Home > Văn chương > Nghiên cứu > Ý thức về làng xã, họ tộc trong tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương (...)

Ý thức về làng xã, họ tộc trong tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn đương đại

Saturday 4 May 2013

Làng xã là đơn vị cư trú và là hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn Việt. Làng xã mang bản sắc lối sống cộng đồng nên tính bền vững, ổn định rất cao. Tính bền vững, ổn định thể hiện trong việc liên kết, hỗ trợ nhau (thiên tai, lũ lụt; sản xuất thời vụ...) và quyền lợi (của người này được gắn bó với người khác và cộng đồng) mà hạt nhân là gia đình, dòng tộc.

Ở nông thôn Việt Nam, ý thức và tập quán về dòng họ, gia đình có vai trò rất quan trọng, được coi là sứ mệnh tối thượng, thứ keo kết dính khối cộng đồng làng xã (tính cộng đồng); mặt khác, để bảo vệ gia tộc, làng xã, họ sẵn sàng chiến đấu chống lại các dòng họ, làng xã khác (tính tự trị). Mặt trái này đã trở thành rào cản cản trở nông thôn trên con đường phát triển kinh tế, chính trị và thẳm sâu hơn nữa là sự triệt tiêu con người cá nhân. Tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn sau đổi mới đã khắc họa hình ảnh con người dòng tộc, làng xã rất sinh động và sâu sắc.

<img src='http://vanhien.vn/local/cache-vignettes/L250xH178/250px-conglab7c7-88919.jpg' width='250' height='178' alt='JPEG - 20.9 kb' style='' />

<dt
class='spip_doc_titre' style='width:250px;'>Một cổng làng ở vùng nông thôn Bắc Bộ

Đặc thù ở nông thôn Việt Nam là một làng có nhiều họ tộc (thường mười hai họ) và nhiều tôn giáo khác nhau sinh sống. Từ đó, nảy sinh tư tưởng bè phái, cục bộ địa phương. Vì danh dự, uy tín của dòng họ, làng xã mà họ sẵn sàng chiến đấu để chống lại các dòng họ khác, làng xã khác. Làng Giếng Chùa (Mảnh đất lắm người nhiều ma) cũng giống bao ngôi làng cổ khác của Việt Nam: hiền hòa, bình yên (cổng trước, cổng sau, lũy tre, giếng làng, mái nhà lợp ngói đỏ rêu phong, cổ kính) nhưng bên trong sục sôi giữa hai dòng họ lớn, quyền thế nhất làng: Trịnh Bá và Vũ Đình. Từ chuyện hôn nhân, đất đai, địa vị và quyền lực mà hai dòng họ này ganh đua nhau, thù hận nhau. Những mối thù đó đi từ âm ỉ đến công khai, từ ghen ghét đến hận thù, từ riêng tư trở thành chuyện xã hội, truyền từ đời này sang đời khác. Vì “đầu gà má lợn”, thói sĩ diện, háo danh “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, “đầu gà hơn đít voi” mà Trịnh Bá Hoành - cha đẻ Trịnh Bá Hàm dùng mọi thủ đoạn để quyết tâm tranh giành chức lý trưởng với địa chủ Vũ Đình Đại - cha đẻ Vũ Đình Phúc. Quyết mua bằng được chức lý trưởng, Hoành vung tiền, lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đường nhưng kết cục “lợn sề trâu nái, ruộng sâu giữa đồng cứ lần lượt ra đi, mà cái chức lý trưởng lại về tay Vũ Đình Đại” [5;tr.95]. Đại thắng, vênh váo và không quên trả món nợ với Bá Hoành. Trong trận chạy càn (Pháp tấn công, năm 1949), gia đình Hoành chưa kịp trở về, cha con Phúc lẻn vào nhà phá bức tranh hổ thần – bức tranh hộ mệnh của dòng họ Trịnh Bá, được thờ phụng từ thời cụ kị. Lợi ích, quyền lợi và danh dự của dòng họ Trịnh Bá bị xúc phạm nên Hoành quyết không để yên, thề suốt đời trả bằng được món nợ để rửa nhục. Cuối đời, Hoành vẫn không thực hiện được mối thù nên trăn trối, dặn dò con cháu phải triệt hạ bằng được dòng họ Vũ Đình. Hàm – người nối dõi dòng họ Trịnh Bá còn nhỏ không để tâm đến chuyện tranh giành giữa hai dòng họ nên chưa hiểu hết sự uất ức của cha. Đến tuổi trưởng thành, mối thù hận bừng dậy vẹn nguyên, thôi thúc trả thù, quyết triệt hạ dòng họ Vũ không thể “mọc mũi sủi tăm”.

Càng sục sôi hơn khi mối thù riêng cộng với mối thù chung của dòng họ biến Hàm thành một con ác thú vừa ranh mãnh, vừa độc ác, vừa bạo tàn. Hàm cùng đám con cháu Trịnh Bá đào mả cụ cố Đại mới chôn trong vòng ba ngày lên, lật úp xác xuống để yểm, không còn khả năng để phù hộ, giúp đỡ con cháu.

Tư tưởng họ tộc, làng xã chính là tiêu chí để xét độ trung thành của mỗi thành viên trong cùng dòng họ, làng xã. Nếu một ai đó không tuân theo sẽ bị trừng phạt, ruồng bỏ. Hai chi Giáp và Ất của họ Tạ (Lão Khổ) tranh chấp, thù hận, thậm chí hỗn chiến đẫm máu chỉ vì ngôi mộ tổ, vì ông tổ chi Giáp – chi đàn anh bị ông tổ chi Ất đè nén bằng quyền lực và sự giàu có. Sự thanh trừng quyết liệt, đẫm máu hơn từ cái đêm lão Khổ dẫn đội dân quân đến tàn phá, san phẳng dinh cơ của cụ Chánh tổng chi Ất - vị trưởng tộc có quyền uy nhất làng Đồng. Cụ Chánh tổng và con cháu chi Ất quyết trả thù lão Khổ, bảo tồn gia thế. Lời thề như nguồn sống mãnh liệt, như thanh nam châm cực mạnh cổ vũ, động viên cánh chi Ất sống và vượt qua khó khăn, vất vả, chờ đến ngày có cơ hội trả thù. Cụ Chánh tổng và một số con cháu chi Ất tìm cách vào Nam, ông Năm được ủy thác ở lại làng Đồng hương hỏa. Năm tháng sống tại quê nhà, ông Năm luôn trăn trở, tìm cách để chuộc lại “những đồ gia bảo, hương hỏa, cho đến cả ngôi nhà cổ”, phục dựng lại “Tạ tự Ất chi”, nhất là sự hy vọng chi họ một ngày nào đó được phất lên. Sau gần nửa thế kỷ, ước nguyện của ông Năm đã trở thành sự thật. Tư Vọc trở về huy động cả chi Ất hỏa tốc chuẩn bị mọi mặt thanh trừng lão Khổ - người khác chi cùng dòng họ. Quả thật, lòng hận thù đã trở thành lý tưởng sống, mục tiêu sống duy nhất đối với ông Năm, Tư Vọc. Lão Khổ cũng không kém cạnh, quyền lực, lợi ích đều có nhưng vẫn không chịu lãng quên đi hận thù, nỗi nhục nhã, đắng cay một thời làm đầy tớ nhà cụ Chánh tổng mà hun đúc, dưỡng nuôi. Ngay chính thằng Hai Duy - đứa con yêu quí nhất cũng được lão “rèn như rèn sắt từ tấm bé về tinh thần hi sinh “cá nhân, gia đình” cho “làng xã, họ tộc”. Vì vậy, khi biết thằng Duy đem lòng yêu bé Tâm - con lão Tự, lão “bầm gan tím ruột, đau đớn, vã vật trong những tháng ngày sống ê chề, nhục nhã của kẻ thua cuộc… Niềm kêu hãnh của lão bị giáng những đòn chí mạng… Những gì lão chắt chiu xây lên chỉ đáng cho nó châm một mồi lửa. Giờ đây tất cả đã thành tro. Niềm kêu hãnh, hi vọng, những dự kiến to tát lão đặt vào nó, thành tro hết” [1;tr.162-163]. Lão một mình đối phó với cả chi Ất đã được khôi phục lại và càng ngày càng hùng mạnh. Dẫu tuyên bố “Cừu non không thể làm bạn với chó Sói được” [1;tr.111] nhưng kết cục thực sự lão vẫn thua chi họ Tạ Ất trong việc dưỡng nuôi, đào tạo thế hệ sau về “lòng hận thù”. Mối thù dòng họ và mối thù giai cấp đan lồng nhau, bổ sung nhau. Mối thù dòng họ xúc tác với mối thù giai cấp thì nó càng mãnh liệt hơn, bạo tàn hơn.

Quan niệm “Một người làm quan cả họ được nhờ” luôn ngự trị trong tâm thức của người nông dân. Nếu trong họ tộc, làng xã có người làm quan to thì cả họ hàng, thân thuộc được cậy nhờ, thơm lây, kính trọng, kiêng nhường. Người dân làng Hạ Vị nể trọng, ngợi ca gia đình cụ đồ Khang (Thời xa vắng) vì cụ Khang là thầy đồ; con trai út (Sài) học hành giỏi giang, vâng lời bố mẹ, chú bác, anh chị trong gia tộc; con trai thứ (Tính) làm cán bộ huyện và người em trai (Hà) làm bí thư huyện ủy. Nhờ uy danh đó, gia đình cụ đồ Khang được “bảo vệ” danh dự khi có chuyện xảy ra như chuyện “giăng gió” (với Hương), chuyện đám cưới (với Châu) của Sài, chuyện đám tang của cụ đồ… Chẳng hạn như chuyện “giăng gió” của Sài với Hương. Vì Sài mà gia đình cụ đồ Khang “cả hàng tháng âm thầm như có người chết. Không ai dám đi đâu xa. Nếu miễn cưỡng phải đi qua chỗ đông người thì hoặc phải che nón, cúi xuống mà đi, hoặc phải dầy mặt lên mới chịu nổi những cái nhìn nhọn như những mũi tên bắn” [4;tr.70] nhưng chú Hà, anh Tính đã dùng uy quyền, vị thế và cả sự thông minh, mưu mẹo để phi tang, chạy tội cho Sài một cách hợp tình, hợp lý, khiến lãnh đạo xã và người dân làng Hạ Vị phải tin, thán phục. Từ đó, gia đình cụ đồ Khang cũng thoát khỏi tai tiếng đối với người dân làng Hạ Vị.

Quan niệm “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” cũng được thể hiện khá rõ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma. Ranh giới giữa làng/nước, cá nhân/tập thể, chung/riêng không rõ ràng. Cách ứng xử, lối sống ở nước, làng và gia đình vẫn không hề thay đổi. Lối ứng xử của Thủ, Phúc cùng các cán bộ xóm Giếng Chùa dựa trên mối quan hệ dòng họ, gia đình là chính. Tuy công việc của xã như Bí thư Đảng ủy Trịnh Bá Thủ và chủ nhiệm Vũ Đình Phúc luôn xem là việc nhà, việc họ. Từ họp hành, bầu bán, sản xuất… cho đến tổ chức sắp xếp cán bộ xã, hợp tác xã đều nghĩ đến lợi ích của dòng họ, gia đình. Kể từ khi Vũ Đình Phúc trúng chân chủ nhiệm xã, cuộc sống gia đình khấm khá, có của ăn của để. Không những lo cho gia đình, Phúc còn cấu kết để đưa những người anh em họ hàng vào Đảng, giúp em trai, chị gái mua được gạch ngói làm nhà với giá gần như cho không, chỉ bằng một phần mười giá trị thực tế. Trịnh Bá Hàm dám chi rất nhiều tiền để vận động người dân bầu em trai (Trịnh Bá Thủ) vào chức bí thư xã. Khi có quyền lực trong tay, Thủ tìm cách đưa Cao – cháu vợ vào ghế phó ban công an xã, ra sức vận động để Cao trúng hội đồng nhân dân; Dinh – cháu gọi bằng chú được ra quân khi chưa hết hạn nghĩa vụ để đi xuất khẩu nước ngoài; đám cháu Ngạc, Ưởng cậy vào cái bóng của Thủ suốt ngày gây gỗ, đánh nhau và hống hách, hung hăng với người dân xóm Giếng Chùa.

Cũng chính từ ý thức về dòng họ, làng xã đã gây ra bao đau khổ, oan nghiệt, thảm kịch đối với người nông dân. Bà Son (Mảnh đất lắm người nhiều ma) - người phụ nữ thuần phác, nhân hậu đã trở thành nạn nhân trong cuộc đấu tranh giành quyền lực của cá nhân và lợi ích của hai dòng họ bởi “những lợi ích của họ tộc vô hình chung đã phân tuyến, đối lập họ với nhau. Sự bè phái theo tổ chức Đảng ở xóm Giếng Chùa khoác chiếc áo họ tộc. Họ tộc thì có tình máu mủ. Một giọt máu đào hơn ao nước lả! Vậy là sự bè cánh càng thâm hậu không dễ mà bứt ra được. Cuộc đấu tranh với mục đích loại trừ nhau giữa những người Đảng viên khoác màu áo dòng họ đã diễn ra với biết bao hành vi vô đạo, thậm chí dẫn đến chết người. Cái chết của bà Son, nạn nhân của sự hèn nhát và sự độc ác đã theo đuổi từ lúc con gái đến khi là người đàn bà đã qua tuổi năm mươi, là kết cục hiển nhiên của cả một đời người bị nhục nhã. Không chỉ có bà Son, lão Quềnh cũng bị tư tưởng ấy nghiền nát. Lão chân chất, thật thà, suốt đời chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, không hại ai, mất lòng ai, chết trong nghèo đói nhưng vẫn chưa yên phận, phải vẫn hi sinh thêm một lần nữa để “cứu danh dự”, phục vụ mục tiêu bài trừ, ganh đua của kẻ khác. Tình làng, nghĩa xóm và cả tính người trong Quàng, Thủ, Hàm không còn “ký sinh” mà chỉ có hận thù.

Tư tưởng họ tộc, làng xã truyền từ đời này sang đời khác. Mâu thuẫn giữa họ Nguyễn và Vũ (Bến không chồng) cùng lời nguyền độc địa của ông tổ họ Nguyễn đã gieo rắc bao đau khổ, oan nghiệt trong mối tình của Nghĩa và Hạnh, đã cản trở chú Vạn và chị Nhân đi tới hạnh phúc. Hạnh và Nghĩa dám bước qua lời nguyền của dòng họ để đến với nhau, xây dựng mái ấm gia đình. Hạnh và Nghĩa khao khát có được một cậu “trưởng nam” để nối dõi nhưng không thể thực hiện, hạnh phúc tan vỡ. Lời nguyền của dòng họ tưởng đã đi vào quên lãng thì vẫn như một ký ức hằng sâu trong tâm thức, nay trỗi dậy, Hạnh tuyệt vọng, gục ngã trước sức mạnh vô hình: “Lời nguyền của cả họ nhà anh vẫn còn đó, nó ngấm sâu vào máu thịt ngàn đời không bao giờ rửa sạch” [2;tr.283]. Giang Minh Sài (Thời xa vắng) cũng quá ư gian nan, cay đắng trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Tư tưởng gia trưởng, nề nếp, “thông tục cha truyền con nối từ mấy đời nay: con cái không có quyền muốn sao được vậy vì thế là trái với phép tắc gia phong” [3;tr.14] của cụ đồ Khang đặt ra nên khi bị gia đình ép lấy Tuyết, Sài không dám cưỡng lại, kêu ca, giãi bày tâm sự cùng ai. Ngay chú ruột Sài – chú Hà cũng không hề đã động đến số phận của đứa cháu ruột đang mất tăm mất tích, có hạnh phúc hay đau khổ và cũng chẳng cần quan tâm đến nỗi lo lắng cháy cả ruột gan của vợ chồng cụ đồ Khang mà chỉ quan tâm đến danh dự, uy tính của dòng họ, của gia đình. Vì bảo vệ danh dự, quyền lợi và định kiến hẹp hòi mà gia đình ông đồ Khang, chú Hà đã bóp chết khát vọng hạnh phúc, ước mơ giản dị và trong sáng về mối tình đầu đời cháy bỏng, nồng đượm của Sài với Hương – người bạn học xinh đẹp, học giỏi mà Sài trân trọng, ngưỡng mộ và yêu bằng cả trái tim sáng trong. Chính tư tưởng, quan niệm, lối sống đó cũng đã bóp chết, thui chột cả quãng đời còn lại của Sài. Đúng như nhận định của Chu Giang Nguyễn Văn Lưu: “Dù nghèo khổ những con người như Sài vẫn phải sống có khuôn phép, phải biết vâng lời, phải biết giữ tiếng cho gia đình, cho anh em họ tộc… Cái danh tiếng, cái dư luận dù vô lý vẫn không được quyền cưỡng lại. Trong gia đình, phải nghe theo, phải nín chịu trước bố mẹ, anh chị, chú bác. Ra xã hội cũng phải mang theo, phải nín chịu ấy trước những bậc huynh trưởng” [3;tr112]. Tuyết – vợ Sài cũng là nạn nhân đáng thương. Vì lợi ích gia đình, dòng họ mà Tuyết đành phải chấp nhận về làm vợ hờ của Sài, làm dâu ngoan của gia đình ông đồ Khang. Dù bị chồng ghét bỏ nhưng Tuyết vẫn luôn ý thức được trách nhiệm, bổn phận làm vợ, làm dâu. Dẫu Tuyết cố gắng để làm tốt bổn phận phải thờ chồng, phải biết vâng lời bố mẹ chồng, anh em nhà chồng nhưng tình yêu vẫn không đến với cô. Tuyết càng yêu thương, chăm sóc Sài bao nhiêu thì càng bị Sài chán ghét bấy nhiêu. Tuyết buồn, cô đơn và tủi nhục biết dường nào khi hằng đêm dài đằng đẵng đơn thanh gối chiếc, “có chồng hờ hững cũng như không”.

Bên cạnh đó, cũng có những người nông dân mang khát vọng cháy bỏng bước qua những định kiến của dòng họ. Thế hệ Hạnh và Nghĩa (Bến không chồng), Tâm và Hai Duy (Lão Khổ)… có quan niệm khác. Họ tôn kính tổ tiên, ông bà, yêu quý cha mẹ, không phủ nhận quá khứ nhưng lại khao khát cháy bỏng bước qua quá khứ của cha ông đầy nước mắt và máu. Chính khát vọng ấy, họ đã bất chấp tất cả sự bủa vây, ngăn cản của dòng họ, gia đình để đến với nhau, mong xóa bỏ hận thù, định kiến. Ngay chính Tạ Bông (Lão Khổ) bị lão Khổ quy vào tội cầm đầu nhóm phiến loạn và bị bắt tống giam. Ra tù, lão “làm một cái lễ quỳ trước điện thờ, cắt tay uống rượu thề “không đội trời chung với Tạ Khổ và quyết định “bán hết nhà cửa, ruộng vườn” [1;tr.204] rời khỏi làng Đồng Trưa, quyết hẹn ngày trở về giết chết lão Khổ để trả nón nợ. Nhưng những năm tháng sống nơi đất khách quê người, lão Bông nghiệm ra “kiếp người bèo bọt, vô nghĩa quá. Chỉ thấy máu đổ nhà tan, anh em ly tán. Không cẩn thận rồi đến linh hồn ông bà cha mẹ cũng thất lạc bốn phương” [1;tr.206]. Vì thế, lão Bông quyết trở về làng chung sống sau ba mươi năm lưu lạc và lão không còn thù hận với lão Khổ nữa mà yêu thương, trìu mến: “Nếu ngày ấy tôi đủ chín chắn, tôi sẽ chẳng tranh quyền lực với ông làm gì. Xét đến cùng thì mọi cái điều vớ vẩn. Điều khiến bọn mình trở thành đáng thương là chúng ta bị cuốn vào vòng thù hận… Nhìn cái làng Đồng cũng đủ biết bao nhiêu năm qua mảnh đất này được cái gì” [1;tr.206]. Thế hệ cha chú trải qua mất mát, đau thương không bao giờ hàn gắn được nhưng giờ đây xóa đi quá khứ đen tối, đầy tội lỗi, hướng đến cuộc sống tương lai tươi đẹp. Chính những khát vọng cao đẹp đó đã tạo cho tiểu thuyết về nông thôn sau 1986 có giá trị nhân văn, nhân bản sâu sắc, làm nên nét riêng khác so với tiểu thuyết cùng đề tài trước đó.

Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đang tiến hành đổi mới toàn diện với nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại đất nước mà vẫn duy trì những đặc tính bè phái, địa phương thì tạo ra sức cản rất lớn trong việc phát triển kinh tế và đời sống văn hóa ở nông thôn. Thứ nhất, tính bè phái sẽ sinh ra tính ích kỉ, gây mất đoàn kết trong nội bộ. Thứ hai, tính bè phái sẽ cản trở việc phát huy sức mạnh từ nhiều nguồn lực khác nhau, đặc biệt là việc tập hợp, thu hút nhân tài cho đất nước. Thứ ba, dễ bị các thế lực chống đối lôi kéo, phá hoại, gây chia rẽ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Thứ tư, do tư tưởng địa phương nên sinh ra hành động tự ý, thiếu nhất trí, sự đồng bộ, nên không phát huy hiệu quả trong công việc gây tốn kém và lãng phí cho xã hội. Thứ năm, tư tưởng địa phương được đề cao quá mức sẽ dẫn đến việc coi nhẹ pháp luật, thậm chí đứng lên trên pháp luật làm ảnh hưởng không tốt trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng. Trước yêu cầu phát triển đất nước, nếu không nhận diện được mặc trái của tính cộng đồng, vô hình chung nuôi dưỡng những thói quen lạc hậu không còn động lực để phát triển đời sống xã hội nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Phải nói rằng, ở nông thôn Việt Nam, mối quan hệ họ hàng, làng xã với lối sống đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là một nét đẹp văn hóa cần được tự hào, giữ gìn, tôn vinh và phát huy, nhân rộng. Nhưng sự đùm bọc, đoàn kết ấy gắn bó keo sơn đến mức “hiển nhiên tồn tại một điều lệ là những ai ở đây muốn có một chân dù nhỏ, từ đội sản xuất trở lên, và ai muốn phấn đấu vào Đảng thì nếu không có họ hàng thân thích với những người đang nắm quyền, thì cũng phải là người được thu nạp vào trong vây cánh mới có điều kiện để phấn đấu! Còn nếu không mà muốn thành cán bộ Đảng viên thì phải đi ra ngoài… Những Đảng viên ở nơi khác chuyển về đây sinh sống, nếu muốn yên, muốn tốt thì phải khuất phục, nếu không sẽ đủ thứ việc xảy ra” [5;tr.424-425]. Tư tưởng đó chính là mầm mống nảy sinh phe cánh trong bộ máy chính quyền nông thôn. Nó biến các quan hệ xã hội rạch ròi, khách quan thành quan hệ gia đình, dòng tộc cả nể, du di, dẫn đến kìm hãm sự phát triển, nảy sinh tiêu cực, tạo cơ hội cán bộ tham ô, lãng phí. Nhiều nét đẹp trong nếp sống, nếp nghĩ, tập quán và truyền thống tâm lý của con người nơi làng xã vẫn cứ tồn tại mạnh mẽ, chi phối đến đời sống tinh thần ở làng quê và số phận của nhiều lớp người, nhiều thế hệ.

Người nông dân luôn chịu sự chi phối của các quan hệ và ý thức về họ tộc, làng xã. Đấy cũng là một trong những nguyên nhân. Nhìn từ góc độ xã hội, mỗi gia đình là một tế bào, mỗi dòng họ là những mảng tế bào, những bộ phận cấu thành của xã hội nông thôn. Vì thế, họ tộc, làng xã tạo được sự đoàn kết sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội nông thôn. Ngược lại thường xuyên xung đột, đấu tranh lẫn nhau sẽ phá vỡ sự bình yên, sự đoàn kết và kìm hãm sự phát triển. Những tồn đọng đó cần được loại khỏi xã hội nông thôn. Đây chính là thông điệp mà tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này gửi đến bạn đọc.


1. Tạ Duy Anh, (2004), Lão Khổ, Văn học, Hà Nội.
2. Dương Hướng, (1990), Bến không chồng, Hội nhà văn, Hà Nội.
3. Nguyễn Văn Lưu (2004), Luận chiến văn chương, Văn học, Hà Nội.
4. Lê Lựu (1986), Thời xa vắng, Tác phẩm mới, Hà Nội.
5. Nguyễn Khắc Trường (1990), Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hội nhà văn, Hà Nội.

(c)2013
07:00