Trang nhà > Văn chương > Cổ học > YÊN ĐÀI THU VỊNH - 29 bài thơ về mùa thu Bắc Kinh (2)

ĐOÀN NGUYỄN TUẤN (1750—?)

YÊN ĐÀI THU VỊNH - 29 bài thơ về mùa thu Bắc Kinh (2)

(phần 2)

Thứ Hai 20, Tháng Ba 2017

10.Bài Thu Thủy: Nước thu trong vắt, tuyệt không gợn bụi. Đó là gương bạc do Tây Đế còn gọi là Tây Hoàng, thần chủ trì của mùa thu đúc nên chăng? Chiều dạo bờ ao, nghiêng thấy bóng mình. Râu tóc đã khác với lúc ra đi.

NƯỚC THU
Trong vắt nước thu chẳng bụi trần,
Mặt gương Tây Đế đúc nên chăng?
Chiều dạo bờ ao nghiêng thấy bóng,
Tóc râu đã khác lúc dời chân.

THU THỦY
Thanh thanh thu thủy, tuyệt tiêm trần,
Tây Đế dung thành xuất dã ngân.
Vãn bộ trì đường tà kiến ảnh,
Mãn mi bất tự khứ thời nhân.

11.Bài Thu Cầm: Trăng lặn bên song the, giọt ngọc (đồng hồ) trầm trầm... Tiếng tơ đồng hiu hắt thoảng qua rừng phong. Âm điệu ngàn năm: bài cao sơn lưu thủy. Non cao nước chảy của Bá Nha. Não lòng năm canh kẻ góc biển chân trời.

ĐÀN THU
Trăng lặn song khuya, giọt ngọc trầm...
Tiếng đồng hiu hắt thoảng rừng phong.
‘Non cao nước chảy’ ngàn năm điệu,
Góc biển chân mây, khách chạnh lòng.

THU CẦM
Nguyệt lạc sa song, ngọc lậu trầm,
Tiêu tiêu đồng vận quá phong lâm.
Cao sơn lưu thủy thiên thu điệu,
Hải giốc thiên nhai, ngũ dạ tâm.

12.Bài Thu Lan: Sương tràn ngập trăm loài cây cỏ, làm rụng cánh hoa thơm. Hoa Lan là chúa các loài hoa trong chậu vẫn trổ bông lạ Khổng Tử cho lan là loài hoa có hương vương giả (Lan vi vương giả hương). Hãy thử mang đến chốn điện cung Quế đỏ (Mặt Trăng) Quế cũng nở hoa mùa thu, lan cũng nở hoa mùa thu, cả hai đều là loại hoa quý. So hương, khó khen loại nào thơm hơn !

LAN MÙA THU
Sương lan cây cỏ rụng hoa thơm,
Hoa chúa phong lan nở sắc hương.
Hãy thử mang vào cung Quế đỏ,
So hương khó kén loại nào hơn.

THU LAN
Sương xâm bách thảo trụy phương hoa,
Bồn lý hoa vương đối dị ba.
Thí vị chí lai đan quế điện,
Chân hương đối hiệu định nan ta.

13.Bài Thu Cúc: Trăm cây xơ xác, cúc vẫn xanh ngọn. Cúc vàng giỡn sương riêng mọc thành từng khóm. Trước hoa chợt nhớ tới lúc dưới dậu đông. Đào Tiềm đời Tấn trồng cúc dưới dậu đông... Hai ba thu nay phụ tình bạn cũ.

CÚC THU
Trăm cây xơ xác, cúc còn xanh,
Một khóm đùa sương, khóm cúc vàng.
Trước hoa chợt nhớ bên hàng dậu,
Mấy độ thu qua phụ bạn lòng.

THU CÚC
Bách thu điêu linh, thặng lục sao,
Lăng sương kim giáp độc thành bao.
Đối hoa, hốt ức đông ly hạ,
Tam lưỡng thu lai, phụ tố giao.

14.Bài Thu Liễu: Tơ ngắn cành thưa, soi bóng trên sóng biếc. Chiều đến lả lướt, vì ai mà nhọc sức? Trên bờ đê cũ, trang điểm cho trăm hoa lúc xuân sang. Chắc tới lúc ta về, liễu đã cao vài trượng.

LIỄU THU
Tơ ngắn, cành thưa soi sóng biếc,
Chiều về lả lướt, nhọc vì sao?
Bờ hồ trang điểm trăm hoa nỡ,
Chắc lúc ta về liễu đã cao.

THU LIỄU
Đoản tuyến, sơ chi ảnh bích đào,
Vãn lai, phất lược vị thùy lao?
Cổ bi bách đoá xuân sơ quải,
Ưng cặp qui thời cổ trượng cao.

15.Bài Thu Vũ: Tí tách đầu rèm mưa lúc thưa lúc nhặt. Một mình không ngủ, muốn dậy lại lười. Cô gái Ngô chớ hát khúc thê lương ấy: “Mưa thu buồn bã, Chàng thanh tú của ta, sao chẳng về nhà”. Từ đây đến quê nhà (Giang Nam) còn xa cách muôn trùng.

MƯA THU
Đầu rèm tí tách giọt thưa, nhanh,
Không ngủ, một mình lười chỉ nằm.
Ngô nương chớ hát thê lương khúc,
Giờ cách Giang Nam đến vạn trùng.

THU VŨ
Tích lịch thiềm đầu đạm cánh nùng,
Cô miên bất trước, khởi hoàn dung.
Ngô nương mạc xướng tiêu tiêu khúc,
Thử khứ Giang Nam hựu vạn trùng.

CHÚ THÍCH:

  • Ngô nương khúc vãn: Thu vũ tiêu tiêu, phương lang bất qui.
  • Giang Nam: do bài phú Giang Nam của Dữu Tín, nhớ quê hương, Giang Nam trở thành điển tích chỉ quê nhà.

16.Bài Thu Phong: Gió lạnh từ phương Tây thổi vào rặng cây phong chiều. Hiu hắt thổi tan bao đóa hồng trong vườn ngự uyển. Sông Quỳnh càng xa hơn so với sông Ngô. Mùi vị rau rút cá vược thảy đều giống nhau. Sông Quỳnh quê hương Quỳnh Hài của Đoàn Nguyễn Tuấn càng xa hơn so với sông Ngô; nước Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc, người Việt Nam gọi Trung Quốc là nước Ngô, ca dao có câu: “Sông Ngô, bể Sở tung hoành”. Người Nhật Bản cũng gọi chữ Trung Quốc là Ngô tự... Sông Ngô chỉ các con sông ở Giang Bắc, Giang Nam. Cá vược rau tần chỉ việc trở về quê hương qui ẩn, từ quan. Việc từ quan về hưởng thú điền viên, nước Nam hay Trung Quốc đều giống nhau.

GIÓ THU
Gió Tây hiu hắt thổi rừng phong,
Vườn Ngự tàn rơi mấy cánh hồng.
Sông Quỳnh xa cách sông Ngô mấy ?
Cá vược rau tần một vị cùng.

THU PHONG
Túc khí Tây lai nhập vãn phong,
Tiêu tao suy tán ngự viên hồng.
Quỳnh giang cánh tỷ Ngô gfiang viễn,
Chuyên thái, lô ngư nhất vị đồng.

17.Bài Thu Hà: Ao mùa thu đã tàn tạ, mùi hương lạ cũng tiêu tan. Trăng mờ, gió lạnh, bạn cùng quạnh vắng. Vẫn còn rễ sâu cắm trong bùn. Hàng năm lại nẩy ngó sen như cũ.

SEN THU
Ao thu tàn tạ, sắc tiêu điều,
Gió lạnh, trăng mờ nỗi quạnh hiu.
Vẫn còn rễ cắm trong bùn đất,
Năm năm lại nẩy ngó thanh tao.

THU HÀ
Sơ y thoát tận, dị hương tiêu,
Đạm nguyệt thê phong bạn tịch liêu.
Hoàn hữu thân căn nê lý tại,
Niên niên y cựu lộ thanh tiêu.

18.Bài Thu Địch: Trên đường xe ngựa chạy suốt ngày vang rền như sấm, mấy tiếng sáo xa vọng tự hướng vầng trăng mọc. Lữ khách buồn hiu, nằm trùm khăn kín đầu. Vô cớ bên tai cứ giục giã hoài.

SÁO THU
Xe ngựa đường xa tựa sấm rền,
Bổng nghe tiếng sáo vọng trăng lên.
Hắt hiu lữ khách đầu khăn kín,
Vô cớ bên tai vọng tiếng buồn.

THU ĐỊCH
Xa mã đồ trung tận nhât lôi,
Kỷ thanh viễn địch nguyệt biên lai.
Cơ nhân sầu cực mông đầu ngọa,
Nhĩ bạn vô đoan sác sác thôi.

19.Bài Thu Lộ: Hoa sương kết thành cửa sổ gíấy trống rỗng. Trời đất y hệt như sau cơn mưa ướt dầm. Chợt nhớ lối tùng cúc trong vườn cũ. Vẫn một sức sống tự nhiên như xưa.

SƯƠNG THU
Sương hoa kết tụ cửa song thưa,
Trời đất như vừa đầm ướt mưa.
Cúc tùng chợt nhớ nơi vườn cũ,
Vẫn còn sức sống tự như xưa.

THU LỘ
Sương hoa kết tụ chỉ song hư,
Thiên địa chân như yêm hấp dư.
Hốt ức cố viên tùng cúc kính,
Nhất ban sinh ý tự như như.

20.Bài Thu Châm: Vằng vặc sông Ngân soi khắp sáu phố phường. Sông Ngân Hà hiện rõ rào mùa thu tương truyền đàn quạ rụng lông đầu để bắt cầu trên sông Ngân cho Ngưu Lang, Chúc nữ gặp nhau. Lòng hiu quạnh không ngủ được, đứng trên thềm vắng. Tiếng chày đập vải lạnh lùng từ đâu vắng tới. Đập nát lòng kẻ đi xa quê hương ở ngoài muôn dậm.

TIẾNG ĐẬP VẢI ĐÊM THU
Vằng vặc sông Ngân sáu phố phường,
Quạnh hiu không ngủ đứng bên thềm.
Tiếng chày đập vải từ xa vẳng,
Đập nát lòng ai vạn dậm trường.

THU CHÂM
Cảnh cảnh tinh hà chiêu lục nhai,
Cô khâm bất mị lập không giai.
Hàn châm hà xứ đinh đông hưởng,
Đảo toái du nhân vạn lý hoài.

(còn nữa)
TS PHẠM TRỌNG CHÁNH


Xem online : Phần 3