Trang nhà > Văn chương > Tạp bút > Vì sao nhà văn không sống được?

Vì sao nhà văn không sống được?

Thứ Ba 1, Tháng Mười Hai 2009

LTS: Ngay sau khi chuyên đề văn học “Ai sống trên lưng nhà văn” đến với bạn đọc, BBT nhận được nhiều phản hồi từ các nhà văn chia sẻ những bức xúc liên quan. Để rộng đường dư luận, chúng tôi tiếp tục giới thiệu góc nhìn của tác giả Bảo Anh, một nhà văn.

1. Việc bùng nổ các công ty truyền thông xuất bản là một điều tất yếu, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một phát triển của thị trường. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động đã xuất hiện một số công ty là làm ăn theo kiểu chụp giật, thấy lợi là làm, bất chấp những ứng xử “phải đạo” với đối tác của mình - chính là những người viết mà họ đang khai thác “chất xám”.

Nếu trước đây việc cộng tác giữa người viết với một đơn vị xuất bản được căn cứ trên cơ sở chữ tín, nhiều khi không cần một văn bản ký kết nào thì hiện nay các đơn vị làm sách tư nhân đã chuyên nghiệp hơn bằng các hợp đồng kinh tế. Cụ thể là đơn vị làm sách sẽ mua bản quyền của nhà văn A. trong thời hạn 3 hoặc 5 năm tuỳ theo từng trường hợp cụ thể. Hợp đồng là văn bản pháp lý để đôi bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Trong thời gian đó tác giả không được phép chuyển tác phẩm của mình sang đơn vị xuất bản khác. Còn bên đơn vị làm sách sẽ đảm bảo thông báo và trả bản quyền cho tác giả trong các lần tái bản. Sự ràng buộc này, nếu cả đôi bên cùng tuân thủ “luật chơi” thì không có gì đáng bàn.

Tuy nhiên điều đáng nói là trong quá trình hợp tác với công ty sách nọ hầu hết các tác giả đều ngã ngửa ra rằng cái hợp đồng 3 hoặc 5 năm kia thực chất là cái vòng kim cô bó trên đầu mình. Bởi lẽ dù biết mười mươi sách mình bán chạy, bị đơn vị làm sách in lậu với con số gấp 5 gấp, 10 so với hợp đồng kí kết nhưng họ lại không có đủ căn cứ về việc sai phạm này để kiện hay để đòi tiền bản quyền phát sinh. Vì nguồn tin họ có là do nhân viên công ty tiết lộ. Những nhân viên này liệu có ai dám đứng ra làm chứng để bảo vệ cho tác giả? Những cơ sở in ấn sách cho các công ty này là những chân rết của họ, vậy liệu ai dám đứng ra thừa nhận việc làm sai trái kia? Như vậy khác gì họ đang tự hất đổ nồi cơm của chính mình?

Và như vậy, trong thời hạn 3 hoặc 5 năm đó, các tác giả cay đắng ôm bản hợp đồng trong tay, nhìn tiền của mình bị mất, còn đơn vị làm sách thì lặp đi lặp lại điệp khúc: sách vẫn còn hơn 100 cuốn chưa bán được. Hai bên gặp lại nhau sau 5- 6 tháng, thì điệp khúc “sách vẫn còn hơn 100 cuốn” sẽ được lặp lại. Thậm chí, có trường hợp bên làm sách quên mất lần trước mình báo số lượng tồn đọng với tác giả là bao nhiêu nên sáng tác ra con số khác hoành tráng hơn: “vẫn còn hơn 200 cuốn”. Tác giả có thắc mắc thì cũng chỉ được đáp lại bằng cái lắc đầu kiên quyết: đúng là còn hơn 200 cuốn.

Và như vậy ba năm ròng cho một cuốn sách với số in trên bìa là 1000 hoặc 1.500 cuốn là “bản án” ấn định cho nhà văn kể từ khi họ ký kết vào bản hợp đồng!

2. Nhà văn B. kể: Sau khi cuốn sách của mình xuất bản được 3 tháng, giám đốc công ty sách gặp anh và cho biết: Sách bán được, sẽ tái bản. Sau đó anh có làm việc với bộ phận thư ký xuất bản của công ty và được xác nhận về việc sách bán tốt, chỉ cần giám đốc ra lệnh thì việc tái bản sẽ được tiến hành. Tuy nhiên sau 4 tháng, câu chuyện về việc tái bản sách không được tiếp tục bàn giữa đôi bên. Khi ra hiệu sách nhà văn B vẫn thấy sách mình bán tràn lan. Người bán sách xác nhận: Sách bán tốt. Có ngày bán hơn ba chục cuốn. Nhà văn B nhắc lại với công ty sách về chuyện tái bản thì được trả lời tỉnh queo: Sách ế lắm, vẫn còn hơn 200 cuốn.

Nhà văn B. chia sẻ câu chuyện của mình với một số bạn bè thì có người còn động viên theo tinh thần AQ: “sách có nhiều người đọc là tốt rồi”.

Sự bất nhất của những đơn vị làm sách ăn bám vào người viết còn thể hiện ở chỗ: một mặt họ kêu ca sách ế (dù số lượng in ghi trên bìa chỉ có 1000 - 1500 cuốn), kinh doanh chẳng có lãi, thế nhưng giám đốc và nhân viên đều thi nhau lên đời xe. Đã có nhà văn nhìn cảnh ấy mà nói vui: Thế thì mình cũng chuyển sang mở công ty sách!

Cuối năm có công ty sách còn thông báo rùm beng về việc bán hạ giá đặc biệt với một số cuốn sách. Điều ngạc nhiên là danh mục sách ế lại là những sách được PR tốt và bán tốt trong năm, đồng thời cũng là những tác giả được báo chí, dư luận nhắc đến nhiều... Có người lý giải: Họ thông báo “hạ giá đặc biệt” để chứng minh rằng sách còn ế, (và cũng mang tính chất trả đũa?)

Cũng một đầu sách của nhà văn C. in tại công ty Y. dù không PR, không “dư luận trên mặt báo” thì chỉ vài tháng sau khi xuất bản đã đường hoàng được tái bản 2000 cuốn, còn một cuốn khác PR rầm rộ, tạo dư luận tốt hơn khi in ở công ty X. lại bị xếp vào danh mục sách cần thanh lý.

Câu chuyện nực cười trên không thể lừa mị được bất kì ai, thế nhưng nó vẫn và đang tồn tại bởi một số công ty sống bám vào các nhà văn. Điều này góp phần lý giải tại sao nhà văn không thể sống được bằng ngòi bút của mình!

Bảo Anh (theo TTVH)