Trang nhà > Nhân văn > Hồi tưởng > Xuất ngoại (Phần 3)

Xuất ngoại (Phần 3)

Thứ Ba 27, Tháng Mười 2009

Cùng học khoá này với đoàn cán bộ công đoàn Việt Nam, có các đoàn cán bộ công đoàn Cu Ba, Tiệp Khắc, Bungari, Lào.

Chương trình học bố trí khít khao khá nặng và người Việt khó có thể thích ứng. Thời gian biểu một ngày đều đặn là: 8 giờ dậy. Ăn sáng xong, 9 giờ lên lớp và học luôn một lèo gần 6 tiếng đồng hồ liền, tới 14g30 mới được nghỉ. Tiếp đó, ăn cơm trưa và ngay sau đó 15g30 lên ô tô đi cơ sở làm việc hoặc tham quan. Quen với nếp sống ở nhà, nay gặp nhịp điệu khác thường, ai cũng thấy mệt. Không buổi lên lớp nào mà tôi không ngủ gật. Chiều, cơm trưa xong, mệt rũ muốn ngủ quá, nhưng nhà trường bảo: chương trình đã bố trí rồi, mệt thì lên ô tô mà ngủ. Thì cũng phải chấp hành chứ biết làm thế nào!

Trước hết phải nói rằng đó là một chương trình chính trị rất cơ bản, nhưng quá nặng nề, và đối với những cán bộ Việt Nam đã học qua chương trình lý luận cao cấp của học viện Nguyễn Ái Quốc như tôi, thì chẳng có gì là mới mẻ cả.

Học thuyết của Lênin về Đảng kiểu mới. Hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản. Phê phán luận điểm tư sản và xét lại về chủ nghĩa xã hội phát triển. Đấu tranh giữa hai hệ thống. Quy luật kinh tế cơ bản của CNXH. Lối sống XHCN. Liên hiệp công đoàn thế giới và sự thống nhất của phong trào công đoàn…

Thật tình là cũng có chút ít bổ ích, vì cũng có thêm được kiến thức thực tiễn Liên Xô và nhất là được đi tham quan, đi thực tế nhiều cơ sở; cuối khoá còn được nghỉ một tuần đi thăm thành phố Kisinhốp, thủ đô Mônđavi.

Tính ra chúng tôi được đi tham quan khá nhiều nơi: làng Lênin trên đồi Gorki. Tháp Vô tuyến truyền hình I, II. Bảo tàng Quân đội Trung ương. Thành phố Mátxcơva. Bảo tàng nghệ thuật tạo hình. Làng Ôlempích. Toàn cảnh trận Bôrôđinô. Triển lãm nông nghiệp Liên Xô. Triển lãm tranh toàn liên bang…

* * *

Không phải ngày nào cũng sáng học, chiều đi cơ sở. Có một số ngày, buổi chiều được tự học ở nhà. Và cùng với những buổi chiều ấy, những ngày thứ bảy và chủ nhật là những ngày vàng để anh em thả sức hoạt động trên thương trường.

Thật ra thì hoạt động buôn bán đã diễn ra ngay khi máy bay chở đoàn hạ cánh xuống phi trường Sêmêrêchiêvô. Vì ngày đoàn đi, đến đã được thông báo với đối tác từ trước đó cả tuần, nên ra cửa sân bay đã có không ít người đứng đón nhận ngay hàng hoá rồi. Còn ngay đêm hôm đoàn tới Học viện còn đang bận rộn xếp dọn nơi ăn chốn ở, các đầu mối đã phóng taxi tới, ồn ào giao dịch mua bán tới tận khuya khoắt.

Tuy nhiên, hầu hết anh em chỉ thực sự bắt tay vào việc mua bán hàng hoá từ sau khai giảng một tuần. Lúc này bạn đã cho tiền tiêu vặt. Cứ 2 rúp một ngày, nhân với số ngày học cũng được khoảng một trăm rúp. Một trăm rúp không ăn tiêu gì, dành dụm được cũng là một số tiền khá lớn. Vì lúc này hàng hoá Liên Xô được bao cấp còn rất rẻ. Bao nhiêu năm rồi cũng vẫn vậy, chỉ cần 7 rúp rưỡi đã được một cái bàn là, 14 rúp rưỡi đã được một cái nồi áp suất to đùng rồi.

Nhà cửa vào những ngày giờ không phải lên lớp vắng tanh vắng ngắt. Thư viện cũng chẳng ma nào ngó ngàng tới. Nói cho sang thôi, chứ mấy ai đọc được tiếng Nga. Mà đọc sách về công đoàn lúc này thì chỉ có là anh hâm, anh dở người.

Cuộc sống thương trường Mátxcơva sống động đầy mãnh lực, nó cuốn hút tất cả vào guồng quay của nó, chẳng trừ một ai. Trước đồng tiền lợi nhuận, quan chức to nhất là ủy viên Ban Thư ký Tổng liên đoàn thì cũng vậy thôi. Cơm trưa xong là tất cả mang hàng ra ga tàu điện, tới ga mêtrô Kourski rồi tan biến vào biển cả Mátxcơva và phải đến bữa cơm chiều, lúc 19 giờ, 20 giờ mới quay trở về học viện. ấy thế! Lúc đi thì tay xách nách mang quần bò áo phông, lúc về thì gói to bọc nhỏ bàn là, phích nóng lạnh, xích líp xe đạp, phim ảnh, thuốc kháng sinh…

Các buổi tối ở Học viện càng về sau càng náo nhiệt. Sau một buổi chiều, một ngày xông pha khắp các ngõ ngách phố phường, các thứ mua sắm được giờ mới được trưng ra, đổ ra, với bao tình tiết, câu chuyện thú vị bất ngờ. Này, áo phông đang hạ giá vì vừa sang một chuyên cơ của các cụ VIP chở đầy nhóc hàng! Ga Kômxômônxkaia có cửa hàng bán phích đá đấy! Ca cao ông mua ở đâu? Phim Kodak bao nhiêu đin thì nên mua? Này, chậu nhôm to, ở ngay chợ Xaltưkốpka chứ ở đâu! Nghe nói nồi hầm phải mua tận Kaliningrát có đúng không?…

Càng về những ngày cuối khoá, việc mua bán càng khẩn trương nhộn nhịp. Tan học, chợ xã Xaltưkốpka đã xanh đen bóng cán bộ công đoàn Việt Nam. Có anh bỏ bữa cả ngày thứ bảy, chủ nhật đi thông luôn hai ngày để lùng hàng. Giữa phố huyện Balasikhinxki, một anh thư ký công đoàn ngành đội một chồng chậu nhôm to đùng, oang oang như giữa chốn không người: “Nó đang bán ở kia kìa! Mau lên!” Nhiều anh đem đi được nhiều hàng, có trong tay cả nghìn rúp, thấy hàng gì cũng xông vào mua. Hoá ra chả ai là khù khờ, dớ dẩn cả. Có anh tưởng đần mà vác về cả một cái cưa đá, một cái máy rửa xe nặng đến chục cân, toàn thứ hàng độc.

Cán bộ công đoàn Việt Nam cứ tưởng là cao đạo, là tiêu biểu cho hệ thống ăn theo, nói leo, ngu ngơ ngờ nghệch như thường bị giễu nhại, hoá ra không hổ danh con cháu dân Việt, tinh khôn đủ đường, khiến bạn cũng phải tỏ ý kinh ngạc! Thế nào mà nhà trường bắt ăn tập trung, chỉ cho tiền tiêu vặt vẻn vẹn chưa đầy trăm rúp mà sau gần hai tháng, anh nào anh ấy cũng như có phép thần thông, đã sở hữu một số lượng hàng hoá giá trị lên tới 700, 800 rúp, 1.000 rúp thế! Chất ngất như núi trong các phòng ngủ là tivi màu, máy khâu, tủ lạnh, bơm nước, chậu nhôm, phích đá, bàn là, mui bạt xe ô tô, quạt máy và trăm thứ bà rằn khác.

Nỗi ham mê lợi lộc không có giới hạn. Thôi thì còn thiếu gì chuyện bi hài, cười chảy ra nước mắt. Ông N. H. mua nhầm phải ba cái máy hàn, uất tức quá, “trả thù” bằng cách đến khách sạn nào ở cũng vơ đút túi tất cả các thứ phụ tùng, từ cái mở nút bia đến bộ đồ dao dĩa. Cũng không thiếu cảnh giấu giếm nhau nguồn hàng (vì nếu ai cũng mang về thứ hàng đó thì giá trị sẽ bị kém đi). Mua đi bán lại, ăn chênh lệch từng cái bàn là, vỉ thuốc cũng không hiếm. Lừa nhau bán lại cho nhau một hộp phim sắp hết date, vay vỏ nhau rồi lờ đi không trả, cũng thường xảy ra.

Những đêm cuối khoá là những đêm thức trắng. Đồ hàng chuyển về đầy phòng rồi, giờ là lúc phải lo việc gói ghém mang theo về hoặc đóng hòm gửi đường biển. Có cả một nghệ thuật xếp sắp hàng hoá sao cho hòm xiểng va li phát huy sức chứa tối đa mà lại giảm nhẹ được cân cước. Chẳng hạn, ca cao vứt hết vỏ hộp đi, chỉ giữ lấy ruột. Phim ảnh cũng thế, vỏ hộp làm bẹp lại, xếp vào một góc va li. Và cùng với nó là một năng lực tư duy kinh tế hết sức thực dụng khôn ngoan được huy động. Cái gì sinh lợi được nhiều hơn thì ưu tiên. Giá cả mua vào ở Nga, bán đi ở Việt Nam, ai cũng làu làu. Phim ảnh 45 rúp một hộp về bán 6.000 đồng Việt Nam, lãi khá lớn. Cũng tương tự, bơm nước loại thả vào nước mua 55 rúp, bán 9.000 đồng. Tivi 215 rúp bán được 21.000 đồng. Nhưng lãi to hơn là đồng hồ treo tường mua 50 rúp, bán 10.000 đồng. Cũng đừng coi thường các đồ vật nhỏ. Cặp sốt 38 kôpếch bán được những 8 đồng một cái kia!

Cảnh tượng khi ra về ở nhà ga sân bay Sêrêmêchiêvô cũng hãi hùng nhức nhối chẳng kém ngày ra đi ở sân bay Nội Bài. Lúc này ở Liên Xô, cuộc cải tổ đang rầm rộ, con người đang đứng trước những tháo dỡ đổi thay nhiều tín điều đã ổn định. Xã hội đang ở thời kỳ nhập nhằng trắng đen, kỷ cương phép tắc hỗn độn, không thiếu cảnh lạm dụng thừa cơ đục nước béo cò. An ninh cửa khẩu và Hải quan Liên Xô vẻ mặt hằn học bất thân thiện, kiểm tra soi mói vô cùng tàn bạo. Xếp hàng trước tôi, một hành khách mếu máo giãi bày mà vẫn bị tịch thu trắng trợn 70 rúp, và 50 đôla. “Về Việt Nam rồi, đem rúp theo làm gì! Còn giấy tờ mang theo bảo chứng cho đôla nói là nộp ở cửa vào phòng Hải quan rồi nhưng đây bất biết”.

Đoàn cán bộ công đoàn Việt Nam xếp hàng ra ga trông như một đoàn kéo quân. Ai cũng giống ai. Một bộ comlê đi mượn mặc cả hai tháng trời đã nhàu nát, trên đầu là hai, ba mũ phớt lồng vào nhau. Còn vai đeo, tay xách thì không khác gì người làm xiếc. Và lại gặp ông bạn Đ., người đã sử dụng thân thể tương đương giá trị một chiếc va li. Lần này ông mặc lồng hai bộ comlê. Nóng thế mà ông còn khoác thêm chiếc măng tô len mua 10 rúp ở cửa hàng đồ cũ. Một bên vai ông đeo chiếc tivi 14 inh. Vai bên kia là cái túi đựng 4 cái phích đá. Chưa hết, cánh tay trái ông còn vắt một chiếc áo da Mông Cổ cỡ đại to xù. Tính ra từng ấy đồ đạc phải hai va li đầy. Nhếch nhác lắm, nhưng thôi cố được tí nào vợ con ở nhà nhờ được tí ấy.

Tôi nhớ đến những người bạn Liên Xô sau cuộc cải tổ. Khi sao phong gấm rủ là. Giờ sao tan tác như hoa giữa dòng. Một phó giám đốc nhà xuất bản Công đoàn Liên Xô, đơn vị kết nghĩa với chúng tôi, cuối năm 1989 sang thăm nhà xuất bản Lao Động chúng tôi, đâu còn thấy ở ông vẻ sang trọng quý phái, phóng tâm coi nhẹ vật chất như vẫn hằng; ông mang thuốc lá sang nhờ chúng tôi bán hộ, và rầu rĩ phô diễn cảnh nghèo khó rồi xin thêm tiền chúng tôi để đủ mua được một chiếc cassette, nói là để thỏa lòng mong ước của bà vợ, trông thật tội nghiệp vì ngượng ngập; ông không có được cái hào hứng bươn trải tự lực nhập cuộc như anh em mình hồi ấy.

Chúng tôi sang Liên Xô lần này khi đất nước này đang ồn ào trong cao trào cải tổ. Mở tivi lúc nào cũng thấy M. Goocbachốp đang đăng đàn diễn thuyết. Goocbachốp có vóc hình diện mạo đẹp sang trọng, giọng sang sảng, nói năng rất hoạt, nhưng có cảm giác ông nói quá nhiều. Ông Platon Thành, một người Nga, hàng binh trong chiến tranh Việt Nam, phiên dịch của khoá học nói: Trí thức Nga nói, dạy cho voi múa không dễ đâu. Mặc dầu ông Goocbachốp nói giỏi thật.

Trong một bài giảng, một giảng viên của khoá học chúng tôi có kể lại một câu chuyện ngụ ngôn Ba Tư như sau: ở một nước nọ có một nhà vua trẻ tuổi vừa lên ngôi đã ra lệnh tập trung tất cả các nhà bác học trong nước để viết một bộ lịch sử nhân loại, mục đích là rút ra các kinh nghiệm lịch sử, để mình không bao giờ mắc phải sai lầm. Hai mươi
năm sau, các nhà bác học mới hoàn thành công trình này và trước tác của họ phải 150 con lạc đà mới thồ hết. Lúc này nhà vua đã 40 tuổi. Ngài nói: ta không còn nhiều thì giờ nữa. Hãy tóm tắt lại cho ta! Lại 20 năm nữa trôi qua. Và lần này thì công trình tóm tắt nọ cũng phải một con lạc đà oằn lưng chở mới nổi. Bấy giờ nhà vua đã 60 tuổi, mắt đã mờ và ngài không còn sức để đọc nữa.

Vị giảng viên kia có ngụ ý gì khi kể lại câu chuyện ngụ ngôn này? Không thể là vô tư vô cảm trước một tình hình đất nước đang lâm dần vào khủng hoảng rối ren, chưa biết rồi số phận mỗi con người và cả dân tộc sẽ ra sao! Bởi vì, với ngay chúng tôi, những khách qua đường, chỉ bằng mắt thấy tai nghe, rất cảm tính thôi, cũng đã nhận ra bao nhiêu điều bất cập, bất ổn trong nền kinh tế - xã hội Liên Xô bấy giờ rồi.

* * *

Tôi không vất vả quá đáng về việc mua bán hàng hoá. Phần vì luôn lượng sức. Phần vì có được ít tiền bạn cho, tiền thu được từ bán hàng, và vài trăm rúp nhuận bút nhà xuất bản Liên Xô trả cho đôi ba tác phẩm được dịch từ những năm trước, tôi đều gửi cho con gái và đưa cho các bạn bè, nhờ mua hộ hàng đem về.

Chỗ dựa chủ yếu của tôi ở Mátxcơva là cô Ngà. Ngà nguyên là cán bộ nhà xuất bản Lao Động, được Cục Xuất bản cử sang Liên Xô làm chuyên gia ở nhà xuất bản Tiến bộ. Tôi cũng đã quen với việc đi lại ở thủ đô Xô Viết và với vốn liếng tiếng Nga nhì nhằng cũng có thể đi lại đây đó để mua bán, nhưng có được những thứ hàng thiết yếu thật không phải là dễ, phần vì lúc này hàng hoá ở đây đã khan hiếm, phần khác vì cộng đồng người Việt cùng săn lùng ráo riết, nên không phải là những người đã ở Mátxcơva lâu năm như Ngà, cũng rất khó mua được. Nói ngay như cái đồng hồ quả lắc treo tường 55 rúp, Ngà cũng phải năm lần bảy lượt đi lại mới mua giúp được cho tôi. Cái đồng hồ quả lắc treo tường ngày nào cũng phải lên dây và mỗi lần lên dây là một lần đau nhức cả mấy ngón tay trị giá 10.000 đồng tiền Việt, lúc mới đem về, có người xin đổi một con trâu, ít lâu sau khi đồng hồ điện tử Nhật tràn ngập đã bỏ xó, trở thành hàng đồng nát.

Tôi còn nhờ Ngà lo hộ cho quà cáp tặng biếu bạn bè khi về nước. Quả thật, hồi ấy, đây là một việc phải lo ngay khi mới đến xứ bạn. Cái cà vạt. Lọ nhung. Hộp dao cạo râu. Vỉ thuốc ămpi. Bao thuốc lá. Cái cặp sốt. Sợi dây maiso… nho nhỏ thôi, nhưng cả trăm bạn bè, người thân ai cũng phải có tí chút lộc chia sẻ.

Ở Mátxcơva tôi cũng thường đến chơi với nhiều bạn bè là sinh viên, công nhân trong các xí nghiệp bạn. Nhớ nhất là cháu H. con anh V.T.C và chị N.T.N, bạn đồng nghiệp rất thân quý của tôi. Cháu H. rất ngoan, được nhà máy quý mến, tín nhiệm vì lao động giỏi. Cháu đặc biệt có duyên làm ăn buôn bán. Sang Mátxcơva mới có bốn, năm năm cháu đã đóng được một hòm hàng trị giá 5.000 rúp gửi về cho bố mẹ. Ngoài ra cháu còn vài nghìn rúp để làm vốn luân chuyển buôn bán (lúc này lương tối thiểu của lao động Liên Xô là 70 rúp/ tháng). Cháu kể, có ngày cháu đánh 500 nồi hầm, lãi 1.500 rúp. S. là học sinh lớp 12 cũ của tôi, tốt nghiệp kỹ sư địa chất ở Liên Xô, nay sang lại làm nghiên cứu sinh, được gọi là dân Tây quay, chỉ trong 10 tháng đã kiếm được 3.000 rúp. Rủ tôi đi chơi, hai thầy trò cứ taxi phóng thả dàn khắp kinh thành Xô Viết.

Thích ứng với kinh tế thị trường, người Việt mình đâu có phải loại xoàng!

(Rút từ Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, hồi ký của Ma Văn Kháng, NXB Hội Nhà Văn 2009)


Xem online : Xuất ngoại (Phần 1)