Trang nhà > Xã hội > Kinh tế > WTO và gì nữa?

WTO và gì nữa?

Thứ Hai 28, Tháng Giêng 2008

Theo cuộc thăm dò do Học viện Nghiên cứu Đài Loan tiến hành hồi tháng 10 - 2007 cho thấy, Việt Nam là một trong những nền kinh tế đang lên với tiềm năng lớn nhất thế giới.

Trong khi đó, ngân hàng HSBC nhận định rằng Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất châu Á. “Chúng tôi cho rằng, sự tăng trưởng này khá vững chắc và tương đối cân bằng”, nhà kinh tế học của HSBC, Prakriti Sofat nói với chúng tôi. HSBC ước tính, kinh tế Việt Nam trong năm 2007 đạt tỉ lệ tăng trưởng 8,7%. Trong khi đó, theo Tổng cục Thống kê, các lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng đã góp phần lớn vào tốc độ tăng trưởng này.

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đánh giá: đây là lần đầu tiên, tổng giá trị đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vào lĩnh vực kinh tế vượt qua giá trị đầu tư của Nhà nước.

Từ tháng 1 đến tháng 9 - 2007, đầu tư Nhà nước đạt 150,2 nghìn tỉ đồng (9,5 tỉ USD), tăng 6,9% so với năm trước và nước ngoài đầu tư tổng cộng 184,6 nghìn tỉ đồng, chiếm 47,7% tổng giá trị đầu tư. Ngân hàng Phát triển châu Á đã dự báo kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 8,3% trong năm nay. Trong khi đó, tại phiên họp Quốc hội cuối năm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng tăng trưởng năm 2007 có thể đạt từ 8,5 đến 9%.

Tuy vậy, là người trong cuộc, chúng ta phải có cái nhìn thực tế hơn khi tiếp cận từ phía những thách thức sau khi chúng ta mở toang các cánh cửa để hội nhập cùng nền kinh tế thế giới. Khi đó, VN sẽ không còn lý do nào để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực tiếp vào thị trường nội địa của Việt Nam.

Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn và sự thua thiệt phần lớn nằm về phía doanh nghiệp Việt Nam. Nỗi lo lắng của các nhà kinh doanh Việt Nam không phải là không có cơ sở. Ông Trần Kim Long, một doanh nhân trong lĩnh vực khách sạn, cho rằng khu trung tâm Sài Gòn rồi đây sẽ thuộc về các tập đoàn ngoại quốc, mặc dù không phải các doanh nghiệp Việt Nam quá yếu về vốn và kỹ thuật.

Theo ông Long, có hai yếu tố cần để doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được lợi thế khi đất nước họ đứng chung vào Tổ chức WTO. Đó là:

- Họ phải đoàn kết lại;
- Chính phủ phải tin tưởng họ nhiều hơn.

Nếu không, thì kinh tế Việt Nam sẽ phát triển nhưng mang trong mình nhiều yếu tố “rủi ro”. Những rủi ro tiêu biểu dưới đây gắn với các điều kiện bắt buộc của WTO.

Rủi ro khu vực quốc doanh

Tổ chức thương mại thế giới khi chấp nhận Việt Nam là thành viên, họ yêu cầu trước tiên là chúng ta phải minh bạch chi thu quốc gia. Chính vì vậy, lần đầu tiêu Chính phủ phải công khai số liệu chi thu năm 2005. Theo báo cáo tài chính này thì khu vực quốc doanh thua lỗ khá trầm trọng. Tổng số nợ của 16 doanh nghiệp quốc doanh hàng đầu là 47,000 tỷ đồng, tương đương với 80% tổng tài sản của các công ty (2005).

Cho đến nay đã có 3.830 công ty Nhà nước được cổ phần hóa, trong đó vốn Nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu tư ngoài doanh nghiệp 25%. Nhiều dấu hiệu cho thấy các công ty cổ phần hóa bắt đầu chú trọng kinh doanh có hiệu quả.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố mạnh mẽ là các công ty Nhà nước phải cổ phần 100% trong 5 năm tới. Nếu việc tái cấu trúc các công ty quốc doanh thành công thì đây sẽ là cơ sở bền vững của nền kinh tế tăng trưởng tốt như hiện nay.

Rủi ro tài chính ngân hàng

Một trong những thách thức lớn khi gia nhập WTO là chúng ta phải mở cửa ngân hàng. Trong 5 năm đầu sau khi gia nhập WTO, chúng ta phải cho nước ngoài đầu tư tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng. Mặc dù các ngân hàng ngoại quốc không chiếm đa số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng khuynh đảo thị trường tài chính bằng những kinh nghiệm "sương gió" trong môi trường cạnh tranh toàn cầu lâu năm.

Hiện nay, thị trường chứng khoán non yếu của Việt Nam cũng là một thách thức không nhỏ sau khi vào WTO. Các công ty và quỹ đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chi phối sự lên - xuống của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chính phủ đang nỗ lực kiểm soát thị trường, nhưng cánh cửa các quy định của WTO cũng không... rộng đủ cho Chính phủ áp đặt các quy chế kiểm soát của mình.

Rủi ro về vận chuyển hàng hóa

WTO cũng bắt buộc Việt Nam chúng ta đáp ứng được mọi khả năng vận chuyển hàng hóa hai chiều, xuất khẩu và nhập khẩu. Trong khi đó, tiềm lực về vận tải biển của chúng ta còn rất yếu. Theo số liệu thống kê, hiện nay chúng ta có khoảng 1.000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5 triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu hoạt động trên các tuyến đường quốc tế trong khu vực.

Bà Jenifer Tina, Giám đốc Công ty nhập khẩu đồ gỗ Hoa Kỳ, từng hủy bỏ đơn đặt hàng lên chục triệu USD năm 2006 chỉ vì không tìm đâu ra tàu và cảng với giá thích hợp.

Trong khi đó, Công ty vận tải APL (Mỹ) đang hoạt động tại Việt Nam đã nhanh chóng thích ứng. Từ năm 2004, APL đã thành lập thêm hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX) và Haiphong China Express (HCX). Thời gian vận chuyển hàng cũng rút ngắn đáng kể: từ Sài Gòn đến Seattle chỉ còn 15 ngày, và Sài Gòn đến Los Angeles là 17 ngày.

Cũng theo số liệu từ Bộ Giao thông Vận tải, năm 2005, đội tàu Việt Nam chỉ chiếm 7% số tấn trọng tải hàng hóa hai chiều mà thôi. Nhìn sang một nước nhỏ như Singapore, họ chỉ có 990 tàu nhưng tổng trọng tải đến 36,5 triệu tấn. Thậm chí, đội tàu của Campuchia đã vận chuyển gần 5 triệu tấn, hơn Việt Nam hàng triệu tấn.

Rủi ro... viễn thông

Việt Nam trở thành một thị trường ấn tượng của điện thoại với mức tăng 60 - 70%/ năm. Tính đến năm 2005, tổng số điện thoại di động thuê bao cả nước đạt được 12 triệu. Chính vì lý do đó, các hãng điện thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson, Telenor và Lucient Technologies đã nhảy vào cung cấp dịch vụ ở Việt Nam.

Việt Nam chậm chạp hơn, cho đến nay chỉ có 6 công ty quốc doanh mạng di động như Vinaphone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone, E-mobile, và Hanoi Telecom.

Hiện nay, các công ty điện thoại Việt Nam còn tạm tận dụng lợi thế sân nhà, nhưng sau 5 năm gia nhập WTO, khi các công ty ngoại quốc vượt qua "biên giới" 49% thì họ, với thế mạnh áp đảo về vốn và công nghệ, hoàn toàn có khả năng thôn tính các công ty điện thoại trong nước 100%.

Một chuyên gia kinh tế cũng cảnh báo: Việt Nam cần coi trọng phát triển mạng điện thoại cố định, mặc dù hiện nay điện thoại di động đang hái ra tiền. Nếu chúng ta không chú trọng hệ thống này (sử dụng cáp quang) thì có nguy cơ mất chủ động khi có khủng hoảng như chiến tranh hay áp lực quốc tế xảy ra, bởi vì hiện nay mạng di động của chúng ta còn phụ thuộc vào vệ tinh viễn thông do nước ngoài điều khiển.

Vài thí dụ trên cũng cho thấy, sau khi gia nhập WTO, chúng ta tranh thủ được nhiều lợi thế để đưa nền kinh tế chung đi lên nhưng những khó khăn cụ thể từ các ngành nghề, dịch vụ không phải nhỏ. Nếu không chú ý đầy đủ, thì về lâu dài, nền kinh tế đang tăng trưởng (và được ca ngợi) sẽ thách thức với chính sự bền vững của nó.

Liệu mức sống sẽ khá hơn?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã sử dụng cụm từ "hội nhập sâu" khi ông vừa về từ diễn đàn LHQ, nơi ông đọc bài diễn văn quan trọng cam kết rằng Việt Nam sẽ đẩy mạnh cải cách toàn diện, trong đó kinh tế là ưu tiên, để đóng góp vào sự tiến bộ chung của thế giới.

Nếu vậy, thì chúng ta, ngoài những giá trị riêng đặc thù, chúng ta phải chia sẻ những giá trị chung nhân loại. Một trong những giá trị có thể định lượng được đó là mức sống người dân qua chỉ số thu nhập bình quân đầu người.

Liệu chúng ta có quyền hi vọng một cách đơn giản rằng với tốc độ tăng trưởng 8,5% năm 2007, một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì thu nhập và mức sống thực tế của đa số người dân sẽ khá hơn?

Vâng, nhiều nhà kinh tế, kể cả những chuyên gia World Bank (Ngân hàng Thế giới) và ADB (Ngân hàng phát triển Á Châu) đều tin tưởng như thế.

Người viết bài này vừa tham gia một hội nghị kinh tế tại Singapore, và ở đó nhiều chuyên gia đã ca ngợi sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam, chỉ đứng sau Trung Quốc. Tuy vậy, nếu nhìn vào bảng dưới đây, chúng ta vẫn còn thua xa các nước Đông Nam Á khác, về gần như tất cả các chỉ tiêu kinh tế.

Căn cứ vào số liệu đã kiểm chứng của năm 2006 thì thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ nhỉnh hơn Lào, Campuchia và Myanmar trong khu vực Đông Nam Á. Tâm lý "tốt khoe xấu che" của người Việt Nam không phải là quá dở ở mọi mặt, nhưng lại dở nhất ở mặt thông tin kinh tế. Nếu chúng ta không chịu so sánh với Singapore hay Indonesia, Philippines để thấy cái thua xa của mình mà chỉ quanh quẩn so đo với Lào hoặc Campuchia hay Myanmar - những ông bạn nghèo - thì quả thật chúng ta chả khác gì những con đà điểu chui đầu vào cát...

"GDP bình quân đầu người Việt Nam tăng liên tục qua các năm, nếu năm 1998 chỉ 360 USD thì đến năm 2006 tăng lên 655 USD tăng 81,94% tương ứng giá trị tuyệt đối 295 USD/người và bình quân mỗi năm tăng 36,88 USD.

Năm 2007 dự báo sẽ là 726 USD. Tuy nhiên so mức chuẩn nghèo LHQ thì dân cư Việt Nam sống ở mức nghèo khổ vì có mức thu nhập ít hơn 2 USD/ngày. Theo một nghiên cứu mới đây được tạp chí Nghiên cứu Kinh tế công bố (số tháng 10 - 2007) thì: "Tính theo GNI tức là thu nhập bình quân đầu người có tính cả thu nhập từ nước ngoài, sau khi trừ đi phần phải trả ra nước ngoài thì mức thu nhập của người Việt Nam còn thấp hơn.

Bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1998 - 2006, thu nhập từ nước ngoài là 693,9 USD nhưng chi trả ra nước ngoài khoảng 877,3 USD - như vậy thực chất bình quân thu nhập từ nước ngoài là âm".

Vậy một năm sau khi gia nhập WTO, về thành tựu vĩ mô, quả thật chúng ta đáng được ca ngợi như đã nêu ở phần đầu bài viết. Nhưng cũng trong năm 2007, các chỉ số tăng giá trên 8% đã trở thành mối lo thường trực của mọi người Việt, từ Thủ tướng đến dân thường. Đời sống của đại đa số dân chúng vẫn khó khăn, nhưng dường như ai cũng tin rằng nhiều cơ hội đang mở ra cho nền kinh tế.

Trần Ngọc Châu (CAND)