Trang nhà > Văn chương > Cổ học > Về bài thơ cần trả lại H.X. Hương

Về bài thơ cần trả lại H.X. Hương

Thứ Ba 27, Tháng Hai 2007

Đồng tiền hoẻn (1)

Cũng lò, cũng bễ cũng be than
Mở mặt vuông tròn với thế gian
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn
Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan (2)

1. Theo Từ điển Taberd (1838), tiền hoẻn để chỉ đồng tiền nhỏ và mỏng, nghĩa là tiền đã mòn vì dùng quá nhiều, giống như thân phận người phụ nữ đã qua tay nhiều người nên hình hài chẳng còn gì. Hình ảnh bà đã từng “vẽ” trong thơ: Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn. Luồng gió thông reo vỗ phập phòm (Hang Cắc cớ). Với nghĩa thực được hiểu là tiền kẽm (đơn vị nhỏ nhất trong tiền tệ Việt Nam thời xưa).

2. Quan: Tức quan tiền, là đơn vị tiền lớn thông dụng, gồm 10 tiền, mà một tiền là 6 đồng tiền kẽm, nên một quan bằng 60 đồng tiền kẽm xâu lại, cũng là một thứ quan lại bỉ ổi, xấu xa mà Hồ Xuân Hương ám chỉ.

Phần văn bản mới phát hiện không có bài này, còn trong: Hồ Xuân Hương, thơ và đời (Nxb Văn Học 1995) lại nằm trong dạng nghi án văn học. Đề rõ là: Thơ ấy của ai ? Cố thi sĩ Xuân Diệu nhận định: Bài này không phải hơi thở của Xuân Hương nên để ra một bên (trang 53, sách Hồ Xuân Hương - bà chúa thơ Nôm. Nxb Phổ Thông 1962). Bản này tác giả lấy lại từ tập Hồ Xuân Hương thơ và đời, có thay chữ “cùng” bằng chữ “be” cho câu thơ sáng nghĩa hơn.

Hai câu đầu giới thiệu về nguồn gốc xuất xứ của đồng tiền:

Cũng lò, cũng bễ cũng be than
Mở mặt vuông tròn với thế gian

Ca dao xưa từng đúc kết:

Đẹp như tiên không tiền cũng dại
Xấu như cóc, có thóc cũng sang

Hoặc:

Đồng tiền không phấn không hồ
Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt người

Danh giá, tước vị của con người phụ thuộc hoàn toàn vào đồng tiền, cứ có tiền là thành kẻ khôn ngoan lọc lõi, mũ cao áo dài, được ánh hào quang của đồng tiền tô điểm càng thêm sự đẹp đẽ, oai nghi.

Thời chúa Trịnh trị vì, để tăng ngân khố Quốc gia, triều đình đã ban hành lệ thi cử, quan trường riêng. Chỉ một nghìn quan, tức sáu mươi nghìn đồng tiền kẽm là được bổ làm quan tri huyện, tha hồ bóp nặn, nhũng nhiễu dân lành. Ngược lại với sự : Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan này là sự quẫn bách khốn cùng của dân chúng. Như đồng tiền hoẻn vậy, tuy cùng nguồn gốc sinh ra (Cũng nòi, cũng giống, cũng mẹ cha. Mở mắt oa oa giữa cõi đời) song đã sớm có sự phân hoá giàu nghèo. Có nên quan hay suốt đời mang tiếng hoẻn phụ thuộc vào sự kém cạnh hay đủ đồng. Kẻ lên xe xuống ngựa : Mở mặt vuông tròn với thế gian. Kẻ đầu tắt mặt tối: Méo mặt, tủi sầu với thế gian.

Vịnh mặt sấp của đồng tiền, bà ví: Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn. Sinh ra là phận thấp hèn, chỉ dùng cho những con người lao động nghèo nàn nên không được định vị, ấm thân lâu dài ở đâu mà chuyên tay quá nhiều người, nhiều cửa, đến mức bị mòn vẹt, sứt sát, nham nhở các góc cạnh... Người con gái nghèo, sa vào vũng lầy tình ái, kiếm sống bằng sự suy đồi đạo đức của lũ khách ăn sương cũng vậy: Họp chợ trên bụng hàng trăm con người. Nay ở cửa nhà này, mai đã bị đưa sang cửa nhà khác, hoen ố cả về danh dự, thể xác... Đồng tiền mang tiếng hoẻn, còn cô gái “bán hoa” này thì nhớp nhúa, ô danh. Cái lỗ của đồng tiền hoẻn cũng như cái lỗ trên cơ thể ả đàn bà, con gái này đã bị chuyên tay sử dụng đến trơ toen hoẻn. Thật đáng thương mà cũng đáng giận biết bao ?

Rõ là thơ Hồ Xuân Hương, hơi thở của Hồ Xuân Hương rồi... sao cố thi sĩ Xuân Diệu- người tôn bà lên địa vị bà chúa thơ Nôm - một trong ba đại thi Hào của Việt Nam (gồm Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương) lại bỏ ra? Còn các tác giả khác, cũng theo cách nhận định của bậc tiên chỉ làng thơ mà nghi vấn thơ bà, nên khi tuyển chọn đã có ý né tránh. Việc này ắt sẽ còn gây nhiều tranh cãi lắm đây.

Dù sao, sau nhiều lần suy xét, đắn đo, tác giả mạnh dạn đưa bài này trở lại mảng thơ bà, cho dù đã gần 300 năm trôi qua, không biết có phải là kẻ chậm hiểu hay vẫn bị coi là cố tình hiểu sai không ? Xin các bậc lão làng và các bậc đàn anh chỉ giáo.

T.K.T.Thuỷ, Hà Nội giáp xuân Đinh Hợi