Xem lẹ

Trang nhà > Giáo dục > Đào tạo > Vị hiệu trưởng từ chối học hàm phó giáo sư

Vị hiệu trưởng từ chối học hàm phó giáo sư

Thứ Bảy 26, Tháng Chín 2015

Hoàng Ngọc Hiến (1930-2011), là nhà lý luận phê bình, và là dịch giả văn học Việt Nam đương đại, nguyên hiệu trưởng Trường viết văn Nguyễn Du. Ông có các học trò là nhà văn, nhà thơ đã thành danh như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Tạo...

Nhà văn Văn Chinh, một học trò của ông cho biết: “Công chúng văn học biết đến Hoàng Ngọc Hiến là một giáo sư, tác giả của thuật ngữ “hiện thực phải đạo”, nhưng thực ra chưa bao giờ ông nhận học hàm này. Có lần người ta định đề nghị Nhà nước phong hàm Phó giáo sư, ông đã nhã nhặn từ chối. Tuy nhiên, giới đại học có lối thoát của mình, và họ đơn giản gọi ông là “thầy Hiến”.

TS Chu Văn Sơn (giảng viên khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng cho rằng “Hoàng Ngọc Hiến là một học giả có cỡ, nên nhiều người vẫn cứ băn khoăn vì sao ông Hiến không có những học hàm như Giáo sư, danh vị như Nhà giáo nhân dân gióng bao nhiêu vị khác. Ông chỉ có một học vị duy nhất là Tiến sĩ, thực ra là Phó Tiến sĩ bảo vệ ở Nga hồi còn Liên Xô. Mà thấy ông chả có vẻ sốt ruột hay bất mãn gì. Lúc nào ông cũng thản nhiên dù quanh ông người ta cứ nhao lên, nhộn nhạo lên với những danh này vị nọ. Có lần tôi đã hỏi, thì ông cũng chả giấu giếm gì: Điều mình tâm đắc và lấy làm phương châm sống suốt đời là ý tưởng ở câu cuối cùng trong Đạo đức kinh của Lão Tử “Thánh nhân chi đạo vi nhi bất tranh”. Đạo của thánh nhân là làm mà không tranh giành với ai”.

TS Chu Văn Sơn chia sẻ một câu chuyện thú vị: “Nhưng quả là cuộc đời này có những công bằng riêng của nó. Nó vẫn luôn biết ai là ai. Lần vị hiệu trưởng trường Nguyễn Du là Huỳnh Khái Vinh được phong học hàm giáo sư đã diễn ra một việc thú vị. Đám học viên Nguyễn Du hồi ấy toàn những cây bút, những nhà văn đã thành danh cả. Họ đã chuẩn bị sẵn hai bó hoa để chúc mừng.

Khi lễ mừng tặng diễn ra, họ đã mời cả Huỳnh Khái Vinh và Hoàng Ngọc Hiến cùng lên sân khấu. Vị đại diện tặng hoa cho thầy Vinh trước với lời chúc mừng “Đây là vị giáo sư do Nhà nước phong”. Rồi quay sang tặng hoa và ôm hôn thầy Hiến thật hoan hỉ “Đây là vị giáo sư do nhân dân phong”. Cả hội trường vỗ tay ầm ĩ. Thầy Vinh ôm hôn thầy Hiến đầy phấn khích. Còn thầy Hiến sau một phút ngỡ ngàng, vẻ vẫn rất thản nhiên. Lạ hơn, bây giờ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mỗi khi giới thiệu ông, bao giờ người ta cũng cứ kèm danh vị giáo sư. Công chúng chẳng ai ngạc nhiên”.

Ấn tượng người thầy

Với học trò là những người của văn thơ, chữ nghĩa, thầy Hiến có phong cách giảng dạy cũng như gây dựng được mối quan hệ thầy trò rất đặc biệt, mà những học trò của ông không thể quên.

Nhà thơ Dương Thuấn nhớ lại: “Khi còn học ở Trường viết văn Nguyễn Du, thường vào các tối thứ bảy bọn tôi lại mời thầy đến uống rượu và hỏi thầy về chuyện văn chương. Thầy rất nhiệt tình, lần nào mời thầy cũng đến và kể rất nhiều chuyện vui. Chúng tôi hỏi thầy và thầy cũng hỏi chúng tôi rất nhiều chuyện. Nhiều hôm thầy trò thức đến tận khuya. Thầy cho rằng đã vào học trường Nguyễn Du thì bao giờ cũng là người tử tế và đứng đắn (đứng đắn theo quan niệm của thầy). Có một lần nghe gõ cửa, tôi mở cửa phòng ra mời thầy vào. Thấy tôi có khách là một cô gái trẻ trung, thầy hỏi một câu rất thi sĩ “Cậu đang làm thơ đấy à!”. Rồi thì thầy về luôn và hẹn tôi sẽ gặp vào lúc khác”.

Nhà văn Dạ Ngân thì lại nhớ “Thầy đã từng nói ở đâu đó rằng có hai loại người trong giới khoa học như động vật và thực vật, “loại động vật suốt ngày lăng xăng chụp từ đề tài này sang đề tài khác, dù thông minh cũng chỉ có ý kiến loe lóe thế thôi, chẳng nên sự nghiệp gì. Loại thực vật ngồi yên kiên trì suy nghĩ, như cái cây cắm rễ xuống đất sâu và tỏa bóng”.

Nhà văn này cũng cho biết những cua giảng của thầy không dài, gần với tư cách phụ đạo hơn. “Dáng ngồi thẳng, mắt sáng, giọng khàn đặc sắc. Thầy hay đan những ngón tay vào nhau trên bàn và tôi thích nhìn hai ngón tay cái của thầy động đậy, ở chúng là nội lực, trăn trở và phát tiết. Thầy là một trong những người chuẩn bị rất kỹ bài giảng khi lên lớp. Thầy là người hay có ý tưởng khác người, nên thầy muốn ý tưởng của mình phải thật sáng rõ, rành mạch, gây ấn tượng và có sức thuyết phục.”

Nhà thơ Hữu Thỉnh thì nhận xét “Phong cách sư phạm nổi tiếng của thầy Hiến là biến bục giảng thành diễn đàn, thay độc thoại bằng đối thoại. Phương pháp mở ấy là những cải cách đầu tiên theo xu thế hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà. Phương pháp đó dựa trên căn cứ duy nhất: Đánh thức tính trội của học sinh”.

Một người bạn thân thiết của thầy Hiến – là GS Nguyễn Đăng Mạnh – cũng có ấn tượng mạnh mẽ về phong cách giảng bài của bạn mình: “Anh không chỉ lo lắng tạo văn bản mà còn coi trọng chuẩn bị ngôn bản nữa, nghĩa là bài nói, bài phát biểu miệng. Cho nên trong giảng dạy, anh chuẩn bị bài giảng rất kỹ. Tôi đã dự một số giờ lên lớp của anh nên thấy như thế. Hóa ra Hiến còn là một nhà sư phạm mẫu mực. Anh cố gắng giảng dạy cho sinh viên hiểu được chính xác những điều mình hiểu, dù đó là những vấn đề học thuật phức tạp”.

Kỷ niệm mà GS Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến, cũng giải thích được tại sao thầy Hiến có những giờ giảng thu hút học sinh đếm thế: “Nhớ có lần chúng tôi cùng dự một cuộc hội thảo khoa học ở Hà Nội. Hiến phát biểu rất hùng hồn, khẩu chiến rất đanh thép. Buổi trưa, anh rủ tôi về nhà anh ăn cơm. Anh hỏi: “Sao, cậu thấy mình phát biểu có được không?”. Tôi khen: “Khá lắm!”. Chị Tố Nga nói: “Lẩm bẩm suốt đêm, làm gì mà không khá”. Hóa ra Hiến không chỉ chuẩn bị ý, chuẩn bị lời, mà còn luyện nói nữa”.

Giờ giảng cuối cùng

Nhà văn Văn Giá nhớ về giờ giảng cuối cùng của thầy Hiến tại Trường ĐH Văn hóa Hà Nội: Đó là ngày 10/11/2010. Buổi học tan muộn, dễ đến 12h kém. Cả lớp, thầy trò trong khoa và một số người đến dự im phăng phắc nghe thầy. Một trong những vấn đề được thầy Hoàng Ngọc Hiến trở đi trở lại trong bài giảng chuyên đề lần này là vấn đề chăm lo giáo dục – hiểu theo nghĩa chiến lược tổng thể, tức là chăm lo con người.

Thầy Hiến luận giải: “Vấn đề của thời đại chúng ta hôm nay thật đơn giản, đó là thực hành cái Thiện. Minh triết là lặng lẽ sống với cái Thiện bằng ứng xử, bằng việc làm của mình. Trong mối quan hệ giữa BIẾT và LÀM, thì với minh triết là LÀM, mặc dù BIẾT rất cần. Hồ chủ tịch từng nói: “Học để làm việc, học để làm người, học để làm cán bộ”. Vậy là, ông Hồ nhấn mạnh việc học để hướng tới 3 cái LÀM, chứ không dừng lại ở BIẾT. Theo tôi, toàn bộ nền giáo dục Việt Nam hiện nay chỉ hướng tới việc để BIẾT thôi… Cụ Ngô Thì Sĩ (1740 – 1786) cho rằng “Đem đạo Thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo lý đời thường để cảm hóa lòng người”. Cái vế sau của câu này hết sức quan trọng đối với ngành giáo dục…”.

TS Chu Văn Sơn viết “Ai đọc Hoàng Ngọc Hiến cũng thấy ở ông cái sở thích đối lập. Lối đối lập này dần lâu dường đã trở thành một thứ thương hiệu Hoàng Ngọc Hiến. Nhiều trường hợp ông đưa ra những đối chọi chữ nghĩa khiến chúng cũng ánh lên những tia sáng triết luận triết lý bất ngờ nào đó”.

“Một mâu thuẫn oái oăm trong “cõi người ta” là mâu thuẫn giữa “có” và “là”. Có thể có vợ, nhưng không là một người chồng, có thể có con nhưng không là một người cha, có thể có học hàm nhưng không là một người thầy, có thể có học vị nhưng không là một trí thức… có thể có tất cả nhưng không là một gì cả".

VE, Ngân Anh tổng hợp
(từ những bài viết tham gia tọa đàm "Hoàng Ngọc Hiến - Triết lý văn hóa và triết luận văn chương")