Menu

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > Đưa vào triết học (2b)

Introduction to Philosophy (2b)

Đưa vào triết học (2b)

Thứ Năm 25, Tháng Mười 2007

B/ Kinh nghiệm nhận thức

Triết lý không phải chỉ gắn liền với đời sống, nhưng còn gắn liền với mọi sinh hoạt nhận thức của con người. Thật là nhầm lẫn nếu coi triết lý không dính líu gì tới các khoa học. Nhầm lẫn đó sở dĩ có cũng một phần lớn tại triết học, khi triết học chỉ là một hư ngôn, không tưởng, tách biệt khỏi cuộc đời thiết thực. Trái lại, nếu triết học như một thái độ trước cuộc đời và như một nhận thức về ý nghĩa sau cùng cuộc đời, nhà khoa học không thể tránh được triết học và những kiến thức khoa học không thể không đưa đến suy tư triết lý. Việc học triết lý ở nhà trường cũng chỉ có ý nghĩa và đáng kể cho chúng ta như ý muốn tìm hiểu, chuyên môn của ta: luật, văn chương, vật lý, hóa, ngữ học, sử, địa…

Khi ta học vật lý, sử, địa, văn chương với một thái độ nghiên cứu khoa học, chúng ta chỉ chú ý tới đối tượng của bộ môn học: sự kiện giãn nở, sự kiện lãng mạn, trữ tình hay sự kiện cách mạng. Chúng ta chú ý tìm xem những sự kiện đó xuất hiện thế nào và được cấu tạo làm sao, do những yếu tố, nguyên nhân nào và đưa đến những hậu quả gì… hoặc liên quan đến những sự kiện khác như thế nào, nhằm giải thích cắt nghĩa sự kiện.

Nhưng chúng ta cũng có thể tìm hiểu chính những chuyên môn của ta. Chẳng hạn ta hỏi: Sử ký là gì? Vật lý là gì? Và chúng ta tìm cách xác định đối tượng, phương pháp, mục đích bộ môn ta nghiên cứu.

Đối tượng: ví dụ, tâm lý học nghiên cứu những sự kiện, buồn, sợ, nhớ, xem, nhưng trước hết thế nào là một sự kiện tâm lý. Có những đặc điểm gì phân biệt nó với những sự kiện khác. Sự kiện tâm lý có phải chỉ là những phản ứng sinh lý hay chỉ là những hiện tượng thuần túy ý thức, vô thức.

Phương pháp: thế nào là phương pháp thực nghiệm quan sát, đặt giả thuyết, thí nghiệm, chứng nghiệm.

Quan điểm: cùng một sự kiện nghiên cứu với một tinh thần khoa học (thực nghiệm) nhưng có thể đứng ở nhiều quan điểm khác nhau để nhìn mà nghiên cứu. Ví dụ sự kiện ly dị. Nhà luật học chỉ tìm hiểu thế nào là ly dị và xác định những sự kiện ly dị hợp pháp hay không hợp pháp, còn nhà xã hội nghiên cứu xem ly dị thường gây ra ở một hoàn cảnh xã hội nào, do những yếu tố xã hội nào, như tôn giáo, đời sống vật chất, phong tục tâm tình đã ảnh hưởng gây nên việc ly dị và ngược lại việc ly dị ảnh hưởng đến đời sống xã hội như thế nào. Triết lý đặt vấn đề thông cảm giữa người và người.

Việc suy nghĩ về đối tượng, phương pháp, quan điểm chỉ nhằm ấn định giới hạn lĩnh vực nghiên cứu. Do sự ấn định giới hạn đó, ta thấy việc nghiên cứu vật lý chẳng hạn chỉ là một sinh hoạt nhận thức trong nhiều sinh hoạt nhận thức khác, rồi những sinh hoạt nhận thức cũng chỉ là một sinh hoạt trong nhiều loại sinh hoạt khác của con người. Nói cách khác, vật lý chỉ là một bộ phận trong toàn thể nhận thức.

1/ Sự tìm hiểu, nghiên cứu về vật lý như một nhà vật lý nhằm bày tỏ ý nghĩa, nguyên nhân của những sự kiện vật lý, những sự kiện thuộc môn vật lý và chỉ giới hạn trong khuôn khổ bộ môn đó mà thôi.

2/ Sự tìm hiểu nghiên cứu về vật lý, như một bộ môn liên quan tới toàn thể các bộ môn nhận thức, bày tỏ ý nghĩa của sự liên quan đó. Sự tìm hiểu này vượt khỏi lĩnh vực vật lý, đồng thời cũng không thể thực hiện được với một thái độ của nhà vật lý. Do đó, hỏi vật lý là gì trong viễn tượng liên hệ vật lý với toàn thể nhận thức thì vật lý không thể biết và giải đáp được vì câu hỏi vượt khỏi lĩnh vực, phương pháp, khả năng vật lý. Khoa học có đối tượng nghiên cứu là những sự kiện nọ, sự kiện kia nhưng còn chính khoa học không bao giờ là đối tượng nghiên cứu của khoa học mà là một suy nghĩ vượt khoa học, suy nghĩ triết học, suy nghĩ về cái toàn thể.

Hơn nữa, sở dĩ con người có thể suy nghĩ về vật lý, khoa học, không phải về những đối tượng nghiên cứu của vật lý, khoa học mà là về chính vật lý, khoa học như một đối tượng nghiên cứu, là vì con người không phải là vật lý, hay bị giam hãm trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Trái lại, con người luôn luôn có thể vượt khỏi lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn của mình, xác định cho nó một vị trí, một ý nghĩa trong cái toàn thể nhận thức và sau cùng trong cái toàn thể cuộc đời mình, như Jean Lacroix đã viết: “Con người không thể là nhà sử học nếu chỉ thuần tuý là con vật lịch sử, cũng không thể là nhà kinh tế học, nếu chỉ thuần tuý là con vật kinh tế”.

Bây giờ chúng ta dựa vào một vài khoa học để chứng minh vấn đề triết học gắn liền với những ngành khoa học chuyên môn như thế nào.

KHOA HỌC

Nhà khoa học vật lý, hoá học có đối tượng nghiên cứu là những sự kiện vật chất, tìm hiểu sự hình thành, cấu tạo và chuyển động những sự kiện đó như thế nào, dựa trên những định luật gì. Vậy có thể thấy ngay lĩnh vực hoạt động của khoa học chỉ giới hạn vào cái đã có. Nhà khoa học nghiên cứu sự kiện, khởi điểm từ cái đã có và cũng dừng lại trong phạm vi cái đã có. Mục tiêu của khoa học là tìm hiểu những định luật, cấu tạo, chuyển vận của những cái đã có. Nhưng khi hỏi tại sao có thì vấn đề nguồn gốc sự vật vượt khỏi lĩnh vực khoa học, vì khoa học chỉ hoạt động trên những sự kiện nghĩa là cái đã có. Khi nhà khoa học vượt khỏi lĩnh vực thực nghiệm và bắt đầu suy nghĩ về vấn đề nguồn gốc sự vật, ông không còn suy nghĩ như một nhà khoa học nhưng như một nhà triết học hay một nhà tôn giáo. Vấn đề nguồn gốc sự vật, cuộc đời vượt khỏi lĩnh vực khoa học vì khi nhà khoa học tìm hiểu sự kiện thì sự kiện đã có đấy rồi, trước khi nhà khoa học suy nghĩ về nó. Sự hiện hữu, sự có bao giờ cũng có trước sự suy nghĩ về hiện hữu, sự có. Do đó, dù khoa học có tạo ra được sự sống, sự có, chẳng hạn thí nghiệm của Petrucci ở Bologne thực hiện thụ thai ngoài người đàn bà và bào thai sống gần được một tháng, thì cũng vẫn là lợi dụng cái đã có để tạo nên cái có, vẫn dựa vào sự sống đã có sẵn (tinh trùng) để tạo nên bào thai. Và nếu có tạo được tinh trùng đi nữa, thì cũng vẫn là lợi dụng những đơn tố có sẵn để phối hợp, gây dựng, chứ không phải sáng tạo từ hư vô, do đó khoa học vẫn không đụng chạm đến vấn đề nguồn gốc sự sống, sự có.

Khoa học bao giờ cũng dựa trên cái đã có và nỗ lực nhận thức chỉ là khám phá cái đã có mà trước đây khoa học chưa biết. Những định luật mà khoa học khám phá ra vẫn có đó trước khi được khám phá ra. Vậy vấn đề tại sao có định luật, tại sao có sự tương quan hợp lý quy định sự cấu tạo vận hành của vũ trụ vật chất không phải là vấn đề khoa học vì vượt khỏi lĩnh vực nghiên cứu, quan sát, chứng nghiệm.

Việc nghiên cứu khoa học luôn luôn có thể đưa người nghiên cứu vượt khỏi lĩnh vực khoa học, và đụng chạm tới những vấn đề không còn thuộc thẩm quyền khoa học. Một phát súng bắn một người chết. Đứng ở quan điểm khoa học, đó chỉ là một hiện tượng vật lý, có thể đo lường tính toán, xác định được. Chẳng hạn nghiên cứu viên đạn chứa một chất nổ mạnh bao nhiêu và người bị đạn là một tổng hợp tế bào sẽ bị chọc thủng, tiêu diệt… Dưới ánh mắt nhà khoa học vật lý, không có vấn đề ai bắn, ai bị bắn tên gì, ở địa vị xã hội nào, tại sao bắn và bị bắn. Nhưng nhà khoa học là con người không thể chỉ nhìn việc bắn người kia như một sự kiện vật lý vì ông biết xúc động trước sự kiện đó: Ông giận ghét người bắn, thương hại người bị bắn hay ngược lại cảm phục người bắn và hài lòng vì người bị bắn và đã chết tùy như người bị bắn là nạn nhân của một hành động xô xát hay là một kẻ thù đáng bị người anh hùng tiêu diệt. Vấn đề nên hay không nên, đáng khen hay đáng chê là những vấn đề vượt khỏi vấn đề khoa học khi giới hạn đã nhận định cái có là như thế. Khoa học đưa tới luân lý, tôn giáo. Có những vấn đề khoa học đặc biệt bó buộc nhà khoa học không thể không vượt khỏi lĩnh vực khoa học để suy nghĩ về ý nghĩa và mục đích hoạt động khoa học - một vấn đề thuộc luân lý, triết lý. Chẳng hạn vấn đề vật lý nguyên tử, việc nghiên cứu nguyên tử thúc đẩy nhà bác học phải suy nghĩ đến những hậu quả nhân loại của việc phát minh và sử dụng nguyên tử. Bom nguyên tử đã gây một khủng hoảng tinh thần, thức tỉnh luân lý của các nhà bác học khi họ bó buộc phải tự hỏi về khả năng tàn phá của nguyên tử lực. Những Einstein, Oppenheimer đã phải thắc mắc về vấn đề số phận nhân loại và thấy rằng ý niệm về tiến bộ khoa học từ nay mật thiết gắn bó với ý niệm về số phận nhân loại. Ý niệm số phận không phải là một ý niệm khoa học, nhưng là ý niệm luân lý, triết lý và đứng trước những công trình thành quả nghiên cứu của khoa học, các nhà bác học không thể không suy nghĩ về vấn đề số phận nhân loại, một vấn đề vượt khỏi lĩnh vực khoa học.

SỬ KÝ

Nhà viết sử có nhiệm vụ sưu tầm, ghi chú các sự kiện lịch sử và sắp xếp theo một thứ tự niên lịch những sự kiện đó nhằm giải thích cắt nghĩa lịch sử. Nhưng việc viết sử, nhất là với một thái độ khoa học bao hàm nhiều tiền đề dựa trên nhiều nền tảng mà nhà viết sử có thể không nghĩ tới, hay mặc nhiên công nhận. Vậy phải suy nghĩ lại những tiền đề nền tảng trên. Đó là một đòi hỏi không thể tránh được. Nó xuất phát từ chính việc viết sử. Nhà viết sử bây giờ thắc mắc về đối tượng thế nào là một sự kiện lịch sử? Nó có thể xác định được đầy đủ những yếu tố cấu tạo sự kiện lịch sử không? Khi viết sử, nhà sử học cũng tin tưởng có một sự thực lịch sử mà mình cho rằng có thể đạt tới, giải thích, cắt nghĩa. Nhưng thử hỏi, có thể có sự thực lịch sử không? Hay nói rõ hơn, có thể có một sự thực khách quan về lịch sử không hay sự thực lịch sử nếu có bao giờ cũng chỉ là chủ quan, nghĩa là sự thực đối với tôi như Claude Lévi-Strauss đã nhận xét: “Lịch sử không bao giờ là lịch sử nhưng là lịch sử cho”.

Nói cách khác, người viết sử có thể đứng ngoài lịch sử mình viết không (như nhà vật lý ở ngoài, đứng trước hiện tượng vật lý) hay bó buộc phải đứng trong lịch sử và do đó nhìn lịch sử theo vị trí, quan điểm của mình, nghĩa là nhìn lịch sử theo một cái nhìn chủ quan, một lập trường và do đó cái nhìn có tính cách thiên lệch bè phái?

Một cuộc nổi dậy đảo chính, đối với người này là một nổi loạn, làm mất trật tự, phản dân tộc, đối với người khác, lại là một cách mạng, một hành động yêu nước phục vụ dân tộc. Và để biện hộ cho quan điểm của mình, nhà viết sử chọn lọc những sự kiện có lợi, phù hợp với quan điểm của mình?

Có thể viết sử một cách vô tư hay không thể tránh được một quan điểm viết sử? Và hễ đã nói đến quan điểm viết sử là nói đến triết lý về lịch sử. Nhà viết sử muốn giải thích lịch sử, điều đó bao hàm tin rằng lịch sử có một ý nghĩa, một hướng đi chứ không phải là một tình cờ, ngẫu nhiên, phi lý.

Thế rồi lịch sử là một sự kế tiếp những biến cố trong thời gian. Nhưng sự kế tiếp đó là một lặp lại (không có gì lạ dưới bóng mặt trời) nghĩa là lịch sử tiến triển theo chu kỳ hay sự kế tiếp ở đây bày tỏ những sự kiện không bao giờ trở lại, vì luôn luôn có những cái mới xảy ra… hoặc lịch sử phải chăng chỉ là lịch sử nghĩa là một chuỗi kế tiếp những biến cố một cách vô hạn, hay lịch sử đã có một khởi điểm, sẽ có một tận cùng và đưa tới cái vượt khỏi lịch sử?

Và sau cùng, khi viết lịch sử, nhà viết sử chỉ có thể kê khai trình bày những sự kiện lịch sử, giải thích lịch sử, những phán đoán lịch sử? Nhưng những phán đoán này không thể không nhân danh những giá trị. Và đã nói đến giá trị tức là nói đến cái gì không còn phải là lịch sử. Vậy viết sử, phán đoán lịch sử có thoát khỏi nhu cầu phải dựa vào những tiêu chuẩn, giá trị không lịch sử, thuộc lĩnh vực đạo đức và triết học? Nếu có những tiêu chuẩn giá trị thì đó là những tiêu chuẩn nào và có được mọi người nhìn nhận hay không?

Do đó, ta thấy nhà viết sử không thể đặt ra những vấn đề trên và những vấn đề có được đặt ra cũng như những giải đáp đề ra đều vượt khỏi lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, tuy thiết yếu bắt nguồn từ sinh hoạt nghiên cứu lịch sử.

VĂN HỌC

Nếu phân biệt văn chương với văn học, một đằng chỉ thị những sáng tác, một đằng chỉ thị những suy nghĩ, nghiên cứu về những sáng tác đó, chúng ta thấy cả hai sinh hoạt đều có thể đưa đến những thắc mắc triết lý nhất là trong khung cảnh văn nghệ hiện đại.

a) Về sáng tác văn chương

Nhà văn bây giờ không những ý thức được việc sáng tác của mình - về điều mình viết (nội dung) và cách mình viết (kỹ thuật diễn tả) - mà còn ý thức về chính việc viết văn. Có thể viết văn được không? Có thể có văn chương không? Sự thắc mắc này có tính chất triết học vì nó nhằm vào chính dự phóng viết của nhà văn, nhằm phê phán khả năng diễn tả của nhà văn là ngôn ngữ và sau cùng hoài nghi về mục đích của văn chương là trao đổi thông cảm.

Khi viết, nhà văn muốn nói lên, bày tỏ một cái gì, làm cho nó có nhưng phải chăng viết là làm cho quên điều mình muốn nói, là hư vô hoá thực tại muốn thể hiện, là tạo cho mình và người khác những ảo tưởng về thực tại. Chẳng hạn, làm sao có thể viết “tôi cô đơn”. Cô đơn là một thực tại ta sống và chỉ còn là cô đơn nếu mình đang sống thực tại đó và không ai biết. Vậy nói viết ra để bày tỏ sự cô đơn thì không còn cô đơn nữa, cho nên có một mâu thuẫn giữa thực tại và dự phóng viết, viết không còn là vấn đề bày tỏ, làm cho có, hiện hữu một thực tại mà chính là xoá bỏ hư vô, xoá bỏ thực tại đó đi.

b) Về phê phán văn học

Việc phê bình văn học dựa trên niềm tin có thể hiểu được tác phẩm, tác giả. Nhưng vấn đề là có thể hiểu người khác được không, qua tác phẩm văn chương? Vấn đề hiểu người khác là một vấn đề triết học, vấn đề thông cảm giữa người với người mà văn chương chỉ là một khía cạnh của vấn đề tổng quát trên.

Nói hiểu người khác, là hiểu người khác như họ hiểu họ, không phải như ta muốn hiểu về họ. Nhưng giữa người với người, mối tương giao thông cảm không bao giờ là trực tiếp mà là gián tiếp, qua trung gian những dấu hiệu. Bất cứ cái gì cũng có thể là dấu hiệu chuyên chở ý nghĩa tình cảm từ người này sang người khác (sự vật, thân xác, ngôn ngữ…)

Chúng ta sống trong một vũ trụ những dấu hiệu và luôn luôn phải tìm ra những ý nghĩa bao hàm, bị che dấu trong những dấu hiệu đó. Tuy nhiên, công trình sáng tác ý nghĩa rất khó, vì dấu hiệu tự bản chất hàm hồ, có thể chỉ ý nghĩa này, có thể chỉ ý nghĩa kia. Do đó mà có sự ngộ nhận, vì ta đã không lãnh hội đúng ý nghĩa. Người khác gửi tới ta qua trung gian những dấu hiệu. Ngôn ngữ là một hệ thống những dấu hiệu gián tiếp, vì nhà văn thường chọn lối nói lên điều gì bằng cách không nói ra. Do đó, những ngộ nhận còn dễ xảy ra trong văn chương nhiều hơn là trong đời sống hàng ngày.

Vậy việc phê bình văn học không thể không suy nghĩ về ngay bản chất của ngôn ngữ văn chương như một phương tiện tương giao giữa người với người để xác định khả năng giới hạn diễn tả của ngôn ngữ văn chương. Tìm hiểu bản chất của ngôn ngữ văn chương là đặt vấn đề nền tảng và không thể không dựa vào những suy luận có tính chất triết học.

c) Về văn học sử

Người ta vẫn làm văn học sử như thể tin có thể có văn học sử. Nhưng vấn đề là có thể có văn học sử không? Bao giờ chúng ta cũng đứng trước những tác phẩm văn chương, tác giả, chứ không đứng trước văn chương. Nói cách khác, không có văn chương mà chỉ có văn chương của Nguyễn Du, Tản Đà, Nhất Linh... Nếu nhìn nhận có một lịch sử văn chương, tức là nhìn nhận giữa các tác giả có một liên quan với nhau trong hệ thống như thể mỗi tác giả là một thành phần của một tổng hợp do nhà văn học sử thiết lập. Nhưng vấn đề là nhà văn có phải chỉ là một đơn vị của một hệ thống hay là một bản ngã, một đỉnh cao không thể giản lược? Có thể hệ thống hoá các nhà văn và nhất là hệ thống hoá theo một quan niệm có sẵn về văn học sử? Và sâu hơn nữa, có thể sắp xếp các nhà văn, phân loại và phê bình? Và sau cùng nghệ thuật là gì? Thế nào là thẩm mỹ? Đó là những vấn đề nền tảng, nghĩa là những vấn đề triết học.

Ý THỨC SIÊU HÌNH VÀ SIÊU HÌNH HỌC

Qua những ví dụ vừa trình bày ở trên chúng ta đã hiểu thế nào là một vấn đề triết học. Nhưng sự hiểu biết ở đây không phải là một tri thức, nhưng như một sự sống thực, hơn nữa như một ý thức, vì ta đã suy nghĩ từ một kinh nghiệm sống của ta. Do đó, ta chỉ hiểu biết triết học thực sự nếu ta có ý thức và như sống, cảm nghĩ điều ta hiểu. Nếu học triết lý mà gạt kinh nghiệm sống ra và chỉ học những hệ thống, ta sẽ có một tri thức nhưng chưa phải là hiểu triết lý. Vì hệ thống triết lý mà ta học cũng xuất phát từ một kinh nghiệm sống thực của tác giả. Nhưng khi được biểu diễn bằng ý niệm, những lý luận, nó chỉ còn là một tri thức. Do đó, muốn hiểu hệ thống đó ta phải như “sống lại” kinh nghiệm của kẻ khác (theo kiểu nói của Merleau-Ponty).

Cho nên triết lý vừa là một ý thức vừa là một tri thức. Ở trên ta đã phân biệt triết lý và triết học. Đến đây ta có thể dùng một phân biệt khác để chỉ định hai khía cạnh thiết yếu của triết học (ý thức, tri thức). Ta gọi triết lý hay ý thức là cái siêu hình, ý thức siêu hình và triết học, tri thức, hệ thống là siêu hình học. Người ta có thể sống mà không biết mình sống và hơn nữa có thể hiểu biết nhiều nhưng lại an nghỉ trong những điều hiểu biết đó nghĩa là người ta thoả mãn lấy làm bằng lòng những kiến thức đã có về cuộc đời đằng sau, về cuộc đời hiện tại và về cuộc đời trước mặt. Sở dĩ bằng lòng thỏa mãn vì coi những kiến thức đó đã là chân lý hoàn tất, hiển nhiên đã hẳn là thế lại không phải thắc mắc tra hỏi lôi thôi.

Chúng ta sống trong một vũ trụ những ý nghĩa đã có sẵn, do người khác tạo ra hay chính ta dựng nên và chúng ta chỉ việc sống theo những ý nghĩa đó, làm quen với chúng và sau cùng cũng không còn để ý đến chúng nữa.

Chẳng hạn những đồ vật, cảnh vật chung quanh ta tạo thành một khung khổ quen thuộc. Đây là dãy núi, khu rừng vùng tôi, đây là thành phố, khu xóm tôi ở và đây là mái nhà của tôi với tất cả những đồ đạc quen thuộc: cái cổng, cái hiên, khu vườn, bể nước, bộ bàn ăn, những bức tranh treo trên tường, cái tủ sách ở góc nhà, cái bàn viết kê quay ra mặt phố và cái sọt giấy kê dưới chân nó… Rồi những thái độ tôi cần phải có đối với cha mẹ, anh em, con cái, bạn bè, người xa lạ hoặc trước những vấn đề thời sự, văn hoá, hôn nhân, thể thao…

Tất cả đều dựa trên những ý nghĩa rõ rệt. Tôi cứ việc sống, cư xử với mọi người, mọi sự mà không cần phải thắc mắc, chẳng hạn về ý nghĩa cái bàn, ý nghĩa cử chỉ chào hỏi người trên vì đã hẳn và đã rõ cái bàn là để viết, cử chỉ chào hỏi là để biểu lộ lòng cung kính.

Nhưng không ngờ rằng chính cảm tưởng, niềm tin tôi đã cho là rõ, một cách hiển nhiên về những sự vật bên cạnh tôi, những thái độ của tôi, những sự kiện xảy ra chung quanh tôi, đã che dấu không cho tôi thấy thực sự ý nghĩa của chúng hoặc chỉ thấy một khía cạnh và lấy cái thấy một khía cạnh đó làm cái thấy toàn diện.

Ý thức siêu hình xuất hiện thì tôi thoát khỏi thái độ coi mọi sự là hiển nhiên và bỡ ngỡ, thắc mắc như thể lần đầu tiên thấy sự vật, lần đầu tiên phải chào hỏi người trên: thắc mắc, bỡ ngỡ, ngạc nhiên về ý nghĩa của nó và triệt để hơn nữa về chính sự kiện nó có đấy.

Sở dĩ tôi coi là hiển nhiên những sự vật chung quanh tôi, chẳng hạn cái nhà, hòn gạch, cái cây, cả con người nữa là vì tôi đã hiểu nó theo một kiến thức có sẵn, rõ ràng: cái nhà để ở, hòn gạch để lát sân, cái cây để che cánh, quả táo để ăn, con người để đi đứng, dùng tất cả những đồ vật trên. Nhưng nếu tôi tạm gác những ý nghĩa vì lợi mà ta đã gắn cho sự vật, phút chốc sự vật, con người quen thuộc trở nên lạ lùng kinh dị như thể chưa bao giờ tôi trông thấy nó. Merleau-Ponty đã nhận định về điều đó khi nói tới cái nhà: “Cái nhà kia, nếu tôi chăm chú nhìn mà đừng có một ý kiến nào sẽ hiện lên với một vẻ vĩnh cửu và như toát ra một vẻ đầy kinh hoàng”.

Trong một tập nhật ký, nhà văn Julien Green đã kể lại cái nhìn bỡ ngỡ ngạc nhiên như thể lần đầu tiên ông thấy cái sọt giấy vẫn ở bên cạnh bàn ghế của ông từ bao nhiêu năm: “Bao giờ ta cũng lạ khi ta nhìn chăm chú và lâu dài những đồ vật mà ta trông thấy hằng ngày và không để ý tới nữa. Bỗng nhiên mắt tôi dừng ở sọt giấy và lạ chưa, bây giờ nó mới như có. Tôi đã không để ý đến vẻ mềm mại của những cái lạt mà một vài chiếc được ánh sáng rọi vào một cách đặc biệt trở thành những mầu vàng óng như mật ong và ba cái vòng đai cột cái sọt lấp lánh như ngà voi. Phút chốc tôi chỉ còn thấy có nó trong phòng và do đó nó trở thành một cái gì quan trọng vô cùng. Một cách âm thầm lặng lẽ, từ 20 năm nay, cái sọt vẫn chờ đợi giây phút được tôi bất chợt chăm chú nhìn ngắm nó như lúc này”.

Ngay cả con người trước mắt tôi, vì quá quen thuộc rồi nên tôi không còn bỡ ngỡ về con người. Nhưng giả sử có một thứ người khác, chẳng hạn người ở một hành tinh nào đó đáp xuống trái đất này, lần đầu tiên trông thấy con người chắc hẳn sẽ kinh ngạc vô cùng vì chân, tay, đầu tóc kia là gì, nhất là những tai, mắt, mũi, đối với ta là tai, mắt mũi, nhưng rất có thể đối với người ở hành tinh khác, đó chỉ là những lỗ hổng, kỳ dị, ghê sợ...

Trong cuốn truyện nổi tiếng Buồn nôn (La nausée), Sartre đã mô tả kinh nghiệm khám phá hiện hữu của một sự vật rất tầm thường là cái rễ cây. Ngày nào vào công viên mà Roquentin không thấy cái rễ cây ở bên cạnh ghế ngồi, nhưng vì đã quá quen thuộc, Roquentin bao giờ cũng chỉ trông thấy thoáng qua mà không để ý tới làm gì. Nhưng đến một lần, chàng để ý tới nó đột nhiên thấy “cái rễ xuất hiện như một cái rễ cây, bây giờ, ở đây và như thế đấy”. Chàng vô cùng kinh ngạc khi ý thức được rằng cái rễ cây có và có như một cái rễ cây. Vì tại sao nó lại không như một hòn đất và hơn nữa tại sao nó lại có chứ không phải có, rồi chàng cảm thấy, nó có bao nhiêu càng thấy không thể hiểu được nó. Nó có ở đây trước khi chàng biết nó có và có như thế đấy, nghĩa là như một rễ cây. Mọi sự đều vượt quá mọi giải thích, ý nghĩa. Và từ ý thức về hiện hữu của một vật, Roquentin đi đến ý thức về hiện hữu nói chung, rồi từ ý thức hiện hữu tổng quát, chàng nhận thấy tính cách vô thường, ngẫu nhiên, thừa thãi của hiện hữu, cuộc đời...

Vậy ý thức siêu hình là thức tỉnh, bừng dậy tra hỏi về ý thức cuộc đời, sau giấc ngủ triền miền trong cái hiển nhiên rõ rệt, hoàn tất, từ bất cứ một cái gì thuộc về cuộc đời vì bất cứ cái gì cũng có thể là đối tượng, là dịp gây thức tỉnh đưa đến một cái nhìn như khám phá lại vẻ kinh dị nguyên ủy, nền tảng của mọi sự như Merleau-Ponty đã nói: “ý thức siêu hình không có đối tượng nào khác ngoài kinh nghiệm hàng ngày: thế giới này, người khác, lịch sử nhân loại, chân lý, văn hóa. Nhưng thay vì lãnh hội chúng như những sự kiện hoàn tất một cách đương nhiên đã hẳn là thế, ý thức siêu hình khám phá lại vẻ kinh dị nền tảng của chúng đối với tôi và sự xuất hiện của chúng như một phép lạ”.

Ý thức siêu hình, sự thức tỉnh triết lý từ một kinh nghiệm sống thực, độc đáo, riêng tư, như thể lần đầu tiên và chỉ riêng mình có, thường là khởi điểm của suy tư triết học.

Thực ra các triết gia đều khởi từ một ý thức siêu hình để thiết lập hệ thống của họ. Nói khác đi, mọi hệ thống triết lý đều xuất phát từ một kinh nghiệm, một trình tự thắc mắc của triết gia về cuộc đời, sự tra hỏi bao giờ cũng khởi tử một kinh nghiệm sống động, từ một vị trí đặc biệt hiện sinh của người tra hỏi. Như Heidegger trong cuốn “Siêu hình là gì?” đã viết: “không có vấn đề siêu hình nào có thể đặt ra trong cái toàn thể của nó, mỗi lần phải đặt ra như thể nó xuất phát từ hoàn cảnh thiết yếu của thực tại nhân loại biết tra hỏi, ở đây, bây giờ, cho chúng ta”.

Đọc lại lịch sử chúng ta thấy Kant khởi từ kinh nghiệm một đêm nhìn những vì sao, ông thức tỉnh: vũ trụ có một trật tự. Kinh nghiệm đó là khởi điểm và là cái nền của triết học Kant. Hai tình cảm càng tăng dần nơi tôi: bầu trời sáng trên đầu tôi và luật lệ luân lý ở trong tôi. Tôi thấy chúng trước mắt, tức khắc tôi ràng buộc chúng vào ý thức tôi.

Descartes một lần cảm thấy một cách mãnh liệt sự dọa phạt của thượng đế. Sau khi chứng minh sự hiện hữu của thượng đế, ông dừng lại nhắc nhở mọi người phải phủ nhận tham vọng đó (Tôi thấy cần phải dừng lại một lúc nào đó để chiêm ngưỡng thượng đế toàn hảo, để cân nhắc những thuộc tính lạ lùng của ngài như một ánh sáng miên man kia, bao lâu lý trí còn sức lực cho phép tôi có thể nhìn ngắm mặc dầu ý thức đó có thể bị chói loà). Nhắc lại điều mặc khải nhận được trong một đêm, Descartes đã dùng chữ suy ngắm khác với suy tư, dùng danh từ chiêm ngưỡng và tránh dùng những danh từ chỉ sự suy tư. Khởi điểm và cái nuôi dưỡng triết học của ông, là ý thức sống động về thượng đế, là một niềm tin Công giáo. Và cuối cùng, triết học của ông cũng là để đưa về thượng đế.

Kierkegaard một lần cảm thấy một cách mãnh liệt sự dọa phạt của thượng đế giáng xuống ông và gia đình ông trong một đêm mưa bão sấm chớp ầm ầm. Tình cảm đó ông có trong một khoảnh khắc nhưng nó là chìa khoá cho triết học của ông. "Lúc đó bất động lớn và sự sụp đổ kinh khủng bày tỏ cho tôi một luật mới mẻ giải thích mọi sự run sợ vì cảm thấy tội lỗi trước thượng đế."

Trong đời phải có lần cảm thông với cái gì cao cả, đến nỗi mọi sự bên cạnh đều là hư không. Cái gì đó, không bao giờ ta quên đi, dù có thể quên tất cả mọi sự khác.

Jules Lequier, trong nhật ký của ông có ghi lại một lần ở vườn, sắp giơ tay hái lá, tôi kinh ngạc khám phá: một cử chỉ nhỏ bé có tác dụng vô hạn. Tôi có thể rút tay lại, điều này minh chứng sự tự do của con người. Cử chỉ nhỏ bé của tôi có thể đưa đến những hậu quả không thể lường trước (giơ tay lên, làm động lá cành, chim thấy động bay đi và người đi săn đang rình…) số phận của thế giới có khi chỉ lệ thuộc vào một cử chỉ nhỏ bé của ta. J.Lequier có kinh nghiệm đó về sự tự do và sự cao cả của con người. Triết học của ông xoay quanh kinh nghiệm này.

Do đó, có thể nói, cái siêu hình ở ngay trong con người, ở giữa lòng cuộc đời, vì nó bao hàm trong mỗi cử chỉ của con người ở mỗi sự kiện của cuộc đời. Vậy siêu hình học không xoá bỏ cuộc đời, cái hay thay đổi, cái cụ thể để thiết lập cái vĩnh viễn trường tồn trong một hệ thống trừu tượng tổng quát, nhưng là bắt đầu từ chính cái tầm thường cụ thể, cái nhỏ bé của cuộc đời. Không nói rằng triết lý là bàn cãi cao xa, do đó phải bỏ qua cái lặt vặt, tầm thường của đời sống hàng ngày, nhưng là ngạc nhiên và thắc mắc tại sao có cả tầm thường, tại sao cuộc đời người lại dệt bằng những cái tầm thường, những cái có vẻ vô nghĩa hay rất ít ý nghĩa. Ý thức siêu hình là suy tư từ chính những cái tầm thường đó như Merleau-Ponty viết: “Sự ngẫu nhiên vô thường của mọi cái có và đáng giá không phải là một chân lý nhỏ bé mà người ta phải tìm cách nhét nó vào một xó nào đó của một hệ thống, nhưng là điều kiện của cái nhìn siêu hình về cuộc đời."

Nhưng ý thức siêu hình, kinh nghiệm siêu hình phải đưa đến siêu hình học, nghĩa là đưa đến một suy tư có hệ thống mạch lạc. Người ta chỉ có thể trao đổi, thông cảm với nhau bằng ý niệm, hệ thống, bằng siêu hình học. Tuy vậy người khác tiếp nhận có thể không lãnh hội được ý thức siêu hình, không thức tỉnh như tác giả mà chỉ tiếp nhận siêu hình học một tri thức, một hệ thống vô ngã, trừu tượng.

Ý thức siêu hình không thể không đưa tới siêu hình học. Nhưng nếu siêu hình học chỉ còn là một tri thức, nhất là một tri thức tự mãn, khép kín, hoàn tất, thì càng bóp chết ý thức siêu hình là sự thức tỉnh, bất mãn, đặt lại vấn đề.

Có một cách làm cho siêu hình học là một tri thức không phải chỉ là một tri thức, đó là quan niệm siêu hình học như một giai đoạn của biện chứng ý thức siêu hình. Siêu hình học, ý thức siêu hình học…

Vậy có một biện chứng của ý thức siêu hình và siêu hình học, nói biện chứng nghĩa là chủ trương một tương quan thiết yếu giữa hai khía cạnh của cùng một thực tại. Lịch sử triết học, sinh hoạt triết lý đều bao gồm cả hai khía cạnh đó. Không thể có siêu hình học, triết học, nếu đã không có ý thức siêu hình. Tất cả những nhà triết học đều đã xây dựng hệ thống triết học của mình từ một kinh nghiệm sống thực bắt nguồn từ một sự thức tỉnh triết lý, một ý thức siêu hình về một vấn đề nào đó. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở ý thức siêu hình, không biến nó thành tri thức hệ thống thì cũng chưa có siêu hình học. Cho nên ý thức siêu hình phải đưa tới siêu hình học. Rồi siêu hình học lại phải đưa tới ý thức siêu hình, cứ như thế trong một vận chuyển biện chứng không ngừng xác định triết lý như một sinh hoạt, một lịch sử. Không thể dừng lại ở một giai đoạn nào, dừng lại ở siêu hình học, nghĩa là coi siêu hình học như một hệ thống tri thức, tức là bóp chết ý thức siêu hình. Hoặc nếu dừng lại ở ý thức siêu hình thì cũng là từ chối siêu hình học. Một siêu hình chỉ là siêu hình học khi được bày tỏ, biểu lộ ra bên ngoài bằng ngôn ngữ luận lý, chứ không phải được giữ trong tâm trí như một trình tự sống thực tư riêng, bí mật, một mình mình biết, một mình mình hay.

Có ý thức thắc mắc, tra hỏi rồi biểu lộ giải đáp. Sau đó lại ý thức, thắc mắc từ giải đáp nêu lên. Cứ như thế mãi mãi. Triết lý là toàn thể sinh hoạt nhận thức, tri thức đó.

Triết lý không phải là một trường hợp, những tri thức cũng không phải là một tri thức tuyệt đối, hoàn tất, nhưng là sự ý thức được tính cách tạm thời tương đối, hàm hồ của mọi nhận thức, mọi hệ thống.

Mỗi nỗ lực nhận thức và hệ thống hóa nhận thức từ ý thức siêu hình, không phải là nhằm thanh toán vấn đề, hay đi tới một giải đáp hoàn tất, nhưng là như đẩy xa hơn sự tra hỏi, thắc mắc xuất phát từ giai đoạn nhận thức vừa đạt tới.

Nguyễn Văn Trung (còn tiếp)