Menu

Trang nhà > Văn chương > Tạp bút > Hannah - "Người đàn bà phù thủy"

Chúc mừng ngày Phụ nữ:

Hannah - "Người đàn bà phù thủy"

Thứ Bảy 8, Tháng Ba 2008

Trong phòng bá âm Bà Triệu, Hà Nội

Trịnh Thị Ngọ đang phát đi băng ghi lời của nghệ sĩ Jane Fonda từ Đài Phát thanh TNVN, Bà Triệu, Hà Nội 1966

Năm 1997, tôi sống một tuần trong ngôi nhà của một nhà văn nổi tiếng nước Mỹ. Đó là Larry Heinemann. Năm 1987, cuốn tiểu thuyết Pacco’s Story của ông đã vượt qua cuốn The Beloved của Tony Morison (giải Nobel Văn học 1994) để giành Giải thưởng Sách Quốc gia của Mỹ. Một buổi tối chúng tôi nói chuyện về chiến tranh Việt Nam. Và Larry đã nói đến một người phụ nữ Việt Nam làm phát thanh viên tiếng Anh của Đài Tiếng nói Việt Nam trong chương trình dành cho những lính Mỹ ở Việt Nam: «Bà ta đã trở thành một nỗi ám ảnh ghê gớm đối với rất nhiều lính Mỹ bởi chính giọng nói của mình. Giọng nói ấy làm cho cả những lý giải không hợp lý cho lắm của bà trở nên thuyết phục đến lạ lùng. Nhiều lính Mỹ cho rằng, bà giống như một phù thủy. Trong những cánh rừng nhiệt đới âm u, giọng nói của bà vang lên. Những lính Mỹ không nhìn thấy hình ảnh bà. Có lẽ vì thế mà giọng nói ấy như vọng đến từ nhiều phía. Giọng nói ấy vừa quyến rũ những lính Mỹ vừa làm họ hoang mang. Sau này tôi biết rằng, giọng nói ấy là của một người đàn bà Việt Nam đẹp và dịu dàng ».

Từ cuối những năm 60, những lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam đã bắt đầu tìm mọi cách để nghe giọng nói của bà. Họ gọi bà bằng một cái tên thật khó giải thích cho rõ ngọn ngành: Hanoi Hannah. Giọng nói của bà đã lôi cuốn những lính Mỹ ở Việt Nam không chỉ bởi sự dịu dàng đến huyền ảo mà bởi cả sự chân chính của người Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống lại sự xâm lược của Mỹ và những tư liệu chính xác về mặt trận và chiến tranh mà những lính Mỹ cần biết.

Thực tế có những lính Mỹ bực tức với giọng nói của bà, bởi giọng nói của bà đã làm cho lòng họ rối bời, nhưng họ vẫn lần tìm sóng trên đài để được nghe chính giọng nói ấy. Nhiều lính Mỹ đã phải kêu lên: Hannah! Người là đấng tiên tri hay là mụ phù thủy, hay là quỉ sứ?…

Có những lính Mỹ gọi bà là Nàng Tiên Cá. Bởi khi giọng bà cất lên, một giai điệu du dương, mê hoặc lòng người bằng chính những chân lý sáng tỏ, bằng chính những số liệu chính xác, bằng những lời kêu gọi của lương tâm con người… chứ không bằng một sự mơ hồ ma quỉ nào cả. Chiến tranh đã kết thúc mấy chục năm rồi, nhưng có bao lính Mỹ vẫn giữ những cuộn băng ghi âm giọng nói của bà thuở xưa. Và có những đêm, họ lại mở ra nghe. Và vẫn như ngày xưa ở chiến trường Việt Nam, họ lại trôi đi trong sự quyến rũ giống như các chàng thủy thủ nghe được giọng hát của các Nàng Tiên Cá.

Vậy bà là ai? Bà có phải là một phù thủy trong thế kỷ XX này không ? Câu trả lời là không. Bà là một phụ nữ dịu dàng, xinh đẹp như bao phụ nữ Việt Nam khác. Bà là Trịnh Thị Ngọ, con gái của ông Trịnh Đình Kính. Từ nhỏ, bà theo học Trường tiểu học nữ sinh Hàng Cót. Bà học rất giỏi và viết rất đẹp. Nhiều người thường đến nhờ bà viết chữ vào văn bằng. Năm 1943, bà đỗ đậu bằng Certificate. Với tấm bằng này, bố mẹ bà đã thưởng cho bà một chiếc đồng hồ nữ đeo tay và một chiếc xe đạp Terrot. Đối với bà đây là phần thưởng rất lớn và có ý nghĩa hồi ấy.

Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám ở Hà Nội, bà đã tham gia ban cứu thương và tiếp tế nuôi quân cách mạng ở trại lính khố xanh ở phố Hàng Bài. Khi kháng chiến bùng nổ, bà cùng gia đình tản cư về quê nhà ở Thanh Oai, Hà Tây. Quê nội bà có nghề làm nón lá. Bà học nghề khâu nón lá và bị kim đâm vào ngón tay trỏ. Ngón tay trỏ của bà bị nhiễm trùng và thành tật. Những ngày sau đó, gia đình bà rơi vào khó khăn. Trong lúc cha bà bị bắt giam ở Hỏa Lò vì tội ủng hộ Việt Minh thì mọi tài sản có trong Xưởng thủy tinh bị lấy cắp hết. Bà trở thành người vô cùng quan trọng trong gia đình thay cha mẹ nuôi dạy các em.

Bà Trịnh Thị Ngọ theo học một lớp tiếng Anh của Bà Lucine Hà Văn Vượng ở phố Hallais (nay là phố Nguyễn Du), Hà Nội. Bà Lucine là một phụ nữ người Anh lấy chồng người Việt. Tên của bà có mang theo họ và tên chồng. Năm 1954, lớp tiếng Anh này giải tán. Nhiều người học tiếng Anh cùng lớp với bà đã bỏ Hà Nội, bỏ Cách mạng ra đi. Có những người sau này làm ở các Đài phát thanh khác trên thế giới như Chi Tuấn (Đài VOA), Xuân Kỳ (Đài BBC)…

Buổi phát thanh tiếng Anh đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam được phát từ thủ đô Hà Nội vào ngày 15.4.1955. Đó cũng là buổi đưa tin về cái chết của cụ Bùi Bằng Đoàn trên nền nhạc Hồn tử sĩ. Khi lính Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam cùng Cục Địch vận phát một chương trình dành riêng cho lính Mỹ. Và bà đã dùng biệt hiệu là Thu Hương. Mở đầu mỗi chương trình này là một giọng nữ cất lên: «Thu Hương nói chuyện với G.l’s». Lính Mỹ từ Hạm đội Bảy đến các căn cứ ở miền Nam Việt Nam hồi đó bắt đầu chờ đợi các buổi phát thanh của bà. Từ khi lính Mỹ gọi bà là Hanoi Hannah, cái tên ấy được lan truyền trong quân đội Mỹ ở Việt Nam. Nhiều lính Mỹ đã tìm cách viết thư cho bà. Họ gửi thư cho bà qua đường Hongkong và một số nước thứ ba khác. Giọng nói của một người phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu làm cho quân đội Mỹ lo lắng. Chính tổng thống Mỹ J. Kennedy đã thông báo về mối nguy hiểm này rằng: Việt Cộng đã dùng một giọng nói đàn bà để quyến rũ và làm lung lay tinh thần của đội quân Mỹ ở Việt Nam.

Sau ngày miền Nam giải phóng, có rất nhiều cựu binh Mỹ đến Việt Nam với một mục đích để nhìn tận mắt người đàn bà có giọng nói ấy. Một trong những cựu binh Mỹ đó là Đô Nốt (tôi không biết cách viết tên người này bằng tiếng Anh. Tôi viết theo cách phiên âm của một tờ báo ở Việt Nam). Sau chuyến đi đó, ông đã viết về cuộc gặp gỡ mà ông theo đuổi mấy chục năm trong đời: Không, bà không phải là ma. Bà không có vẻ tai ác, mà bà đến đúng giờ hẹn. Một phụ nữ yêu kiều, nhỏ nhắn, ăn mặc chải chuốt hấp dẫn. Trước mặt Đô Nốt lúc đó là bà phù thủy? Là Nàng Tiên cá hay là một con người bí ẩn? Không. Trước mặt người cựu binh này chỉ là một người phụ nữ Việt Nam đằm thắm dịu dàng. Chính điều ấy lại làm cho những huyền thoại về bà trong các cựu binh Mỹ tăng lên.

Và sau đây là cuộc đối thoại giữa người cựu binh Mỹ và «Người đàn bà phù thủy» (tư liệu của nhà văn hóa Hữu Ngọc) :

Đô Nốt (Đ.N) : Chị có bao giờ được tin là lính Mỹ nghe các buổi phát thanh và tên chị trở nên quen thuộc với họ không ?

Trịnh Thị Ngọ (T.T.N): Sau chiến tranh chúng tôi có nhận được một số thư của cựu binh Mỹ nói là có nghe. Chiến tranh kết thúc, họ trở về nhà và muốn cho chúng tôi biết là họ đã nghe.

Đ.N: Điều gì đã khiến Chính phủ chị đề ra việc phát thanh cho lính Mỹ ?

T.T.N: Do lính Mỹ ồ ạt kéo vào Việt Nam, có thể buổi phát thanh riêng cho họ là ý rất hay. Nhưng cũng không phải là ý mới. Trong chiến tranh chống Pháp, chúng tôi đã phát thanh kiểu ấy cho lính Pháp.

Đ.N: Có ai giúp chị trong chiến tranh không ?

T.T.N: Thỉnh thoảng có nhà báo Úc Winfred Burchett, và cả nữ ký giả Pháp Madeleine Riffaud. Chúng tôi có nhiều lần phỏng vấn Cora Weiss và Jane Fonda có muốn gặp những phi công Mỹ ở Hà Nội không? Chị đã từ chối. Thỉnh thoảng chúng tôi có gặp họ và phát đi lời tuyên bố của họ nhưng không bao giờ phỏng vấn họ. Họ được phép nghe các buổi phát thanh của chúng tôi. Chúng tôi phát cả những băng của những người Mỹ chống chiến tranh gửi cho chúng tôi. Những băng này rất hiệu nghiệm – Tôi cho là thế. Người Mỹ bài ngoại. Họ tin vào người phía họ hơn là tin vào địch thủ, dù là một tiếng nói hữu nghị của kẻ thù.

Đ.N: Chị có bao giờ đánh giá kết quả các buổi phát thanh không ?

T.T.N: Không. Trong chiến tranh khó mà nắm được phản ứng ấy, trừ khi qua tin tức nước ngoài. Nhưng chúng tôi biết là các cuộc phát thanh của chúng tôi có thính giả.

Đ.N: Mục đích của phát thanh là gì ?

T.T.N: Chúng tôi gợi ý là lính Mỹ nên phản chiến. Chúng tôi khuyên họ nên làm cái gì thích hợp để chống chiến tranh.

Đ.N : Nhưng nếu có lính Mỹ đảo ngũ chị có ngạc nhiên không ?

T.T.N: Chúng tôi cứ tiếp tục công việc. Tôi trút cả nhiệt tình vào công việc. Tôn tin vào nó.

Đ.N: Nhiều lính Mỹ cho là chị nhận được tin tình báo rất đúng về vị trí đơn vị, khả năng chiến đấu và tử vong của đơn vị họ. Nguồn thông tin về quân đội Mỹ ở Việt Nam là nguồn nào?

T.T.N: Báo của quân đội Mỹ Stars and Stripes. Chúng tôi lấy ở đó ra. Hằng ngày chúng tôi nhận được báo gửi máy bay. Chúng tôi đọc Newsweek, Time và nhiều tờ báo khác. Chúng tôi cũng bắt được điện của Hãng AP và UPI. Và tất nhiên tin của Thông tấn xã Việt Nam. Chúng tôi biên tập lại. Chúng tôi có nhiều nguồn tin. Chúng tôi đưa lên Đài những nhận xét của các nhà báo Mỹ. Nhất là về số lượng thương vong. Chúng tôi có bản kê người mất tích, người chết trận. Chúng tôi đọc tin cùng nơi sinh của lính Mỹ.

Đ.N: Có những khi quân đội Bắc Việt tìm thấy thư gửi về gia đình của những lính Mỹ chết trận. Chị có bao giờ có những lá thư ấy để đọc không?

T.T.N: Có thể quân đội có, chúng tôi ở Đài không có.

Đ.N: Chị có nhớ bài báo nào chị sử dụng không?

T.T.N: Có, Acnô Đơboócsơgâyvơ trong tạp chí Newsweek. Tôi có nhớ bài của ông. Cả bài của Don Luce về chuồng cọp ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi thường nhắn lính Mỹ là chế độ Sài Gòn không đáng để họ ủng hộ.

Đ.N: Có bao giờ chị báo trước các cuộc tấn công không? Nhiều lính Mỹ ở Việt Nam nghĩ như vậy.

T.T.N: Trong buổi phát thanh, chúng tôi nói chung chung với họ là nếu họ ở Việt Nam, họ có thể tránh vùng chiến sự, là họ có thể gặp rủi ro, hoặc bị chết. Nhưng không nói cụ thể trận này hay trận nọ.

Mike Robert đã nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và biết được chính quyền Mỹ đàn áp người da đen nổi dậy ở Detroit tháng 7-1967. Anh nói: Chính từ đó tôi mới thật sự bắt đầu nghe Hannah ở Hà Nội kêu gọi lính da đen suy nghĩ lại về tình trạng của họ ở Việt Nam. Tại sao các anh lại tham chiến? Các anh có cuộc chiến của chính bản thân các anh ở Mỹ cơ mà. Jim Maxiolek đóng ở Lai Khê năm 1966 kể: Khi nghe Hannah kể tên đơn vị chúng tôi, chúng tôi thường nâng cốc chúc mừng cô ta rồi ném các lon bia vào Đài. Cũng trong chương trình tiếng Anh của Hannah, đôi khi bà gửi lời chúc mừng sinh nhật đến một lính Mỹ nào đó. Tom Wallace nhớ khi còn đóng quân ở Tây Nguyên, anh ta đã được nghe bà gửi lời chúc mừng sinh nhật thứ 22 của một trung úy Mỹ ở đơn vị anh ta. Nhưng buồn thay, người lính Mỹ này đã bị chết vì lựu đạn trước đó vài ngày. Viên trung uý kia không nghe được lời chúc sinh nhật của bà, nhưng bạn bè của anh ta đã nghe thấy. Và lời chúc mừng sinh nhật của một cô gái Việt Nam gửi cho một thanh niên Mỹ đã chết tạo nên một nỗi ám ảnh khủng khiếp. Những lính Mỹ đã tìm cách tránh cái chết vô ích của họ. Họ luôn luôn đợi chờ giọng nói của bà vang lên và họ cầu nguyện được sống để nghe lời chúc mừng sinh nhật ấy.

John Bacca một cựu binh Mỹ mà tôi quen biết từ lâu, một người bị lựu đạn làm nát bụng nhưng vẫn còn sống đã kể cho tôi nghe về giọng nói của bà trong một nhà khách ở Gia Lâm, Hà Nội năm 1990: Trong khi mê man bất tỉnh tôi đã nghe thấy giọng nói của Hannah. Tôi có cảm tưởng đó là giọng nói của Đức Mẹ. Tôi có người yêu ở miền Tây nước Mỹ. Mỗi khi nghe giọng nói của Hannah, tôi muốn bỏ về Mỹ. Chính vì thế mà mỗi ngày trên đất Việt Nam tôi thấy dài hơn cả thế kỷ. Ngày đó tôi thường xuyên hình dung ra gương mặt của Hannah, nhưng không bao giờ tôi có được một gương mặt cụ thể. Gương mặt ấy chập chờn và giọng nói mơ hồ vang lên làm tôi không chịu nổi.

Năm 1990, John sang Việt Nam cùng các cựu binh khác để xây dựng một trạm xá ở Gia Lâm, Hà Nội mà trong chiến tranh đã bị bom Mỹ phá nát. John nhờ tôi giúp để gặp bà. Nhưng tôi không biết bà ở đâu. Tôi đã chỉ vào gương mặt của những phụ nữ Việt Nam và nói rằng: Hannah có gương mặt giống rất nhiều gương mặt của những phụ nữ Việt Nam đang đi trên đường. John không tin. Anh nghĩ với giọng nói ấy thì bà phải có một gương mặt bí ẩn.

Năm 1993, tôi đã đến thăm ngôi nhà bé nhỏ của John trên một quả đồi ở ngoại thành Washington. Đêm xuống, đom đóm bay dày đặc quanh ngôi nhà. Và John lại nói về Hannah trong tiếng gió thổi qua rừng cây giống như một chàng thủy thủ trở về đất liền và kể lại giọng hát của Nàng Tiên cá mà chàng đã một lần nghe được và chàng đã bị giọng hát ấy mê hoặc mà mãi vẫn không tỉnh lại được.

Trong sinh nhật thứ 77

Năm nay bà đã hơn 70 tuổi. Và cuộc chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm. Nhưng vẫn có những cựu binh Mỹ đến Việt Nam để tìm bà. Báo chí nước ngoài viết về bà quá nhiều. Nhưng đối với họ, bí ẩn trong giọng nói của bà vẫn chưa được khám phá. Rồi tôi tìm được số điện thoại của bà ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi gọi điện cho bà với một nỗi hồi hộp. Tôi, một người đồng hương với bà, muốn được nghe giọng nói của bà cất lên. Nhưng tôi thật không may mắn. Ngày đó bà đang nằm viện.

Và cho đến tận lúc này, tôi vẫn không có may mắn được nghe giọng nói của bà. Giọng nói ấy đã đóng góp vào chiến thắng của dân tộc chúng ta. Có người hỏi tôi: Bà có phải là người nói tiếng Anh hay nhất không? Tôi có thể trả lời là không. Và người ta lại hỏi: Bà không phải là người nói tiếng Anh hay nhất mà sao lại quyến rũ những lính Mỹ đến như vậy? Tôi đã thưa rằng: Bà nói tiếng Anh nhưng bằng tâm hồn sâu thẳm của một người phụ nữ yêu hòa bình. Và đấy có lẽ là một bí mật lớn nhất của giọng nói bà.

N.Q.T (Vietimes)