Menu

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > BA KIM SỐNG MÃI

In Memory of Ba Jin

BA KIM SỐNG MÃI

Thứ Ba 20, Tháng Mười Một 2007

"Ông ấy như một tấm gương; trước những dòng chữ tự suy ngẫm thấu triệt về bản thân ông, người khác soi vào đấy sẽ thấy rõ những vết chưa sạch trong linh hồn mình…"

Sinh nhật lần thứ 100 của Tiên sinh Ba Kim là một ngày vui mừng đối với giới văn nhân Trung Quốc có tinh thần trách nhiệm trước xã hội cũng như các bạn đọc Trung Quốc có lý tưởng.

Hơn 50 năm trước, khi đọc sách của Tiên sinh, tôi mường tượng thấy hình ảnh tác giả là một người vừa cao lớn vừa nghiêm trang. Sau khi cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá” kết thúc được ít lâu, Trung Quốc cử một đoàn đại biểu nhà văn sang thăm Nhật Bản do Ba Kim làm trưởng đoàn, tôi là thư ký của đoàn. Lần đầu tiên tôi được làm việc bên cạnh vị đại gia làng văn ấy, không ngờ lại xảy ra một chuyện đáng tiếc. Khi đoàn vừa đến khách sạn ở Tokyo đã phát hiện thấy thiếu mất kiện hành lý của trưởng đoàn. Ra sân bay tìm thì họ trả lời là không thấy Bắc Kinh gửi kiện hành lý ấy sang đây. Sáng hôm sau Thủ tướng Nhật sẽ tiếp Tiên sinh Ba Kim và đoàn nhà văn Trung Quốc, thế mà tất cả quần áo của Tiên sinh và các tặng phẩm chuẩn bị biếu Thủ tướng nước bạn lại đều nằm trong kiện hành lý kia cả. Việc này làm cho Tiểu Lâm con gái cụ Ba Kim, phiên dịch Trần Hỉ Nho và thư ký đoàn là tôi cuống cả lên. Ngài Furukawa ở Hội Hữu nghị Nhật-Trung và ông Tham tán Đại sứ quán Trung Quốc tại Tokyo biết chuyện đã thân chinh ra tận sân bay can thiệp, đề nghị họ liên lạc với Bắc Kinh. Kết quả điều tra cho thấy kiện hành lý của Tiên sinh Ba Kim bị gửi nhầm đi Thượng Hải. Chuyện này làm cho mấy người chúng tôi chẳng ai thiết ăn bữa tối nữa. Cụ Ba Kim tuy cũng rất lo nhưng không hề bực mình mà còn nhẹ nhàng an ủi chúng tôi : “Thôi, các vị cứ đi ăn cơm đã, việc này đâu có phải là trách nhiệm của các vị. Chớ có cuống quýt lên như thế! Ta tìm cách bổ cứu vậy. Thử xem ai có mang tặng phẩm nào thích hợp ta chọn lấy một thứ là xong thôi mà. Còn quần áo thì cứ tạm thời mượn cho tôi một bộ lễ phục là được. Làm cho mọi người cuống cuồng lên như thế này thì chỉ càng thêm rắc rối thôi, phải không?”

Thật may là nhờ có sự can thiệp của nhiều đơn vị hữu quan nên nửa đêm hôm ấy sân bay Thượng Hải đã kịp chuyển kiện hành lý đó đến Tokyo, chúng tôi đỡ được một mối lo hết hồn. Từ hôm ấy trở đi, tôi vô cùng cẩn trọng chỉ sợ lại xảy ra chuyện gì sơ suất nữa. Ai ngờ hôm đáp chuyến xe du lịch đi tham quan một nơi danh lam thắng cảnh, ông Akioka phụ trách Hội Hữu nghị Nhật-Trung ngồi bên cạnh tôi bất chợt hỏi: “Thưa ngài Đặng Hữu Mai, chẳng hay ngài có muốn trở lại thăm nơi thủa xưa ngài từng sống ở Nhật Bản hay không ạ? Nếu ngài muốn thì chúng tôi sẽ thu xếp!”
Vì hoàn toàn chưa có chuẩn bị gì về chuyện này nên khi nghe hỏi thế tôi ngây người ra như phỗng. Hồi ấy “Đại Cách mạng Văn hoá” vừa mới chấm dứt, tôi rất giữ ý chưa hề kể cho ai biết việc ngày xưa tôi từng lao động ở Nhật Bản. Không ngờ hồ sơ lưu trữ của người Nhật lại ghi chép rõ ràng như vậy. Tôi luống cuống trả lời qua quýt: “Cảm ơn ngài. Xin ngài cho phép để tôi bàn với cụ trưởng đoàn rồi sẽ phúc đáp ngài sau vậy.” Nói rồi tôi vội ngồi sang chỗ bên cạnh đồng chí Lâm Lâm phó trưởng đoàn, dè dặt báo cáo lại câu chuyện vừa rồi và thanh minh rằng tôi chưa hề kể cho các bạn Nhật Bản biết gì về lai lịch của mình, mà đây là họ chủ động nêu vấn đề ấy ra. Đồng chí Lâm Lâm gật đầu khẽ nói: “Tôi thông cảm với anh. Được thôi, chờ tôi bàn với cụ Ba Kim trưởng đoàn xong sẽ trả lời. Trước hết hãy cảm ơn họ đã.” Tôi ngồi về chỗ cũ, một lần nữa cảm ơn ông Akioka. Sau đấy tôi cứ thấp thỏm không yên, phỏng đoán chắc là lãnh đạo đoàn sẽ phải mất khá nhiều thì giờ để nghiên cứu vấn đề này đây. Khi xe đến địa điểm tham quan, đồng chí Lâm Lâm đến trước mặt Tiên sinh Ba Kim khẽ bàn bạc một lúc rồi vẫy tay gọi tôi lại. Đồng chí Lâm Lâm cười bảo: “ Trưởng đoàn đồng ý cho anh đi đấy!” Tiên sinh Ba Kim nhân hậu mỉm cười nói nhỏ với tôi: “Đi đi, cứ đi đi. Năm nào làm chú thợ học việc, giờ đây trở lại chốn cũ với tư cách đoàn đại biểu nhà văn Trung Quốc, điều đó nói lên sự thay đổi của đất nước Trung Quốc chúng ta! Hay lắm, hay lắm!”

Sau khi tới Hiroshima, cả đoàn đi thăm thành phố, riêng tôi được ngài Akioka dẫn đến huyện Yamachi. Trong hoạt động riêng tư này, lúc đầu tôi rất e ngại, nhưng chính là câu nói của Tiên sinh Ba Kim đã làm tăng lòng tự hào và tự tin của tôi, nhờ thế chuyến thăm nơi 30 năm trước tôi từng lao động đã trở nên rất thuận lợi và rất đàng hoàng.

Từ đó trở đi tôi càng đặc biệt đọc kỹ các bài viết của Tiên sinh Ba Kim, qua đó hiểu sâu hơn khí phách cao thượng luôn giữ mình trong sạch, chân thành làm người của cụ. Tiên sinh Ba Kim như một tấm gương; những dòng viết tự mổ xẻ bản thân, tự suy ngẫm theo cách “thận độc” (một phép tu thân của người xưa: dù sống một mình cũng vẫn nghiêm túc với bản thân) của Tiên sinh chẳng khác gì một tấm gương mà mọi người khi soi vào đấy sẽ thấy những vết nhơ trong tâm hồn mình.

Trong chuyến thăm Paris năm ngoái, khi dừng chân dưới bức tượng đồng Jean Jacques Rousseau 1 trong “Điện Thờ Danh nhân”, bên tai tôi như vẳng lên lời độc thoại của Tiên sinh Ba Kim năm 1979 khi ông đứng dưới bức tượng này:

“Hồi tưởng lại một buổi hoàng hôn trời lất phất mưa cách đây 52 năm, tôi đứng nơi đây nhìn lên nhà văn ‘mơ ước tiêu diệt áp bức bóc lột và bất bình đẳng’ này để thổ lộ nỗi đau khổ cô đơn của một thằng thanh niên nước ngoài. Tại đây tôi đã được tác giả cuốn ‘Sám hối’ an ủi và học được tác phong nói thật của ông.”

Kể từ đó trở đi, trong hơn nửa thế kỷ qua, dù là trong các tác phẩm lớn như “Bộ Ba Dòng nước xiết” hay trong các bài tản văn tuỳ bút ngẫu hứng, bao giờ Tiên sinh Ba Kim cũng nói lên tiếng lòng của một người yêu nước, một văn nhân có tinh thần trách nhiệm cao với xã hội. Đã có biết bao thanh niên sau khi đọc tiểu thuyết bộ ba “Nhà”, “Xuân”, “Thu” của Tiên sinh đã quyết tâm lật đổ xã hội cũ chuyên chế thối nát tàn khốc và dấn thân theo con đường làm cách mạng. Sau đợt dẹp loạn phục hồi trật tự (ý nói đợt chấn chỉnh trật tự xã hội sau khi “Đại Cách mạng Văn hoá” kết thúc), lại có biết bao người đọc các bài viết “Nói thật” trong “Tuỳ Tưởng Lục” mà được dịp tự suy ngẫm mổ xẻ bản thân, qua đó linh hồn họ bay bổng lên một cõi trời đất mới!

Hai chữ “Nói thật” tuyệt nhiên không phải như có kẻ châm biếm là chỉ có “trình độ lớp hai lớp ba tiểu học”. Khi viết về người khác mà nói sự thật đã không dễ chút nào, còn nói thật về chuyện của chính mình thì lại càng khó hơn. Đến nay “Đại Cách mạng Văn hoá” đã qua đi được gần ba chục năm, những nhân vật năm xưa bám chặt gấu váy của “Kỳ Thủ” (ý nói những kẻ bợ đỡ Giang Thanh vợ Mao Trạch Đông), nhờ phê phán đấu đá người khác mà ăn nên làm ra, nhờ viết các bài đại phê phán, nhờ diễn “Kịch Mẫu Cách Mạng” (một dạng hoạt động sân khấu do Giang Thanh dựng nên) mà được sủng ái – giờ đây khi kể lại chuyện cũ, thử hỏi có mấy ai trong số họ có thể “Nói Thật”? Ba Kim ngày ấy từng bị đánh gục xuống đất đen, bị hàng trăm hàng nghìn bàn chân dẫm đạp lên, thế mà giờ đây trong khi suy ngẫm về mình, Tiên sinh vẫn tự sám hối được. Ngay từ năm 1978, tức thời kỳ đầu đợt dẹp loạn phục hồi trật tự, Ba Kim đã đề xuất cần phải vượt qua nỗi đau cá nhân để viết lịch sử, từ mỗi người trí thức cho tới người bình thường, ai nấy đều cần phải tự suy nghĩ về trách nhiệm của chính mình (đối với cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá”).

Nói thật, làm một người chân thành – phải lấy đạo đức làm tiêu chuẩn, dám mạnh dạn và siêng năng mổ xẻ linh hồn mình, tự trách mình, tự phán xét mình, đạt tới cõi “Thận Độc”. “Nói Thật” có các góc độ khác nhau và tầng nấc khác nhau. Bản thân tôi trải qua mười năm nhọc nhằn vất vả, sau khi được phục hồi cũng từng viết những lời thổ lộ tâm can, vạch tội ác của một số người trong hoàn cảnh lịch sử ấy; tôi tự cho mình là hoàn toàn “chân thành” nhưng rất ít nhắc tới tâm trạng kín đáo giấu giếm của mình ngày ấy, lại càng chẳng nghĩ đến việc bản thân mình cũng cần phải gánh lấy trách nhiệm đối với cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá”. Qua việc soi tấm gương sáng của Tiên sinh Ba Kim, tôi nhận ra ngay sự hèn yếu và giả tạo trong chỗ sâu kín của linh hồn mình. Hãy xem Ba Kim nói về bản thân Tiên sinh ra sao:

Tôi nghĩ mình lớn lên trong một gia đình địa chủ quan lại, tiếp nhận đủ kiểu dạy dỗ của xã hội cũ, gia đình cũ, tiếp xúc với bao nhiêu con người của xã hội cũ, gia đình cũ; bởi thế rất có thể tôi nhìn người, nhìn sự việc với con mắt của địa chủ phong kiến. Càng nghĩ, tôi càng cảm thấy “Phái Tạo phản” là có lý, càng nghĩ tôi càng cảm thấy mình có tội. Họ bảo tôi là đứa con hiếu thảo của giai cấp địa chủ – tôi thừa nhận. Bảo tôi viết “Dòng nước xiết” là ca ngợi giai cấp địa chủ – tôi thừa nhận. Năm 1978, chúng tôi đi “Lao động ba mùa thu”, tôi bị lôi ra bờ ruộng cùng với các địa chủ trong vùng ấy chịu đấu, tôi cũng cúi đầu nhận tội …… Tôi hoàn toàn dùng đầu óc của kẻ khác để suy nghĩ. Kẻ khác thét lớn “Đả đảo Ba Kim”, tôi cũng giơ cao cánh tay phải hưởng ứng theo. Bây giờ khi nghĩ lại các cử chỉ ấy, tôi thấy hơi khó hiểu. Song hồi ấy tôi đâu có giả vờ làm thế, mà tôi thật lòng tỏ ý mình tự nguyện để người ta đánh gục xuống đất đen, để từ đó bắt đầu làm lại mọi thứ, làm lại cuộc đời. Tôi còn quyết tâm chịu đựng gian khổ để hoàn thành công cuộc tự cải tạo mình. Thậm chí tôi còn khổ tâm vì “Phái Tạo phản” không thông cảm với nguyện vọng ấy của mình. Tôi tự nhủ: “Họ không tin mày, chẳng sao. Mày nhất thiết phải vượt qua được thử thách này.” Sau mỗi đợt phê đấu, theo thông lệ, “Phái Tạo phản” đều bắt tôi viết “Báo cáo tư tưởng” ……Lần nào tôi cũng thừa nhận các ý kiến họ phê phán tôi đều đánh trúng chỗ hiểm của tôi; sự phê đấu ấy thực sự là để cứu vãn tôi, “Phái Tạo phản” là cứu tinh của tôi.

Nhớ lại hồi đầu thập kỷ 70, khi tôi đang ở “Trường cán bộ mồng 7 tháng Năm” tại Phụng Hiền, có một vị tham gia “Phái Tạo phản” trong Tổ Giám sát (cũng từng làm trùm sò Tổ chuyên gia của tôi, hoặc “Tổ đánh gục Ba Kim”) viết một bài báo có đầu đề “Ghi chép cảnh xem trâu”, rất đắc ý giễu cợt bộ dạng xấu xa của ‘Lũ trâu bò’ (ý nói những người bị phê phán là phản cách mạng, hồi ấy họ bị “Phái Tạo phản” phê đấu và nhốt trong chuồng trâu) …… Trên giường bệnh, trong khi nhớ đi nhớ lại cuộc sống 10 năm thân trâu ngựa của mình, tôi luôn tự trách bản thân: chỉ có mù quáng sùng bái thì mới có thể biến con người thành “con trâu”, và bản thân mình vẫn có trách nhiệm trong việc đó.

Vào hồi ấy tôi chưa từng đăng đàn phê đấu bất cứ ai, tất cả cũng chỉ vì chưa có dịp mà thôi. Giả dụ được xuất đầu lộ diện thì tôi sẽ coi đó là một dịp may mắn nhường nào. Tôi thường nghĩ và cũng thường nói thế này: trong thời kỳ cao trào “Sáng thỉnh thị, tối báo cáo” rầm rộ hăng hái nhất, nếu nhỡ ra tôi được giải phóng và trọng dụng thì biết đâu đấy tôi có lẽ cũng đã làm khối chuyện ngu xuẩn, thậm chí cả việc xấu xa nữa cơ. Hồi đó ai nấy đều coi việc ‘bám sát” (bám sát phong trào) là một vinh dự; chỉ vì chưa có cái tư cách trung thành (với lãnh tụ tối cao) nên sau khi tham gia phong trào chưa được bao lâu thì tôi đã bị trên lệnh cho ra rìa, nhờ thế tôi mới dễ dàng giữ được sự trong sạch của riêng mình.

Tự vấn chính mình – một hoạt động tâm lý như thế sao tôi lại chưa từng có ? Trong hai mươi mấy năm cải tạo bị giám sát, những việc xấu xa tôi từng làm thì nhiều hơn nhiều so với Tiên sinh Ba Kim, chỉ có điều tôi không có dũng khí để phơi bày chúng ra giữa ban ngày ban mặt mà thôi.
Tiên sinh Ba Kim mang theo tâm trạng sám hối dám phơi bày ra trước công chúng kết quả mổ xẻ linh hồn ông; thật may chính là trong cuộc tự giải phẫu tàn nhẫn ấy, ánh sáng đạo đức của Tiên sinh đã loé lên. Đọc “Tuỳ Tưởng Lục” của Tiên sinh Ba Kim khiến ta nhận thấy sự phục hồi nhân cách đạo đức con người; bởi lẽ khi tự phán xét biểu hiện của mình trong các phong trào kể trên, Tiên sinh đã nhìn nhận thấy khoảng cách thua kém so với tiêu chuẩn đạo đức nhân cách bản thân ông từng xác lập hồi xưa. Tiên sinh đã tách khỏi các tiêu chuẩn làm người như chính nghĩa, giúp đỡ lẫn nhau, hy sinh bản thân mà ông tin theo hồi thập kỷ 20 thế kỷ trước, khi Tiên sinh dịch cuốn “Luân lý học” của Kropotkin 2 . Tiên sinh thừa nhận: trong các phong trào ấy ông chưa dùng những chuẩn mực đó để sống, để làm người; vì để bảo toàn bản thân mà ông đã viết kiểm thảo, đã nói những lời dối trá, đã phê phán người khác. Rõ ràng đây là một lần thăng hoa về nhân cách đạo đức của Tiên sinh.

Trong Đại hội Nhà Văn Quốc tế họp ở Tokyo, Tiên sinh Ba Kim đọc tham luận “50 năm đời sống văn học”, trong đó có đoạn nói về “Đại Cách mạng Văn hoá”. Ba Kim nói: “Tôi cho rằng vụ Đại hoạ Mười năm ấy là một sự kiện lớn trong lịch sử loài người, nó không những có liên quan tới chúng tôi mà tôi thấy nó còn có liên quan đến toàn thể nhân loại. Nếu nó không xảy ra ở Trung Quốc hồi ấy thì sau này nó có thể sẽ xảy ra ở nơi khác.”
Sau khi Tiên sinh Ba Kim phát biểu xong, một bạn người Nhật vội đến bảo ông: “Ngài đã tự phê bình chính mình. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một người nói như thế. Còn những người khác đều hoàn toàn đảy trách nhiệm cho Lũ Bốn Tên”. Lúc ấy Ba Kim chỉ cười cười không nói gì. Sau này Tiên sinh bảo chúng tôi: “Câu nói ấy của ông ta thật là bất ngờ, khiến tôi vã mồ hôi trán. Đêm khuya yên vắng suy ngẫm lại, tôi thấy mình chỉ mới chạm nhẹ vào lương tâm của tôi mà thôi, chứ còn xa vẫn chưa mổ xẻ chính mình. Muốn tiếp tục tiến lên còn phải đi một chặng đường dài nữa cơ.”

Trước việc Tiên sinh Ba Kim tự mổ xẻ, tự phán xét, tự lên án bản thân ông, các bạn của Tiên sinh có những ý kiến khác nhau. Có người lo lắng cho ông. Có người bất bình thay cho ông. Có người bảo: “Cái tâm của ông thật tốt, nhưng ông chẳng còn làm gì được nữa đâu. Hãy cứ nằm xuống sống nốt những năm cuối đời một cách yên ả đi, ông ơi!” Cũng có người bảo: “Chẳng phải vẫn có những người mãi mãi đúng đấy ư ? Sao ông có nhìn mà không thấy? Hãy nghe tôi khuyên đây, ông chớ nên viết lách gì nữa, chớ có xuất bản tập này tập nọ, chẳng nên lưu lại bất kỳ câu chữ nào viết ra trên giấy; có như thế thì ông cũng sẽ chẳng bao giờ mắc sai lầm nào cả.” Còn có người thẳng thắn nói: “Ông còn muốn bị thẩm tra nữa ư? Chẳng lẽ kiếp sống chuồng trâu 10 năm vẫn còn chưa làm ông chán ghét hay sao?”

Song Tiên sinh Ba Kim nói: “Điều quan trọng nhất đối với một nhà văn là lương tâm nghệ thuật.” “Tôi từng nghĩ thế này: nếu tôi không làm bản tổng kết cuộc sống đau khổ ấy, thông qua việc triệt để mổ xẻ bản thân để bắt đầu làm rõ mọi chuyện xảy ra ngày ấy, thế thì chưa biết sẽ có một ngày nào đó tình hình thay đổi, tôi lại trúng phải thuật thôi miên, vô duyên vô cớ biến thành một kẻ khác. Điều đó đáng sợ quá! Đây là một món nợ về tâm linh mà tôi phải sớm trả hết. Nó như một cái roi quất vào trái tim tôi ……”

Bởi lẽ đó, Ba Kim kiên định nói: “Tôi còn phải viết tiếp Tuỳ Tưởng Lục, bắt đầu bằng việc mổ xẻ chính mình, phê phán chính mình. Tôi viết lách cũng là tôi đào bới, khai quật linh hồn mình. Phải đào cho thật sâu nữa, nhìn cho thật rõ hơn nữa. Nhưng càng đào sâu thì lại càng đau lòng và cũng càng khó đào. Viết tiếp chẳng phải là một việc dễ dàng gì. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải cố viết, cố đào. Tôi tin rằng cố gắng của mình không phải là vô ích.”

Sở dĩ Ba Kim có được dũng khí và nghị lực như thế, đó là do 60 năm trước Tiên sinh từng thề nguyền: “Hãy dùng tôi làm một thanh củi. Tôi bằng lòng đốt cho xương tan thịt nát để tăng thêm chút hơi ấm cho mọi người.”
Giờ đây, để kỷ niệm tốt nhất ngày sinh lần thứ 100 của Tiên sinh Ba Kim, chúng ta hãy nhớ lấy câu tự răn mình của Tiên sinh: Gắng hết sức mình nói nhiều lời chân thật, gắng hết sức mình ít làm những điều trái với lương tâm!

Đặng Hữu Mai (Trung Quốc), “Độc thư văn trích” số 2 năm 2004

Người dịch: Nguyên Hải

Ghi chú của người dịch

1. J. J. Rousseau (1712-1778) : người Pháp, nhà tư tưởng, nhà văn có ảnh hưởng lớn đối với cuộc Đại Cách mạng Pháp và văn học lãng mạn châu Âu thế kỷ XIX.

2. P. A. Kropotkin (1842-1921): nhà địa lý học người Nga, xuất thân quý tộc, theo chủ nghĩa vô chính phủ, tham gia Quốc Tế I phái Bakunin; bị đi đày do tham gia Phong trào Dân Tuý.

3. Cuộc “Đại Cách mạng Văn hoá” (1966-1976) có sự tham gia của toàn dân TQ, kể cả các nhà trí thức tuy họ thừa biết là sai; thế nhưng sau đó hầu như mọi người đều đổ hết lỗi cho một số ít cán bộ lãnh đạo (“Lũ 4 Tên”). Riêng nhà văn Ba Kim cho rằng để tránh tái diễn tai hoạ đó, mọi người cần phải tự phán xét. Dù tuổi cao sức yếu nhưng cuối đời Ba Kim vẫn dành mấy chục năm liên tục viết nhiều bài hồi ký, về sau in thành mấy tập “Tuỳ Tưởng Lục” (“Nghĩ lan man”) dùng phong cách “Nói thật” tự phê phán, mổ xẻ cái hèn yếu của ông (cũng là của giới trí thức nói chung), tự nhận định mình cũng có lỗi. “Tuỳ Tưởng Lục” thể hiện nhân cách cao thượng hơn người của Ba Kim, đã gây tiếng vang rất lớn trong giới trí thức TQ, những người vốn muốn quên đi tấn thảm kịch mà chính họ vừa là nạn nhân vừa là “diễn viên”.

CHÚ THÍCH CỦA ĐT

BA KIM (Ba Jin) tên thật là Lý Nghiêu Đường (Li Yaotang) sinh năm 1904, mất năm 2005. Bút danh Ba Kim dùng từ 1928, nổi tiếng nhờ tiểu thuyết "Diệt vong" (Destruction, 9.1928) viết khi học tại Pháp. Từ 1929 đến 1949, viết khoảng 20 bộ tiểu thuyết, nổi tiếng nhất là "Bộ ba dòng thác" gồm các tiểu thuyết "Gia", "Xuân", "Thu" (1933-40). Sau ngày thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (10.1949), Ba Kim làm chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc, chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thượng Hải. Những năm 1966-76, ông bị Đại cách mạng văn hoá đàn áp và phê phán kịch liệt. Năm 1978, ông được phục hồi và bầu vào Hội nghị Chính trị Hiệp thương (Quốc hội); năm 1981 lại làm chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc.