Trang nhà > Giáo dục > Đào tạo > Vì sao Đại học tư thục mang tiếng kém chất lượng?

Vì sao Đại học tư thục mang tiếng kém chất lượng?

Thứ Ba 8, Tháng Giêng 2013

Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, năm học 2001-2002 mới có 168 trường ĐH-CĐ công lập, dạy tổng cộng 873 ngàn sinh viên, thì con số này năm học 2011-2012 tăng lên thành 336 trường ĐH-CĐ công và đang dạy 1,873 triệu sinh viên. Trường tư "chết" là điều hoàn toàn có thể xảy ra, do không có sinh viên, kéo theo không còn đủ sức đầu tư, hoặc sẽ trở thành một dạng trường công phục vụ xã hội khi tài sản chung không thuộc nhà đầu tư trong trường tư cứ to dần hàng năm.

Ai cũng thấy rằng, cơ chế hiện nay là các trường đại học cao đẳng (ĐH-CĐ) công lập, ngoài học phí thu từ sinh viên còn được ngân sách nhà nước cấp kinh phí. Khi hai hệ thống trường công và trường tư cùng hoạt động, thách thức lớn các trường tư phải đối mặt là: Nếu thu học phí như mức thu của trường công thì phải chấp nhận chất lượng đào tạo thấp hơn, do trường công nhờ “bù giá” cho nên suất đầu tư/ sinh viên cao hơn. Còn nếu chất lượng đào tạo đạt mức như trường công thì phải đảm bảo suất đầu tư/ sinh viên như trường công, và do không được ngân sách nhà nước cấp tiền nên học phí sẽ cao hơn. Vì thế mà các trường tư đang hoạt động trong một cơ chế khắc nghiệt: “Cùng giá thì chất tồi hơn, cùng chất thì giá cao hơn”. Cơ chế này nếu áp dụng cho các lĩnh vực kinh tế khác thì chắc không có ngành kinh tế tư nhân nào sống nổi.

Trong quá khứ, các trường tư vẫn sống và phát triển được là nhờ chênh lệch cung cầu khi khả năng đáp ứng của hệ thống các trường ĐH-CĐ thấp hơn nhu cầu học của xã hội. Đến nay, khi cung cầu đã cân bằng, thậm chí cung vượt cầu thì cơ chế khắc nghiệt này phát huy sức mạnh mang tính hủy diệt. Cũng đúng thôi, khi ngoài việc không được “bù giá” như trường công, nhiều trường tư trong một thời gian dài hoạt động như cái bóng của trường công, khi chương trình và cách thức đào tạo sao chép từ trường công, giảng viên đa số là từ trường công chuyển sang hoặc thỉnh giảng và lãnh đạo trường tư cũng đa phần là cán bộ quản lý trường công nghỉ hưu.

Năm 2012, Bộ GD-ĐT cho phép các trường được tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Chỉ cần lấy số liệu chỉ tiêu đào tạo ĐH-CĐ chính quy của tất cả các trường công cộng lại (trong cuốn Những điều cần biết về tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2012) thì sẽ có một con số ấn tượng: Trên nửa triệu chỉ tiêu chính quy 2012 là thuộc về các trường công lập – chính xác là 504,074 chỉ tiêu.

Để hình dung con số này lớn thế nào, có thể tham khảo số liệu sau: Tổng số sinh viên ĐH-CĐ năm 2009 (cả công và tư) được Quốc hội duyệt là 502 ngàn. Như vậy là chỉ tiêu của khối các trường công năm 2012 đã vượt tổng chỉ tiêu cả nước năm 2009, miếng bánh dành riêng cho các trường công năm 2012 đã phình ra to hơn cả nguyên cái bánh tuyển sinh 2009.

Có thể tham khảo từ một số liệu nữa: Mỗi năm có khoảng trên 900 ngàn thí sinh học hết lớp 12 thi tốt nghiệp phổ thông. Ngoài chỉ tiêu ĐH-CĐ chính quy 504 ngàn của các trường công, “nồi cơm tại chức” cũng được các trường công tận dụng, bằng khoảng 50% chỉ tiêu chính quy, tức khoảng 250 ngàn nữa. Cộng thêm khoảng 150 ngàn chỉ tiêu cho hệ thống cao đẳng nghề của các trường công thì đã tương đương con số học sinh phổ thông dự thi tốt nghiệp hàng năm. Đấy là còn chưa tính đến số sinh viên học các hệ liên kết quốc tế, số thí sinh đi du học nước ngoài…

Với con số chỉ tiêu trường công như vậy - không có gì ngạc nhiên khi không chỉ trường tư bị chi phối bởi “quy luật khắc nghiệt” và mang tiếng “chất lượng kém” khó tuyển sinh – mà ngay cả một số trường công chiếu dưới cũng đang thiếu đầu vào. Ta nhìn thấy sự "hà khắc" rất rõ khi các trường công không phải nộp thuế, còn để được nộp thuế ưu đãi thì các trường tư phải đảm bảo 55m2 đất/ sinh viên, tức có 1 ha đất chỉ được dạy tối đa 200 sinh viên. Các trường công thì vô tư hoạt động với diện tích đất chật chội – đặc biệt các trường trong nội thành Hà Nội và TPHCM. Hàng loạt trường tư bị đình chỉ tuyển sinh vì chưa đầu tư xây dựng trường sở, và bị đe dọa sẽ đóng cửa nếu không cải thiện được tình hình. Còn ở chiều ngược lại, nhiều năm qua, ĐH Quốc gia HN không xây được cơ sở tại Hòa Lạc thì không ảnh hưởng đến hoạt động của trường công nào.

Khi các trường tư ra đời, để được phép giảng dạy thì phải làm thủ tục mở ngành với các quy định mang tính “đánh đố” – đặc biệt là yêu cầu là phải có sẵn số giảng viên cơ hữu đã ký hợp đồng, trả lương, nộp bảo hiểm trước khi giảng dạy vài năm (Bộ GD-ĐT quy định khi nộp hồ sơ xin mở ngành – thường là trước khi tuyển sinh 1 năm – trường phải có đủ số giảng viên cơ hữu dạy ít nhất 70% chương trình, mỗi giảng viên cơ hữu chỉ được dạy một môn, do vậy nhiều giảng viên sẽ phải được tuyển dụng và nhận lương để 3-4 năm nữa mới đến môn mình dạy!).

Hoàn thành sứ mệnh trong buổi lễ công bố Luật Giáo dục Đại học 2012, một quan chức cao cấp của Bộ GD-ĐT đã phát biểu: "Để tránh tình trạng một trường đại học nào đó muốn lợi dụng danh nghĩa phi lợi nhuận để mưu cầu lợi nhuận, luật quy định dành ít nhất 25% khoản thu để đầu tư phát triển trường. Phần này được miễn thuế. Phần còn lại, nếu phân phối cho các nhà đầu tư, sẽ phải nộp thuế theo quy định". Như vậy, sau vài chục năm hoạt động, trường tư cũng trở thành cơ sở phục vụ xã hội như trường công?

Trong sự rối ren ấy, cũng có thể thấy một điểm sáng, đó là Chính phủ đã xác định phương án phát triển hệ thống giáo dục đại học Việt nam bằng giải pháp nâng học phí trường công – xem đây là giải pháp xã hội hóa quan trọng, nhằm tính đúng, tính đủ chi phí cho trường công để nâng cao chất lượng đào tạo – với lộ trình 3 giai đoạn: Giai đoạn một đủ để chi lương, giai đoạn hai đủ để chi thêm các khoản chi thường xuyên, giai đoạn ba đủ để chi thêm cho khấu hao cơ sở vật chất.

Hiện nay các trường công đang đào tạo 86% sinh viên, và do chiếm tỷ lệ sinh viên áp đảo – chất lượng giáo dục đại học Việt nam do chính hệ thống các trường công quyết định. Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, năm học 2001-2002 mới có 168 trường ĐH-CĐ công lập, dạy tổng cộng 873 ngàn sinh viên, thì con số này năm học 2011-2012 tăng lên thành 336 trường ĐH-CĐ công và đang dạy 1,873 triệu sinh viên. Tương lai “chắc chắn chết” của các trường tư đã được vạch rõ. Hoặc chết do không có sinh viên, không đủ sức đầu tư, hoặc sẽ trở thành một dạng trường công phục vụ xã hội khi tài sản chung không thuộc nhà đầu tư trong trường tư cứ to dần hàng năm.

Song Minh (GDVN)