Sáng tạo > Đổi mới > Văn hoá: một tiền đề hội nhập kinh tế

Kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng

Văn hoá: một tiền đề hội nhập kinh tế

Thứ Hai 18, Tháng Sáu 2007

Thông qua một số khái niệm cơ bản như “toàn cầu hoá”, “khu vực hoá”, “bản địa hoá”, bài viết đề cập đến yêu cầu khách quan của hội nhập quốc tế, so sánh vai trò của nhân tố văn hoá trong phát triển và hội nhập ở châu Âu và châu Á, đặc biệt vai trò của các nhân tố văn hoá trong hội nhập và phát triển ở Việt Nam. Bài viết cũng đề xuất một vài kiến nghị về chính sách văn hoá.

Những nghiên cứu gần đây về “mô hình phát triển” của các quốc gia đều đặc biệt chú ý đến vấn đề: yếu tố văn hoá đóng một vai trò như thế nào trong tiến trình hội nhập và phát triển của các quốc gia. Điều này thường được thảo luận sôi nổi khi đề cập đến cái gọi là “mô hình Đông Á” với thực tiễn phát triển ở các quốc gia và khu vực công nghiệp mới ở Đông Á (NICs) vốn có truyền thống văn hoá Nho giáo như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Trung Quốc. Và một khái niệm mang tính phổ quát đã ra đời: khái niệm “giá trị châu Á” hay “giá trị Đông Á”. Việt Nam, do nhiều nguyên nhân, mà chủ yếu là nguyên nhân trình độ kinh tế, tuy vẫn chưa được đưa vào nhóm này, nhưng người ta vẫn mong đợi một sự phát triển đồng qui của nó. Khu vực Đông Á được cấu tạo bởi ba vòng tròn đồng tâm: Vòng tròn hạt nhân là AFTA hay ASEAN-10; vòng tròn lớn hơn nữa là ASEAN-10 + 3; cơ chế tiếp theo là ASEAN - 10 + 1 (Trung Quốc/ Hàn Quốc/Nhật Bản). Nếu mở rộng hơn nữa chúng ta sẽ gặp hai vòng tròn vĩ đại giao nhau là cơ chế Á - Âu (với ASEM) và Châu Á - Thái Bình Dương (với APEC). Với tiêu chí về truyền thống văn hoá chữ vuông, Đông Á bao gồm các quốc gia Đông Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản), các quốc gia Đông Nam Á trong đó trước hết là Việt Nam, Singapore và một số nước mà Hoa Kiều đóng vai trò then chốt về kinh tế.

Tuy nhiên, do quá nhấn mạnh cái đặc thù, nên một số nhà nghiên cứu bỏ qua hoặc ít chú ý những nét đồng nhất giữa những giá trị Đông Á và giá trị phương Tây cũng như giá trị nhân loại nói chung. Cũng theo đà như vậy, người ta dễ đi đến một suy diễn là châu Á phải đi con đường riêng của châu Á, “phương Tây là phương Tây, phương Đông là phương Đông” (West is west, East is east...). Trong khi đó, phương pháp luận của triết lý âm-dương ở phương Đông từ nhiều nghìn năm nay lại là “trong dương có âm, trong âm có dương”, trong sự khác biệt hay thậm chí đối lập vẫn có đồng nhất, và ngược lại, trong sự đồng nhất vẫn có khác biệt hay đối lập. Đó chính là nguyên lý của sự trường tồn và phát triển theo vũ trụ quan Kinh dịch.

Với một quan niệm như thế, bài viết này cố gắng làm rõ vai trò của văn hoá với tư cách tiền đề cho hội nhập kinh tế quốc tế cũng như hội nhập về mọi phương diện khác của Việt Nam trong khung cảnh toàn cầu hoá mạnh mẽ ngày nay.

1. Khái niệm bản địa hoá, khu vực hoá và toàn cầu hoá

Nói khu vực hoá (Regionalisation) và toàn cầu hoá (Globalization) là đặt trong sự tương phản với quá trình gọi là bản địa hoá (Localization, tiếng Trung Quốc: Bentuhuà / Bản thổ hoá). Vậy là chúng ta sẽ có ba vòng tròn đồng tâm biểu thị ba quá trình khác nhau theo qui mô từ nhỏ đến lớn:

G: Toàn cầu hoá

R: Khu vực hoá

L: Bản địa hoá

Hai mũi tên biểu thị hai quá trình ngược chiều nhau: Mũi tên ly tâm (chiều nằm ngang) biểu thị xu hướng và quá trình mở rộng; mũi tên hướng tâm (chiều thẳng đứng) biểu thị xu hướng và quá trình đồng hoá hay bản địa hoá từ các hiện tượng toàn cầu.

Bản địa hoá là khái niệm ra đời trước hai khái niệm “thời thượng” kia. Đó là một quá trình trên cơ sở truyền thống văn minh và chế độ chính trị xã hội của dân tộc và quốc gia mà hấp thu và biến hoá các yếu tố văn minh hiện đại của thế giới, tái tạo nền văn minh của bản thân phục vụ cho ổn định và phát triển của đất nước. Trên sơ đồ ta thấy nó là một xu hướng hướng tâm, từ bên ngoài đi sâu vào bên trong. Đây là một hiện tượng và trở thành một động lực thúc đẩy sự phát triển ở Đông Á kể từ sau Chiến tranh thế giới II. Nhưng trước đó trong nhiều thế kỷ, phương Tây cũng đã từng tiến hành bản địa hoá các thành tựu văn minh đến từ phương Đông (lục địa Á - Âu), biến các thành tựu đó thành sản phẩm công nghệ và thương mại, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản.

Bản địa hoá đòi hỏi một ý thức tự chủ, một sự định vị địa lý văn hoá (Cultural Geography) và xác định đúng đắn trình độ kinh tế của quốc gia, các nhiệm vụ và bước đi cụ thể cho chiến lược phát triển quốc gia ngang tầm thời đại và dần nhập vào nhóm các quốc gia tiên tiến. Đối với một quốc gia mà kinh tế chậm phát triển, thì vấn đề không phải là tập trung vào văn hoá, mà là phải ưu tiên toàn diện cho nhiệm vụ phát triển kinh tế. Nếu làm ngược lại, thì sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế và do đó nền văn hoá dù đặc sắc đến mấy cũng không thể toả sáng được.

Khu vực hoá được xem như một sự liên kết giữa các quốc gia hay các tổ chức bên trong của các nước cùng khu vực địa lý nhằm giải quyết các vấn đề nội bộ khu vực cũng như tăng sức cạnh tranh quốc tế của cả khu vực (ví dụ Liên hiệp than và thép của châu Âu những năm 50 thế kỷ XX). Vậy khu vực hoá là một quá trình trung gian hai mặt, hay diễn ra theo hai hướng tương phản nhau: hướng ngoại (toàn cầu hoá) khi nhìn nhận từ các quốc gia và hướng nội (bản địa hoá) khi xét từ góc độ cạnh tranh toàn cầu. Khuynh hướng khu vực hoá từ những thập niên gần đây càng được gia tăng trên khắp các châu lục và liên châu lục. Từ đó hình thành khái niệm chủ nghĩa khu vực (Regionalism) và trở thành một đối trọng của toàn cầu hoá.

Toàn cầu hoá được các cơ quan nghiên cứu và các học giả bàn đến sôi nổi từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Đó là một khái niệm quá rộng và đã trở thành một từ thời thượng (mode) không chỉ của giới học thuật mà còn của dân gian nói chung (1, tr.17).

Toàn cầu hoá là một tiến trình đa hệ (1, tr.19). Nó có ba xu thế là toàn cầu hoá thị trường, toàn cầu hoá văn hoá và toàn cầu hoá an ninh. Trong đó toàn cầu hoá thị trường là “toàn diện hơn, phát triển hơn”(2).

Các cách nhìn toàn cầu hoá kinh tế có thể phân thành hai loại quan điểm là cách nhìn vi mô và cách nhìn vĩ mô. Phần lớn các nhà kinh tế xem toàn cầu hoá là quá trình kinh tế vi mô (3, tr. 20).

Từ các cách hiểu đa dạng về toàn cầu hoá, chúng ta có thể tạm định nghĩa: Toàn cầu hoá là một quá trình gia tăng đến phạm vi toàn cầu các quá trình sản xuất và lưu thông, dựa trên các thành tựu của công nghệ thông tin, chất lượng mới của nguồn nhân lực và bối cảnh liên kết chính trị và giao lưu văn hoá mạnh mẽ toàn cầu. Trong định nghĩa này, vai trò của nhân tố văn hoá thể hiện trên ba phương diện: công nghệ thông tin, chất lượng nhân lực (bao gồm truyền thống văn hoá, chất lượng đào tạo) và giao lưu văn hoá. Chúng vừa là cơ sở vừa là kết quả của toàn cầu hoá. Bài viết này chỉ tập trung vào vấn đề vai trò tiền đề của văn hoá cho thúc đẩy quá trình hội nhập hay toàn cầu hoá của một quốc gia có truyền thống văn hoá Đông Á.

Toàn cầu hoá đã tác động đến văn hoá theo hai cách tích cực và tiêu cực. Tác động tích cực của toàn cầu hoá đối với văn hoá biểu hiện chủ yếu ở các phương diện sau đây:

- Thúc đẩy sự hình thành các hệ thống thông tin liên lạc công nghệ cao, các hệ thống truyền thông đại chúng;

- Thúc đẩy các công cuộc cải cách giáo dục ở tất cả các nước, kể cả ở các nước phát triển;

- Thúc đẩy việc học tập và đào tạo ngôn ngữ giao tiếp quốc tế hay ngoại ngữ;

- Một hệ quả tích cực khác là sự ra đời của các hệ thống chuẩn quốc tế (International Standards) về chất lượng sản phẩm trong đó bao gồm cả chất lượng xã hội - văn hoá nấp sau sự hiện hữu của sản phẩm (như môi trường sản xuất, quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp v.v...);

- Cuối cùng, những tác động tích cực nói trên đã đưa đến một hệ quả quốc tế hai mặt về văn hoá của toàn cầu hoá là tăng cường sự hiểu biết và hữu nghị giữa các dân tộc và tăng mức độ đồng nhất văn hoá giữa các khu vực và quốc gia, một cái luôn tiềm ẩn mặt trái của nó là nguy cơ “cào bằng văn hoá” của cái global village.

2. Tiền đề văn hoá trong hội nhập và phát triển của các quốc gia Đông Á trong so sánh với Tây Âu

Vậy là xác định theo cách nào thì toàn cầu hoá cũng dựa trên một số trong những cơ sở chủ yếu là: Công nghệ thông tin, chất lượng nhân lực và giao lưu văn hoá. Phần này chúng tôi tập trung phân tích tác động của bản sắc văn hoá trong tiến trình phát triển của các nước khu vực Đông Á.

Bản sắc văn hoá là gì? Đó là một khái niệm bộ phận của khái niệm bản sắc xã hội (social identity). Vậy thế nào là bản sắc xã hội? Đó là tổng hoà của các lời đáp cho các câu hỏi: Ta là ai? Chúng ta là ai? Có nhiều lời giải khác nhau trong xã hội học. Chúng ta có thể hiểu bản sắc văn hoá là truyền thống và các nét đặc điểm thể hiện thống nhất ở tuyệt đại đa số cá nhân nhờ học tập và giáo dục từ kinh nghiệm của một cộng đồng văn hoá. Nó là một cái “siêu cá nhân”, thậm chí siêu quốc gia khi nói đến bản sắc của một khu vực xuyên quốc gia, và siêu khu vực khi nói đến bản sắc hay đặc trưng của cả một thời đại trong lịch sử nhân loại. Trong xã hội hiện đại, bản sắc cái Tôi (I-Identity) ngày càng được nhấn mạnh hơn bản sắc cái Ta (We-Identity).

Bản sắc văn hoá bao gồm vô số đặc trưng, trong đó phải kể đến 6 đặc trưng quan trọng nhất: Thứ nhất, đặc trưng “dân tộc/quốc gia” dựa trên cơ sở đời sống không gian địa lý (tính chất địa chính trị); thứ hai, đặc trưng dân tộc học, tôn giáo và ngôn ngữ; thứ ba, đặc trưng giới tính; thứ tư, đặc trưng thế hệ; thứ năm, đặc trưng cương vị xã hội dựa trên bối cảnh thế giới sống của thế hệ cha mẹ và dự định cuộc đời của riêng mình; và thứ sáu, đặc trưng tổ chức - liên kết cộng đồng (14, tr.9-49).

Trở lại các nhân tố văn hoá với tư cách tiền đề cho hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta thấy mỗi loại nhân tố mang một nội dung và một tác dụng khác nhau đối với quá trình này:

- Nhân tố trình độ công nghệ thông tin,

- Nhân tố truyền thống văn hoá ở con người,

- Nhân tố giao lưu tiếp xúc văn hoá.

Bài viết này muốn tập trung phân tích vai trò của truyền thống văn hoá hay nhân tố con người đối với hội nhập khu vực và toàn cầu.

Truyền thống văn hoá chung của khu vực Đông á chính là các yếu tố ra đời từ nền văn hoá Trung Hoa cổ điển, trong đó hạt nhân là văn hoá Nho giáo (hay văn hoá Nho gia), một nền văn hoá kỳ vĩ, độc đáo được truyền bá rộng rãi ra toàn khu vực dựa trên loại hình chữ Hán. Dựa trên nền tảng văn hoá chữ vuông, một nền “thương mại triều cống” (tiếng Trung Quốc: cháo gòng mào yì) và trên cơ sở địa lý mà các quốc gia Đông Á đã theo nhau, tác động lẫn nhau mạnh mẽ để phát triển và phát triển liên tục. Điều đó khiến người ta nghĩ đến một nhân tố huyền bí làm động lực chung cho sự phát triển bền vững của toàn bộ khu vực.

Chúng ta có thể so sánh các giá trị văn hoá của hai khu vực để thấy rõ những đặc sắc của mỗi loại hình văn hoá (xem bảng dưới).

Trong so sánh với văn hoá châu Âu, văn hoá Đông Á hay văn hoá Nho giáo với tư cách tiền đề hội nhập và phát triển kinh tế đã thể hiện bản sắc của mình ở các đặc điểm chủ yếu sau:

- Coi trọng cộng đồng (cấu trúc tôn ty của xã hội Nho giáo)

- Coi trọng giáo dục và học tập (nhân bất học bất tri lý; ấu bất học, lão hà vi)

- Coi trọng tập trung quyền lực (chế độ gia trưởng và coi trọng chính phủ)

- Coi trọng các giá trị tinh thần (luân lý, đạo đức, tình cảm và thẩm mỹ)

Những đặc điểm này vừa là tiền đề tích cực, vừa là cản trở cho quá trình hội nhập và phát triển, nếu như chúng không được nhận thức và phát huy đúng đắn. Mặt tích cực thể hiện đặc biệt rõ ở các quốc gia tiên tiến Đông Á, cụ thể là:

1. Trong quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, người có truyền thống Nho giáo thường gắn bó mình với tập thể, coi mình là một thành tố (được qui định theo tôn ti) trong tập thể gia đình, nhà trường và trong các hiệp hội nghề nghiệp. Nhiều khi biết hy sinh quyền lợi của bản thân cho tập thể hay để bảo vệ cộng đồng.

2. Về thiết chế xã hội, do coi trọng luân lý đạo đức và danh dự, nên người ta thường tôn trọng người ở ngôi vị cao, người lãnh đạo và người chủ gia đình. Ai cũng có thái độ khiêm cung trước những đối tượng trên. Do đó người ta thường túc mệnh, quí trọng tình cảm, tình thân. Sự tin cậy và quí trọng về tình cảm riêng tư này khiến người ta dễ tiếp xúc và cộng tác làm ăn với nhau, thậm chí đôi khi còn không tính đến cả sự thiệt về mình.

3. Về quan niệm giá trị, cốt yếu là ở tập thể, ở cộng đồng, cho nên người ta tôn trọng lợi ích và các thói quen của tập thể, giữ mối quan hệ ràng buộc với tập thể, không muốn mình bị tập thể xa rời vì những hành động và ý kiến riêng. Tóm lại là không thích khác người. Đặc biệt là những người cùng một tập thể không thích tranh luận gay gắt đối lập nhau, lại càng không thích chỉ trích phê bình công khai.

4. Vì coi trọng tình cảm, người ta không chỉ cộng tác làm ăn với nhau vì lợi, mà còn vì hợp tính tình của nhau, không nỡ “cạn tàu ráo máng” với nhau. Một người lãnh đạo cũng có thể ra được những quyết định tốt vì thấy quyết định đó giúp cho được một số người nào đó đáng thương hay gặp khó khăn. Trong những khâu dễ vướng mắc nhất của kinh tế thị trường, người ta sẽ vượt qua được nếu biết cách nhẫn nại tiếp cận và có tình cảm với những người có khả năng quyết định. Đặc điểm văn hoá đồng nhất này giải thích vì sao các doanh nghiệp Hàn Quốc hay Singapore, Đài Loan dễ tìm được cơ hội đầu tư và làm ăn ở Việt Nam so với các doanh nghiệp Đức hay nhiều nước châu Âu khác.

Còn mặt tiêu cực của những đặc điểm này biểu hiện như sau:

1. Quan hệ cá nhân - tập thể: Cái tiêu cực điển hình của ý thức tôn trọng tập thể là cá nhân không muốn mình khác mọi người, tập thể không thừa nhận sáng kiến cũng như quan điểm của cá nhân. Mặt khác, một người (trước hết là người lãnh đạo) có thể nhân danh tập thể để làm thiệt hại đến một hoặc những người khác đối lập. Thứ đến, một người có thể ỷ vào tập thể mà thoái thác trách nhiệm cá nhân, thậm chí ỷ lại vào tập thể. Điều này trong kinh tế sẽ làm sụp đổ cơ chế kinh tế tập thể.

2. Về thiết chế xã hội: Một xã hội nếu chủ yếu dựa vào đạo đức và luân lý, mà không dựa vào công lý, luật pháp, hiệp định, thì xã hội đó dễ đi đến thiếu công bằng, thiên vị và chủ nghĩa cá nhân thao túng và có thể đi đến một hiện tượng đạo đức giả.

3. Về quan niệm giá trị: Nếu lấy tập thể làm trung tâm, thì dễ dẫn đến phủ định ý kiến cá nhân, lối sống cá nhân, sáng kiến cá nhân. Có khi đi đến bỏ sót những sáng tạo và cải cách do cá nhân xuất sắc đề xuất, và tập thể chỉ còn lại là một thiết chế với một giá trị mờ nhạt, bảo thủ, không phù hợp với đà tiến của xã hội và nhân loại. Từ đó suy rộng ra có thể đưa đất nước đến sụp đổ khi bị nước ngoài tấn công. Mặt khác, nếu chỉ biết đặt giá trị ở sự hy sinh của bản thân cho gia đình và cộng đồng, thì một cá nhân có thể bị trói buộc quẩn quanh với môi trường nhỏ hẹp, không dám dứt ra để đi theo một lý tưởng riêng hay sống theo một cách riêng. Ví dụ có người vì thương các em nhỏ thất học mà phải bỏ học giữa chừng để đi làm, mặc dù anh ta thông minh và khoẻ mạnh hơn các em mình nhiều, mà nếu được học, anh ta sẽ trở thành một người hữu ích lớn cho xã hội.

4. Về khuynh hướng tâm lý: Sự tuân mệnh mù quáng thiếu lý trí có thể dẫn đến hậu quả làm hại tập thể, hại bản thân mình; vì thân tình nể nang mà dẫn đến quyết định vô nguyên tắc trong nhân sự và kinh tế, tổn hại đến lợi ích nhà nước và tập thể, vì “lễ nhiều nói ngọt lòng nào chẳng siêu”; vì ngại tổn hại đến thanh danh tập thể hay gia đình, người ta không dám phê bình, nhất là lãnh đạo, đương nhiên không muốn bị phê bình, dẫn đến cảnh bưng bít, bằng mặt không bằng lòng.

Đây chính là những cản trở chính trên con đường hội nhập quốc tế của Việt Nam xét ở góc độ văn hoá.

Từ lược đồ phương pháp luận mà nhìn thì chúng ta phải xem bản sắc văn hoá ở Đông Á bao gồm 4 yếu tố hay 4 cấp hệ và quan hệ giữa chúng với nhau. Đó là:

- Bản sắc bao trùm toàn khu vực (metaidentity)

- Bản sắc văn hoá của từng dân tộc (national character) hay là tính đa dạng văn hoá

- Bản sắc văn hoá của từng vùng trong lãnh thổ quốc gia (regional character)

- Bản sắc văn hoá đó được lĩnh hội như thế nào ngoài ranh giới khu vực và sau đó được tiếp nhận trở lại như thế nào (cultural transformation) (4, tr.35).

3. Văn hoá Việt Nam với tư cách tiền đề cho hội nhập quốc tế

Những tác động tích cực và tiêu cực của hội nhập và toàn cầu hoá khiến nảy sinh vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, một sự nghiệp mà Việt Nam đã tiến hành bằng những chiến lược hiệu quả và được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân. Từ bắt đầu công cuộc đổi mới, đời sống văn hoá truyền thống nước nhà đã được phục hưng với nhiều kết quả tích cực.

Trong lịch sử nghìn năm của dân tộc, đặc biệt là quá trình đổi mới, phát triển kinh tế và hội nhập từ hai mươi năm qua, yếu tố văn hoá truyền thống, tố chất con người Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng, xét cả về mặt tích cực và tiêu cực. Tính tích cực thể hiện ở những điểm sau đây:

- Tính năng động và sáng tạo cá nhân rất cao;

- Sự cởi mở, thân thiện và mềm dẻo trong quan hệ con người và quan hệ đối ngoại;

- Sự tinh tế, khéo léo và uyển chuyển của tư duy cũng như của đôi tay ở trình độ hiếm có trên thế giới, thể hiện ở các sản phẩm độc đáo, nhất là về thủ công mỹ nghệ, ở khả năng thương lượng và linh hoạt về giá cả sản phẩm...;

- Khả năng tiếp thu và “bắt chước” rất nhanh;

- Tính cộng đồng hay chủ nghĩa tập thể cao, thể hiện ở việc hình thành các “làng nghề”, các “phố nghề” - theo cả nghĩa tích cực và tiêu cực...

Tuy nhiên tố chất văn hoá Việt Nam cũng có những mặt tiêu cực, ảnh hưởng đến quá trình phát triển và hội nhập như phần trên chúng tôi đã phân tích. ở đây cần tái khẳng định và nhấn mạnh các nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực sau đây:

- Tính thiếu chuẩn mực, thiếu nhất quán, thiếu kiên trì các tiêu chí và theo đuổi đến cùng mục tiêu của mình;

- Tính kỷ luật và ý thức pháp luật thấp, dẫn đến cẩu thả trong ký kết và thực hiện hợp đồng;

- Quá chú trọng đến chủ nghĩa cộng đồng, dựa vào cộng đồng, do đó không dám có tư tưởng cách tân, thoát khỏi lề thói cũ;

- Cá nhân quá coi trọng thể diện của mình, nghĩa là mắc “bệnh sĩ”, do đó không dám nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận sự thật yếu kém của mình, chỉ ưa những lời nói khen nịnh êm tai;

- Ít có khả năng tổ chức thực thi sản xuất và kinh doanh ở qui mô lớn cho cùng loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường;

- Tính cạnh tranh tích cực / cạnh tranh lành mạnh kém.

Để văn hoá Việt Nam có thể làm tốt chức năng tiền đề cho hội nhập kinh tế vào khu vực Đông á và toàn cầu trong khi vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, cần phải thực hiện nhiều biện pháp:

- Cải cách khẩn trương và căn bản hệ thống đào tạo đại học nhằm đạt đến trình độ quốc tế của nguồn nhân lực cho một nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hoá;

- Đẩy mạnh đào tạo và giao tiếp bằng một vài ngoại ngữ phổ biến như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc; tiếp thu các vốn từ quốc tế còn yếu, trong khi vẫn tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt;

- Đi lại và giao lưu tự do về du lịch trong khu vực và toàn cầu;

- Tăng cường mở cửa tự do tìm chỗ học cho thanh thiếu niên, tìm việc làm cho người lao động và chỗ cư trú ở tất cả các nước, không kể chênh lệch về mức sống giữa các quốc gia;

- Thay đổi và nâng cao tiêu dùng của cư dân theo hướng “hiện đại hoá” trong khi vẫn giữ truyền thống giản dị, tiết kiệm;

- Có các chính sách hỗ trợ sự hoà nhập của các quốc gia có trình độ thấp trong khu vực Đông á về kinh tế và quản lý xã hội.

Tóm lại, để đạt được sự hội nhập thành công trong bối cảnh toàn cầu hoá, thì sự hội nhập văn hoá luôn là một điều kiện thúc đẩy và chính nó ngược lại cũng chịu tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá. Mặt khác, chúng ta phải chú ý đến tác động tiêu cực của văn hoá đối với quá trình hội nhập của mình và lại phải có biện pháp ứng phó tích cực truớc xu thế “Tây hoá” ngày càng mạnh mẽ hiện nay. Qui luật chung của giá trị văn hoá là, yếu tố nào đó chỉ có thể tồn tại, một khi nó đóng một vai trò riêng đặc sắc trong toàn hệ thống. Nói theo cách, tính đặc sắc văn hoá là điều kiện giúp cho hội nhập nhanh hơn và có hiệu quả hơn.

Tài liệu tham khảo

1. Bàn về cạnh tranh toàn cầu / Bạch Thụ Cường (bản dịch của Trần Khang).- H.: Thông tấn.- 2002.

2. The Limits of the Global Village: Globalisation, Nation and the State / Buendia H. G. / The National University, World Institute for the Development Economics Research, World Development Studies 5. Helsinki.- 1995

3. Globalisation, Competitiveness and Human Security: Challenges for Development Policy and Institutional Change / O’Neill H. / In: Kay C. (ed.)(1997): Globalisation, Competitiveness and Human Security. Frank Cass and Co. Ltd.- 1997.

4. Soziologie Lexikon / Reinhld G. (hrsg.).- Munchen und Wien.- 1997.

5. Kulturwissenschaft im Zeitalter der Globalisierung / Gernt H. - Munchen. - 2002.

6. Qu yu jing ji xue / He Shou Yi, An Long Seng (chủ biên).- Bei Jing.- 2001.

7. Toàn cầu hoá với các nước đang phát triển / Hemmer H. (bản dịch của Khoa Quốc tế học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH quốc gia Hà Nội).- H.: ĐH quốc gia.- 2002.

8.Issuses and Methods in Comparative Politics / Landmann T.- London and New York.- 2002.

9. Nhân tố văn hoá trong tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá. Trường hợp Liên minh châu Âu/ Lương Văn Kế / Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tháng 6, 2002.

10. Đặc trưng văn hoá châu Âu và biểu hiện của nó trong văn hoá Đức / Lương Văn Kế / Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tháng 6, 2003.

11. Phác thảo chân dung đời sống văn hoá Đức đương đại/ Lương Văn Kế.- H.- ĐH quốc gia.- 2004.

12. Đông Á - xã hội biến cách / Lý Văn.- Bắc Kinh.- 2003.13. Kulturelle Identitt im Zeitalter der globalen Medienkultur. In: Kultur, Identitọt, Europa / Muller-Doohm S. (hrsg) von Reinhold Viehoff und Rien T. Segers.- Frankfurt am Main.- 1999.

14.Die Kontruktion Europas. Uberlegungen zum Problem der Kultur in Europa / Segers R. T. und Reinhold Viehoff R. / In: Kultur, Identitat, Europa. Hrsg. von Reinhold Viehoff und Rien T. Segers.- Frankfurt am Main.- 1999.

15. Sozialisation im Kulturvergleich / Trommsdorff G.- Stuttgart. -1989.

16.Informal Ecounter on International Governance: Trade in a Globalizing World Economy / UNCTAD.- Jakarta, 19 - 20 June.- 1991.

LƯƠNG VĂN KẾ