Menu

Trang nhà > Quan niệm > Nho giáo > Về trào lưu phục hồi Nho giáo ở Trung Quốc

Về trào lưu phục hồi Nho giáo ở Trung Quốc

Chủ Nhật 2, Tháng Mười Hai 2007

Cả Trung Quốc lên “Cơn sốt Quốc học”

Trên đại lục Trung Quốc (TQ) hiện đang diễn ra trào lưu phục hồi Nho giáo rất sôi nổi, báo chí gọi là “Cơn sốt Quốc học” – với Quốc học là tên gọi chung nền học thuật của văn hóa truyền thống TQ, trong đó quan trọng nhất là tư tưởng Nho giáo. Trào lưu này từ giới học thuật lan ra thành phong trào toàn dân. Các trường đại học đua nhau lập cơ quan nghiên cứu Nho giáo, như ĐH Nhân dân TQ lập Quốc học viện, ĐH Thanh Hoa lập Viện nghiên cứu văn hóa tư tưởng, Viện khoa học xã hội TQ lập Trung tâm nghiên cứu Nho giáo, ĐH An Huy lập Viện nghiên cứu văn hóa truyền thống… Trường Đảng Trung ương tổ chức báo cáo “Một số vấn đề trong Cơn sốt Quốc học hiện nay”. Cuối năm 2005, ĐH Bắc Kinh mở Lớp Quốc học Càn Nguyên chỉ nhận cán bộ cấp vụ trở lên hoặc giám đốc doanh nghiệp, học 3 năm một khóa; học phí 3000 USD/năm mà cung không đủ cầu. Số lượng các bài báo và sách viết về Nho giáo tăng vọt. Người ta tổ chức nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế về Nho giáo. Báo mở trang Quốc học; đài truyền hình mở diễn đàn Quốc học. Như đài truyền hình trung ương mở “Diễn đàn trăm nhà”, học giả Diêm Sùng Niên lên nói về các vua nhà Thanh, Vương Lập Quần nói về “Sử ký” thu hút hàng triệu khán giả. Website “Tân lãng” mở Blog Càn Nguyên Quốc học; nhiều đài phát thanh mở “Kênh Quốc học”. Ngoài phố ngày càng thấy nhiều người mặc trang phục cổ (Hán phục). Trong các trường tiểu học và trung học, thường thấy cảnh các em nhỏ mặc Hán phục ngồi xếp bằng tròn dưới đất đọc “Kinh”, tức các sách kinh điển của TQ cổ đại, như Luận Ngữ, Tam Tự Kinh.

Học sinh mặc Hán phục

Tối tối, các gia đình háo hức theo dõi chương trình “Diễn đàn Quốc học” trên ti vi… Đỉnh cao của cơn sốt này là “Hiện tượng Vu Đan” được coi là sự kiện văn hóa nổi bật nhất TQ hiện nay. Trong hai đợt nghỉ dài ngày dịp quốc khánh năm ngoái và Tết Đinh Hợi vừa qua, bà Vu Đan giáo sư ĐH Sư phạm Bắc Kinh thuyết trình mấy buổi liền trên truyền hình về “Thu hoạch đọc Luận ngữ” rồi “Thu hoạch đọc Trang Tử”, được cả nước nhiệt liệt hoan nghênh. Hai cuốn sách cùng tên của bà in 4 triệu cuốn bán hết ngay. Vừa qua Vu Đan 42 tuổi được bình chọn vào vị trí số 3 trong số 50 phụ nữ đẹp nhất TQ năm 2007, vượt xa các ngôi sao điện ảnh Củng Lợi, Triệu Vi, Chương Tử Di. Tạp chí Mỹ Forbes xếp bà vào danh sách 100 danh nhân của TQ năm nay.

Bối cảnh xuất hiện trào lưu phục hồi Nho giáo

1. Tâm lý tự hào, hãnh diện của người TQ trước bước tiến thần kỳ của dân tộc mình. Sau hơn 20 năm cải cách mở cửa, TQ thực hiện được sự trỗi dậy hòa bình, tạo ra bước ngoặt lớn trong đời sống mọi mặt xã hội, chính trị, kinh tế; hơn 1,3 tỷ dân được hưởng mức sống “Tiểu khang”; địa vị quốc tế của TQ nâng cao đáng kể, trở thành cường quốc kinh tế, chính trị, quân sự. Thập niên 70-80 thế kỷ XX, khi Nhật Bản và 4 Rồng nhỏ châu Á thuộc “Vành đai văn hóa Nho giáo” làm nên huyền thoại cất cánh kinh tế, có thuyết cho rằng đó là nhờ tác động của văn hóa Nho giáo. Tương tự, ngày nay sau bao năm bị chèn ép sỉ nhục, TQ đã thực hiện sự trỗi dậy vĩ đại, người TQ tự hỏi vì sao mình làm được như vậy; cuối cùng họ đi tới ý nghĩ đó là do tác động của nền văn hóa truyền thống Trung Hoa. Bởi thế họ cần học tập nghiên cứu và phục hưng nền văn hóa ấy, trong đó Nho giáo là phần quan trọng nhất, và qua đây họ có thể tỏ rõ cho thế giới biết các giá trị độc đáo mà dân tộc mình sở hữu, những gì tượng trưng cho tinh thần và văn hóa dân tộc Trung Hoa, làm cho họ khác với người Mỹ, người Nhật ...

2. Mặc cảm tự ty về văn hóa truyền thống và nỗi lo để mất nó. Văn hóa là lực ngưng tụ các giá trị của dân tộc, nhưng văn hóa TQ hiện nay chưa tương xứng với địa vị cường quốc của nước này. Văn học đương đại TQ chưa được thế giới coi trọng, bị chính các học giả TQ xem thường; thậm chí một nhà Hán học người Đức chê là “rác rưởi” và nêu câu hỏi: tại sao dân Ireland ít lại có mấy giải Nobel văn còn dân TQ đông thế thì chưa. Nhà văn Đài Loan Lý Ngao nói “không đáng bàn đến các nhà văn đại lục”. Điện ảnh TQ dù cố gắng đổ tiền của làm cho hợp với “gu” của phương Tây mà vẫn chưa được giải Oscar nào. Tuy đã sắp phóng vệ tinh thăm dò Mặt Trăng nhưng TQ cũng chưa có giải Nobel khoa học…Trong khi đó thì suốt hơn 100 năm qua chính người TQ lại hạ bệ nền văn hóa truyền thống của mình, từ Thái Bình Thiên Quốc (1851), phong trào Tân Văn hóa (1919) tới “Cách mạng văn hóa” (1966-76) và gần đây nhất, trong “Cơn sốt văn hóa phương Tây” (chủ yếu thảo luận triết học Nietzsche và Sade) hồi thập niên 80, không ít học giả TQ cho rằng văn hóa truyền thống TQ là văn hóa Hoàng thổ, khép kín, không có cơ chế tự đổi mới, còn văn hóa phương Tây là văn hóa biển cả, cởi mở, luôn tiến lên. Có người nêu câu hỏi: Phải chăng văn hóa TQ hiện đại đang ở vào thế “hổ thẹn khó nói” trước văn hóa phương Tây và văn hóa truyền thống TQ? Mặt khác, trong giao lưu văn hóa quốc tế, người TQ ngày càng thấy cần có ý thức về chủ thể văn hóa của mình, đó là văn hóa truyền thống. Hiện nay TQ đang cuốn vào dòng thác toàn cầu hóa kinh tế, cái gọi là bá quyền văn hóa phương Tây xâm nhập khắp thế giới; người TQ lo ngại nền văn hóa truyền thống của họ có thể vì thế mà mất dần. Hiện nay xuất khẩu văn hóa của TQ chỉ bằng 1/14 nhập khẩu… Các tình hình trên đã gây ra tâm trạng tự ti văn hóa, động chạm tới tình cảm tự tôn dân tộc; nó kích thích người TQ đi tìm lại sự tự tin, tự hào văn hóa bằng cách trở về với nền văn hóa dân tộc, và phục hồi, bảo vệ nó. Người TQ tin rằng phục hưng văn hóa sẽ đưa đến sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa – ước mơ ngàn đời của họ.

3. Đời sống tinh thần và tâm linh trống rỗng, thiếu đức tin. Xã hội TQ gặp nhiều vấn đề nan giải: càng giàu lên thì đạo đức xã hội càng xuống cấp, tệ nạn xã hội càng lắm, phổ biến coi hưởng thụ và đồng tiền là trên hết, giả dối lừa đảo và tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới, phân hóa giàu nghèo ngày một gay gắt, trẻ em hư, tình cảm gia đình phai nhạt … khiến nhiều người cảm thấy đời sống tinh thần và tâm linh bơ vơ không còn chỗ bấu víu; nhất là sau khi Liên Xô tan rã, xuất hiện các thuyết CNXH thất bại, chủ nghĩa Mác lỗi thời. Lẽ tự nhiên họ phải tìm đến Nho giáo – học thuyết dạy cách làm người, đạo lý đối nhân xử thế. Họ muốn việc phục hồi đạo Nho có thể giúp thức tỉnh lương tri xã hội và các lực lượng chính nghĩa, từ đó chấn chỉnh lại tình trạng đạo đức. Vu Đan nói: Luận Ngữ dạy ta cách tìm được niềm vui tâm linh trong đời sống hiện tại, thích ứng với trật tự hàng ngày, tìm cho ta chỗ đứng trong xã hội. Dư Anh Thời nhận xét: mọi người muốn tìm kiếm chút quan niệm giá trị, vì thiếu nó thì không biết phải trái, không biết nên sống thế nào, do đó họ phải tìm đến Kinh Thánh của TQ, tức sách Luận Ngữ. Lý Trạch Hậu nói: Sau khi thời cách mạng đã qua, người ta muốn tìm kiếm một tín ngưỡng để an thân lập mệnh, biết cách ăn ở, do đó họ tìm đến Khổng Tử.

Thái độ của chính quyền TQ đối với việc phục hồi Nho giáo

Tuy chưa hề đưa ra tuyên bố nào, song trên thực tế Lãnh đạo TQ tỏ ra ủng hộ trào lưu phục hồi Nho giáo. Từ giữa thập niên 80, nhà nước cấp kinh phí cho một nhóm học giả nghiên cứu Nho giáo. Tuy mới đầu bị chụp mũ “phái bảo thủ văn hóa”, đi ngược chủ nghĩa Mác, nhưng nhóm này ngày càng chứng minh được là các giá trị quan của Nho giáo có thể tác động tích cực đối với việc xây dựng xã hội mới ở TQ.

Thập niên 90, ở TQ từng xuất hiện tình trạng Ki-tô giáo, Pháp Luân Công [1] và một số hình thái ý thức dân tộc chủ nghĩa cực đoan muốn khỏa lấp khoảng trống đời sống tinh thần trong xã hội; đồng thời các mâu thuẫn nội bộ nhân dân ngày càng gay gắt, đặc biệt nông dân rất bất mãn với việc phân phối thành quả phát triển kinh tế (năm 2005 xảy ra 87.000 vụ xung đột bạo lực ở nông thôn; dân gian có câu Phát triển làm lợi cho cả nước, trừ nông dân, công nhân và phụ nữ). Tình hình trên đe dọa sự ổn định chính trị; bởi vậy chính quyền TQ đã tỏ ý khuyến khích phục hồi Nho giáo – hình thái ý thức truyền thống xưa kia từng được xã hội TQ tôn trọng nhất, tuy bị hạ bệ nhưng vẫn tồn tại dai dẳng trong mỗi người dân. Là học thuyết dạy mọi người cách sống cho yên ổn theo khuôn mẫu đạo đức an thân lập mệnh và xác định niềm tin vào cuộc sống, Nho giáo có tác dụng ổn định xã hội, nhất là các quan điểm hòa nhi bất đồng, luân lý hiếu đễ… Sử dụng học thuyết này là cần thiết cho xã hội TQ hiện nay; nó cũng tô đậm “màu sắc TQ” của đường lối “xây dựng CNXH có đặc sắc TQ” mà lãnh đạo TQ thường tuyên truyền.

Lần đầu tiên người ta thấy các nhà lãnh đạo TQ sử dụng những ngôn từ của đạo Nho. Tháng 2/2006 Chủ tịch Hồ Cẩm Đào phát biểu: Khổng Tử từng nói Hòa vi quý. Mấy tháng sau, ông chỉ thị TQ phải xây dựng xã hội hài hòa – theo các nhà Nho giải thích, chủ trương đó dựa trên quan điểm Hòa (và Nhân) là các tư tưởng cơ bản của Nho giáo. Báo Phương Nam cuối tuần ngày 12/10/2006 dẫn tư tưởng Quân tử hòa nhi bất đồng trong Luận Ngữ và “chẻ đôi” từng chữ để giải thích từ hài hòa (hòa hài): có hòa (thóc lúa) vào khẩu (miệng) là để hòa – ý nói sự yên ổn của cá nhân và xã hội; con người giai (đều) có thể ngôn (nói) để thành hài – ý nói sự dân chủ và tự do ngôn luận.

Nhắc lại tư tưởng Khổng Tử, ông Hồ nói TQ nên phát huy mỹ đức thành thật, đoàn kết, thắt chặt quan hệ Nhà nước với nhân dân, xây dựng quan niệm vinh nhục XHCN. Quan điểm mới này cho thấy TQ muốn áp dụng đức trị (song song với pháp trị), dĩ nhân vi bản, nhấn mạnh tu dưỡng đạo đức – đều là các quan điểm của Khổng Tử.

Chủ trương xây dựng xã hội hài hòa nhằm nói lên Đảng CSTQ quan tâm công bằng tới lợi ích của tất cả các giai cấp trong nước, mặt khác cũng nhằm giảm bớt tâm lý lo sợ “Sự đe dọa của TQ” xuất hiện ở phương Tây. Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc xây dựng xã hội hài hòa: “Cơn sốt Quốc học” đã làm cho tâm lý của quần chúng được an ủi, ổn định. Dư Anh Thời nhận xét: Nhà nước muốn Luận Ngữ gây được tác dụng xã hội hài hòa, mọi người có thể an bần lạc đạo, nghèo mà vui cũng chẳng sao, qua đó giảm số người bất mãn với hiện trạng.

Trong bước đầu phục hồi văn hóa truyền thống, “Đề cương quy hoạch phát triển văn hóa trong Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ XI” (2006-2010) quy định trong giáo trình ngữ văn bậc trung học phải nâng cao tỷ lệ văn mẫu của các sách kinh điển truyền thống và thi từ; các trường ĐH phải bố trí giờ học ngữ văn TQ. Ngoài ra, bộ máy truyền thông và xuất bản phát hành của trung ương và địa phương được huy động để “tăng nhiệt” cho “Cơn sốt Quốc học”. Nhiều websites Nho học xuất hiện. Chính phủ TQ bỏ tiền mở 100 Học viện Khổng Tử (kiểu như Viện Goethe, Viện Puskin…) trên khắp thế giới để dạy chữ Hán và văn hóa TQ cho người nước ngoài; từ 2004 tới nay đã lập được hơn 80 viện ở 36 nước (hiện mới chỉ dạy chữ Hán) …

Các chủ trương mới nói trên cho thấy lãnh đạo TQ đã bắt đầu chú trọng tăng cường sức mạnh mềm (soft power, gồm: sức hút của văn hóa, ái lực của các chính sách đối nội, tính hợp lý và uy tín đạo đức của đường lối đối ngoại; đều là sức mạnh nhân văn), đồng bộ với việc tăng sức mạnh cứng (quân sự, kinh tế). Việc thu hồi Đài Loan rất có thể chỉ thực hiện được bằng sức mạnh mềm. Một quốc gia muốn có ảnh hưởng lớn trên thế giới thì phải làm sao để các giá trị của mình được người khác tiếp thu. Trong “Sources and Limits of Chinese ’Soft Power’ ”, Bates Gill và Yang Zhong Huang nói văn hóa là một nguồn lực quan trọng của sức mạnh mềm mà các quốc gia cần có để duy trì địa vị quốc tế của mình, nhất là nước lớn. Có lẽ TQ đã nhận thấy hiện nay họ chưa đạt tiêu chuẩn cuối cùng trong số 4 tiêu chuẩn cường quốc (do Brzezinski đề ra trong sách Grand Chessboard), là kinh tế phát triển, quân sự mạnh, khoa học kỹ thuật mạnh và văn hóa có sức hấp dẫn. Bởi vậy lẽ đương nhiên chính quyền ủng hộ phục hồi Nho giáo – phần quan trọng nhất trong văn hóa truyền thống. Tuy vậy, đây là một vấn đề rất phức tạp và tế nhị, có lẽ vì thế Nhà nước TQ chưa chính thức tỏ thái độ.

Quan điểm của các học giả Trung Quốc

Giới học thuật TQ có thái độ khác nhau đối với trào lưu phục hồi Nho giáo. Sự xuất hiện trào lưu này nói lên kết quả đấu tranh giữa ba phái trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng ở TQ: tiếng nói của phái Mác-xít và phái Tự do (phái phương Tây hóa) ngày một nhỏ dần, còn phái Bảo thủ văn hóa (chủ trương phục hồi Nho giáo) thì ngày càng mạnh và hiện đã thắng thế. Năm 1999, lần đầu tiên sau 50 năm, TQ tổ chức kỷ niệm 2550 năm sinh Khổng Tử; Phó chủ tịch Hội Nho học TQ nói thời kỳ phục hưng đạo Khổng đã tới. Năm 2005 hoạt động này được tổ chức rầm rộ hơn nhiều. Trong kỳ họp Quốc hội tháng 3/2005, một số đại biểu đề nghị phục hồi đạo đức nhân-nghĩa-lễ-trí-tín và đưa Tứ thư ngũ kinh vào bậc trung-tiểu học và sát hạch công chức…

Xu hướng coi nhẹ văn hóa truyền thống TQ ngày một yếu dần. Ngày nay người ta giải thích phong trào Tân Văn hóa (do Lỗ Tấn, Hồ Thích đại diện) theo cách khác, coi đó là do nhu cầu của thời đại: ngày ấy cần khai sáng và cứu vong dân tộc Trung Hoa hèn yếu trước sự xâm lấn của các cường quốc phương Tây về mọi mặt; chỉ có tiếp thu khái niệm dân chủ và khoa học thì mới giữ được quốc gia, giống nòi. Giờ đây dân tộc Trung Hoa đã trỗi dậy không còn bị ai bắt nạt nữa; trong bối cảnh toàn cầu hóa, tin học hóa, khi hòa vào trào lưu văn hóa đa nguyên hóa và đối thoại giữa các nền văn minh, người TQ cần giữ được bản sắc của mình; chủ đề của thời đại này là phục hưng văn hóa dân tộc, với TQ là phục hưng Nho giáo.

Thành công của Vu Đan trong diễn giảng Luận Ngữ càng chứng tỏ điều ấy. Tuy có một số ít người phê phán Vu Đan hiểu sai và “dung tục hóa” đạo lý Khổng Mạnh, song đa số đều khen bà đã đưa học thuật cao siêu ra khỏi “tháp ngà”, đến với quần chúng, mở ra cục diện mới cho việc truyền bá văn hóa truyền thống, tiếp sức sống mới của nền văn hóa đó cho sự phát triển xã hội đương đại; là phục vụ cho sự nghiệp phục hưng văn hóa truyền thống. Lịch sử cho thấy, sự phục hưng này thường có ngòi nổ là việc tái giải thích các sách kinh điển; người ta hy vọng “Hiện tượng Vu Đan” sẽ châm ngòi nổ đó, và coi đây là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu thời đại phục hưng văn hóa TQ. Giáo sư Dư Đôn Khang ở Viện Khoa học xã hội TQ nói: “Chúng ta chờ đã 50 năm, giờ đây thời đại phục hưng văn hóa TQ rốt cuộc đã đến.”

Suy nghĩ trên còn xuất phát từ niềm tin vào hệ luận nổi tiếng của Karl Jaspers, cho rằng thời kỳ khoảng năm 500 BC, khi xã hội loài người kết thúc nền văn minh cổ đại tiến sang nền văn minh mới, tại Hy-lạp cổ, Israel, Ấn-độ và TQ gần như đồng thời xuất hiện các nhà tư tưởng lớn. Từ đó trở đi, sự sinh tồn của nhân loại đều dựa vào tư duy sáng tạo của thời ấy – Thời đại Trục (Axial Age). Sự thức tỉnh và nhớ lại tiềm lực của thời đại này bao giờ cũng đem lại nguồn động lực tinh thần. Khi tiến sang thiên niên kỷ thứ III, các nhà tư tưởng đã nói đến sự xuất hiện một Thời đại Trục mới. Điều đó yêu cầu phải coi trọng hơn nữa việc ôn lại và khai thác Văn minh Trục – với TQ đó là văn minh Nho giáo. Vì thế, TQ cần tiến hành phục hồi Nho giáo.

Trong trào lưu nói trên đã xuất hiện không ít quan điểm quá khích. Tưởng Khánh đòi phải coi Nho giáo là hình thái ý thức của Nhà nước, viết vào hiến pháp, phải xây dựng chế độ khoa cử mới và chế độ giáo dục kinh điển Nho giáo, ai muốn làm chính trị thì phải thi Tứ thư Ngũ kinh; dùng các kinh điển Nho giáo thay cho “các kinh điển hình thái ý thức lỗi thời trong hệ thống trường Đảng và trường hành chính”; học sinh trung tiểu học phải “đọc kinh”, Tứ thư Ngũ kinh mà một môn học; các trường ĐH lập “Khoa Kinh học”… Ngoài “Con đường bên trên” ấy, Tưởng Khánh còn đưa ra “Con đường bên dưới”: xây dựng các pháp nhân đoàn thể quần chúng Nho giáo, thành lập Hội Nho giáo, tương tự như Hội Phật giáo nhưng lại có các đặc quyền chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức, tương đương Hội Anh giáo ở nước Anh, nghĩa là có quyền tham gia chính trị, được Nhà nước cấp đất, cấp kinh phí hoạt động (vì Nho giáo sẽ là Quốc giáo); tuy không thoát ly chính trị, nhưng Hội Nho giáo cũng không hoàn toàn hợp nhất với chính quyền. Tưởng Khánh nói bước đầu nên đi “Con đường bên trên” để tái thiết Nho giáo, bước thứ hai hoàn tất sự phục hưng toàn diện Nho giáo. Ông nói: Ki-tô giáo đang phát triển mạnh ở TQ, hiện đã có 100 triệu tín đồ; phải phục hưng Nho giáo để ngăn chặn xu thế này, nếu không thì TQ sẽ đánh mất nền văn minh của mình.

Quan điểm này gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi và bị nhiều người phản đối. Trương Tường Long tán thành tái thiết Nho giáo nhưng đưa ra “Con đường ở giữa”: xây dựng Khu Bảo tồn văn hóa Nho giáo hoặc Đặc khu văn hóa Nho giáo, nhằm để các nhà Nho có được một hình thái sinh hoạt thích hợp, tuy nhỏ. Trong khu này, cư dân là gia đình hoặc gia tộc, lấy nông nghiệp làm gốc, có đủ sĩ nông công thương, Tam giáo cửu lưu cùng tồn tại, sử dụng các công nghệ không ô nhiễm, trong sản xuất thủ công nghiệp thì sử dụng sức người và súc vật là chính; y tế dùng Trung y; lịch pháp dùng Khổng lịch; giáo dục “vừa làm nông vừa học”, thi hành chế độ khoa cử …

Vương Kiệt (giáo sư trường Đảng Trung ương TQ) cho rằng phục hưng Quốc học không đơn giản để “phục cổ” mà là để “cổ vi kim dụng”, không được mượn danh hoằng dương Quốc học để phục cổ ào ạt; trong cơn sốt Quốc học hiện nay cần cảnh giác với các khuynh hướng dân tộc hẹp hòi và bảo thủ văn hóa, tệ mê tín phong kiến và tệ lợi dụng cơn sốt này để kiếm tiền; cần cảnh giác với một số kẻ mượn chiêu bài phục hồi Nho giáo để thay thế chủ nghĩa Mác và tẩy chay văn hóa phương Tây.

Đáng chú ý là quan điểm của Dư Anh Thời [2] và Lý Trạch Hậu [3], được giới thiệu là “nhà triết học, nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất TQ” và “sử gia TQ vĩ đại nhất” thời nay. Lý Trạch Hậu phản đối một Khổng Tử phục cổ, dân tộc chủ nghĩa và cho rằng Luận Ngữ không thể cung cấp các quan niệm dân chủ và khoa học, song có thể cung cấp trí tuệ sinh tồn cho dân tộc và nhiều thứ khác; không phải lời nào của Khổng Tử cũng là chân lý; chớ nên lấy Khổng Tử ra để che giấu, làm phai nhạt hoặc chuyển dịch những thứ cơ bản nhất ta đang cần; TQ ngày nay vẫn cần dân chủ và khoa học; Nho gia hấp thu, bao dung rất nhiều thứ của Pháp gia, Đạo gia, Âm dương gia, chứ không mù quáng bài ngoại; “Cơn sốt Quốc học” hiện nay có nhiều nhân tố phức tạp như phục cổ, mê tín, đổ tiền của xây miếu đắp tượng, lễ bái, các học giả đề xướng lập Khổng giáo, mở lớp Quốc học, mặc Hán phục, hạ vai trò của Ngũ Tứ, chửi Lỗ Tấn, thay công lịch bằng Khổng lịch …

Dư Anh Thời cho rằng không thể đọc kinh điển Nho giáo với cái đầu “sốt”; dân TQ có vấn đề tinh thần trống rỗng vì thiếu tín ngưỡng, cần đi tìm một chút giá trị, do đó phải tìm đến Kinh Thánh của TQ là Luận Ngữ; quan niệm của Nho học không trái ngược với quan niệm của phương Tây, nhưng trào lưu Nho học TQ hiện đang có xu hướng chống lại các giá trị của phương Tây; người TQ hiện nay có hiểu sai về Luận Ngữ, sách này chủ yếu nói về tu thân và trật tự xã hội, không nói về chế độ chính trị; ta không thể coi Khổng Tử là hình mẫu của tất cả mọi thứ; tư tưởng TQ không chỉ có Nho gia mà còn có Đạo gia, Pháp gia …

Theo học giả nổi tiếng Đỗ Duy Minh [4], hiện nay nhiều người TQ vẫn nghĩ là mọi giá trị truyền thống của họ đều yếu ớt chưa đủ sức đối mặt với phương Tây; xử lý văn hóa truyền thống là việc rất khó, TQ hiện chưa đủ các điều kiện tinh thần để thực hiện một “TQ văn hóa”; chớ nên đi con đường dân tộc hẹp hòi, chớ nên kiêu ngạo hoặc tự ti; tư tưởng Nho học là một hệ tham khảo rất quan trọng để các nhà trí thức TQ tự định vị mình. Ông Đỗ đặt câu hỏi: việc phục hưng dân tộc Trung Hoa phải chăng chỉ nhằm để không bị kẻ khác bắt nạt hay là nhằm nắm lấy quyền bắt nạt kẻ khác ?

Daniel A. Bell (giáo sư Triết ĐH Thanh Hoa) viết: TQ sẽ quá độ tiến tới giai đoạn XHCN ưu việt hơn hiện nay; nhưng đó sẽ là hồi kết của hình thái ý thức Mác-xít; có thể khẳng định cơ sở đạo đức TQ cần sẽ không phải là của Mác. Nhiều trí thức TQ bắt đầu chuyển sang tư tưởng Nho giáo, cho rằng một số tập tục của Nho giáo có thể giải quyết được tình hình khó khăn hiện nay. Nhưng cách giải thích Nho giáo của giới học giả thường xa rời đường lối của chính quyền. Như Nho giáo phản đối sử dụng vũ lực; mà TQ lại chủ trương dù buộc phải dùng vũ lực thì cũng phải thống nhất Đài Loan; hoặc Khổng Tử chủ trương chọn người lãnh đạo qua thi tài kiểu khoa cử, còn TQ thì chọn tiêu chuẩn trung thành với đảng…

Vài suy nghĩ về vấn đề phục hồi Nho giáo

Sau mỗi chặng đường tiến lên phía trước, giới tinh anh của các dân tộc đều ngoảnh nhìn lại quá khứ và tái suy ngẫm về truyền thống (chủ yếu là văn hóa) dân tộc mình. Thời gian qua TQ tiến quá nhanh, xảy ra sự hẫng hụt về văn hóa-xã hội, cho nên họ càng muốn tìm kiếm từ nền văn hóa truyền thống nguồn sức mạnh giải quyết các vấn nạn của họ. Hiện nay ở TQ đang có xu thế phục hồi Nho giáo và đưa nó đi ra thế giới.

Xu thế đó được các học giả nhiều nước chú ý quan sát, và cũng rất đáng để chúng ta quan tâm bàn thảo, vì nó liên quan tới vấn đề hướng phát triển hệ thống chính trị của nước láng giềng lớn nhất thế giới này (vả lại, điều gì diễn ra ở TQ hôm nay rất có thể sẽ lặp lại ở Việt Nam sau đây).

Qua các trình bày ở trên, có thể thấy việc phục hồi Nho giáo ở TQ sẽ là một quá trình gian nan (cho dù đó có thể là chủ trương của Nhà nước); chủ yếu do trong đầu óc dân TQ từ lâu đã không còn khái niệm Nho giáo nữa. Dư Anh Thời nói Nho giáo ở TQ đã chết. Tưởng Khánh cũng nói Nho giáo sụp đổ hơn 100 năm rồi. Một thứ quá xưa cũ như thế sẽ rất khó phục hồi. Thế hệ trẻ ở TQ lại càng xa lạ với tư tưởng Khổng Mạnh, họ ưa thích tính hiện đại, thích dân chủ và khoa học hơn. Giới trí thức trẻ TQ khó lòng đồng ý phục hồi Nho giáo. Trước đây nhiều nhà kinh tế TQ từng chấp nhận quan điểm của Max Weber cho rằng văn hóa truyền thống TQ không dung hợp với hiện đại hóa. Hơn nữa, phái Mác xít và phái Tự do trong giới trí thức TQ hiện hãy còn rất đông, rất mạnh. Mặt khác, ngày nay có biết bao học thuyết tiên tiến, sao lại phải quay về Nho giáo ? Hơn nữa, các phương án phục hồi Nho giáo của Tưởng Khánh, Trương Tường Long đều không hiện thực và đi ngược xu thế phát triển xã hội hiện nay là hiện đại hóa – theo Đỗ Duy Minh, đó là kinh tế thị trường, chính trị dân chủ và tôn trọng chủ nghĩa cá nhân – tính hiện đại này là thứ giá trị duy nhất có thể toàn cầu hóa; các nước Âu Mỹ đại diện cho giá trị đó. Nói khác đi, các giá trị của Nho giáo khó mà có thể toàn cầu hóa, với ý nghĩa được đa phần thế giới chấp nhận.

Xã hội TQ ngày nay tồn tại nhiều vấn đề, song để giải quyết các vấn đề đó không nhất thiết phải dùng Nho giáo. Nhật Bản xưa kia chịu ảnh hưởng rất sâu nặng của văn hóa truyền thống TQ, thế nhưng ngay từ thời Minh Trị, họ đã dứt khoát bỏ Nho giáo và học văn minh phương Tây, tiến hành hiện đại hóa với suy nghĩ ai giàu ai mạnh hơn thì họ học – vì giàu và mạnh là hai biểu hiện của tính hiện đại – đây là chỗ sáng suốt của người Nhật. Cuộc “Tây hóa” của họ đã hoàn tất đẹp đẽ trong nửa sau thế kỷ XX, Nhật Bản tiến lên hàng đầu thế giới về nhiều mặt mà không hề đánh mất truyền thống. Hiện nay sáng sáng đài phát thanh quốc gia Tokyo vẫn đọc thơ Đường, người Nhật có hai giải Nobel văn, xuất khẩu truyện tranh của họ lên tới hàng tỷ USD mỗi năm… Đỗ Duy Minh nhận xét: Nhật Bản càng Tây hóa thì lại càng Nhật Bản hóa ! Huntington đánh giá cao nền văn minh Nhật Bản và xếp nó ngang hàng với văn minh Nho giáo và văn minh phương Tây, tuy cả thế giới đều coi Nhật trước kia là một nước Nho giáo và hiện nay là một nước phương Tây, thuộc khối G7. Cho dù đang còn gặp không ít vấn đề văn hóa-xã hội, song người Nhật chẳng cần phục hồi Nho giáo mà vẫn giải quyết được mọi chuyện. Con đường của họ rất đáng để chúng ta tham khảo.

Theo chúng tôi, tôn trọng nền văn hóa truyền thống, trong đó có Nho học, là cần thiết và đúng đắn, song không cần phải phục hồi Nho giáo, lại càng không nên đưa nó vào chính trị, như thuyết “Nho học chính trị” của Tưởng Khánh. Căn nguyên chủ yếu nhất là Nho học chứa đựng không ít mặt bảo thủ, lạc hậu thậm chí phản động. Cần thiết học tập, nghiên cứu Nho học và khai thác sử dụng đạo đức hiếu đễ, tư tưởng tu thân, giáo dục của Khổng Tử để cải thiện bộ mặt xã hội, song phục hồi học thuyết ấy thì không nên và không thể làm được trong các nước do đảng cộng sản nắm chính quyền.

Từ đầu thế kỷ XX, giới sĩ phu tiên tiến của Việt Nam đã sáng suốt vạch ra nhiều mặt tiêu cực của Khổng giáo. Các nhà sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) tập trung đả phá nền cựu học “đặt đạo đức lên trên trí năng”, do đó không quan tâm giáo dục quốc dân (xem Quốc dân Độc bản, sách giáo khoa chính của ĐKNT), để nhân dân mãi mãi ngu tối, cam chịu làm nô lệ cho vua quan. Thứ đạo đức tôn ti trật tự phong kiến ấy nhằm tạo ra một xã hội yên ổn cho vua quan dễ cai trị (14 năm sau Lỗ Tấn cũng phê phán Nho giáo chỉ phục vụ sự thống trị của giai cấp phong kiến).

Tiếp thu các quan điểm đúng đắn của tiền nhân, chúng tôi cho rằng Việt Nam ngày nay nên coi Nho học là một kho tàng văn hóa cổ cần nghiên cứu, học tập để khai thác các mặt tích cực nhằm phục vụ công cuộc hiện đại hóa đất nước; các em học sinh cần được học một số kiến thức Nho học để có điều kiện thực sự hiểu nền văn hóa truyền thống của tổ quốc ta, qua đó tăng thêm lòng tự hào dân tộc; Nhà nước cần đầu tư hơn nữa cho việc nghiên cứu Hán-Nôm học và phiên dịch các trước tác Hán-Nôm.

Nguyễn Hải Hoành

Các tài liệu trích dẫn chủ yếu dùng trong bài này

1- Vương Phú Nhân: Tân Quốc học với việc nghiên cứu văn học hiện đại TQ ( Tân Hoa Văn trích 10/2007).

2- Vương Kiệt: Mấy khuynh hướng nên chú ý trong cơn sốt Quốc học hiện nay (TQ xã hội khoa học văn trích 3/2007)

3- Trần Viễn: TQ ngày nay vẫn cần dân chủ và khoa học (Phỏng vấn Lý Trạch Hậu; Tân Kinh báo 7/7/2007)

4- Luận Ngữ chỉ có thể đọc một cách yên lặng, không thể đọc với cái đầu nóng (Phỏng vấn Dư Anh Thời; Tân Kinh báo 7/7/2007).

5- Tưởng Khánh: Ý tưởng về việc xây dựng lại Nho giáo TQ, (Thông tin nghiên cứu Nho giáo TQ” số 1)

6- Kỷ Bảo Thành: Hán học là gì ? (Quang minh nhật báo 5/4/2007)

7- Thang Nhất Giới: Tại sao ta phải chú ý văn minh ? (Quang minh nhật báo 26/12/2006)

8- Trương Lập Văn và Lý Trung Hoa: Xét kỹ và suy nghĩ lại về “Cơn sốt Quốc học” (Tân Hoa Văn trích 9/2007)

9- Mâu Trọng Giám: Nho học là học vấn thế nào ? (Quang minh nhật báo 25/1/2007)

10- Trương Tường Long: Xây dựng lại Nho giáo – sự nguy hiểm, tính tất yếu và đường lối trung hành (Tân Hoa Văn trích 11/2007)

11- Lầu Vũ Liệt: Thực chất cuộc tranh luận100 năm qua về Quốc học (Tân Hoa văn trích 7/2007)

12- Đối thoại: Nhà Nho sai ở đâu ? (Đối thoại với Quách Tề Dũng và Lý Tôn Quế; Quang minh nhật báo 4/7/2007)

13- Hoàng Ngọc Thuận: Nho học với đời sống: vấn đề tính dân tộc với tính hiện đại (Tạp chí Nhân văn số 4/2007).

14- Daniel A. Bell: From Marx to Confucius: Changing Discourses on China’s Political Future; Trích sách Beyond Liberal Democracy: Political Thinking for an East Asian Context, Princeton Uni. 2006)

15- Truyền thống Nho gia và đối thoại văn minh – phỏng vấn GS Đỗ Duy Minh (Diễn đàn KH xã hội 2/2007)


Xem online : Hiện tượng Vu Đan và cơn sốt Quốc học


[1Pháp Luân Công lập 1992, sau 6 năm có 82 triệu tín đồ, đông hơn Đảng CSTQ; 1999 bị giải tán.

[2Dư Anh Thời: giáo sư ĐH Princeton (Mỹ), viện sĩ Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan), năm 2006 được tặng giải thưởng thành tựu suốt đời về khoa học nhân văn và xã hội Kluge (tương đương giải Nobel trong lĩnh vực KH nhân văn, xã hội). (theo Tân Kinh báo 7/7/2007, xuất bản ở Bắc Kinh).

[3Lý Trạch Hậu: nghiên cứu viên Sở Nghiên cứu triết học Viện KHXHTQ, viện sĩ Viện Triết học quốc tế Paris, tiến sĩ văn học danh dự ĐH Colorado (Mỹ); từ thập niên 90 sống ở Mỹ.

[4Đỗ Duy Minh, Viện sĩ Viện KHXH Nhân văn Mỹ, trưởng ban cố vấn Viện Văn Triết thuộc Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan), thành viên Nhóm nhân sĩ kiệt xuất xúc tiến đối thoại văn minh của Liên Hợp Quốc, từ 1981 là giáo sư ĐH Harvard, từ 1996 là Giám đốc Harvard-Yenching Institute.