Menu

Trang nhà > Quan niệm > Thiền tông > Dịch như thế nào cho đúng ý thơ và ai là tác giả đích thực của “Xuân Nhật tức (...)

Viên Như

Dịch như thế nào cho đúng ý thơ và ai là tác giả đích thực của “Xuân Nhật tức sự”?

Thứ Hai 12, Tháng Năm 2008

“Xuân nhật tức sự” được lưu truyền là của Thiền Sư Huyền Quang (1254–1334), tổ thứ ba Thiền phái Trúc Lâm. Đây là bài thơ hay, được nhiều người dịch và chú giảng. Các thức giả dịch bài này cho rằng ý bài thơ quá lãng mạn, hơi lạ đối với tác giả là một thiền sư. Đồng thời bài này lại trùng với một bài thơ của thiền sư Trung Hoa tên Ảo Đường Trung Nhân đời Tống (?–1203) [1]. Ý tứ bài thơ “Xuân nhật tức sự” có như các dịch giả đã hiểu và chú giảng không? Và ai mới là tác giả đích thực của bài thơ ấy?

Để giải quyết vấn đề này theo tôi, trước hết ta phải làm rõ nghĩa bài thơ, tìm những ẩn ý trong bài thơ rồi kết hợp với thi pháp học và sử học đối chiếu để xác định “xuân nhật tức sự” là thế nào? Ai là tác giả đích thật của bài thơ.

Nguyên văn :

Xuân nhật tức sự

Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả lân vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì.
Huyền Quang

Đặng Thai Mai dịch:

Đường kim bỗng chậm lại trên tay cô nàng xinh đẹp mười sáu xuân xanh,
Mấy chú oanh vàng thỏ thẻ trong lòng tử kinh hoa nở rộ,
Thương quá đi bao nỗi lòng xuân vô hạn,
Đang trút cả giây phút ngừng kim và im phăng phắc.
 [2]

Đinh Gia Khánh dịch:

Người con gái đẹp tuổi đôi tám chầm chậm thêu,
Dưới bóng hoa tử kinh, chim hoàng ly nhảy nhót,
Đáng yêu là cái ý thương xuân vô hạn,
Đọng lại tất cả ở lúc dừng kim, không nói năng.
 [3]

Huệ Chi dịch:

Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều
Hoa rợp oanh vàng lảnh lót kêu
Bao nỗi thương xuân thương biết mấy
Là khi không nói chợt dừng thêu.

HT Thích Thanh Từ dịch:

Thêu gấm thưa tay dáng mỹ nhân
Líu lo oanh hót, khóm hoa gần
Đáng thương vô hạn thương xuân ý
Chỉ tại dừng kim chẳng mở lời.
 [4]

Như thế ta thấy hầu hết bản dịch bài thơ này không khác nhau là bao nhiêu, điều này chứng tỏ các nhà dịch thuật hiểu bài này gần giống nhau, đặc biệt câu một và câu bốn. Các văn bản dịch làm cho “thiếu nữ giai nhân” biểu tượng cho mùa xuân thành một cô gái 16 bằng xương bằng thịt. Vì vậy người dịch và người chú thích phải cố gắng tìm cách giải thích cho hợp lý. Người đời thì nghĩ có lẽ tác giả thương cô gái quá đi rồi, thương nhất là lúc dừng kim mà chẳng nói năng gì ! Còn người tu thì lại bảo đó là cái lý “ ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. “Bặt đường ngôn ngữ, dứt lối tâm hành”. Đây chính là cách mà từ trước đến nay mọi người vẫn nghĩ khi dịch bài thơ này. Hệ quả tất yếu là bài thơ dịch cung cấp cho người đọc những thông tin hoàn toàn xa lạ đối với tác giả bài thơ. Việc này làm cho người đọc hiểu lầm Huyền Quang trong suốt thời gian dài qua. Vì vậy cần phải hiểu đúng bài thơ và khi bài thơ được hiểu đúng ta sẽ có một cái nhìn khác đối tác giả - Huyền Quang.

Theo tôi, bài thơ này có ngữ nghĩa thống nhất từ tên bài thơ cho đến nội dung bài thơ. Đồng thời chẳng có gì bí mật trong bài thơ này. Tất cả các yếu tố và chất liệu tạo nên bài thơ đã hoà quyện với nhau nhuần nhuyễn .

Hãy phân tích các yếu tố tạo nên sự thống nhất hình tượng bài thơ.
- Chủ thể: Nàng xuân - người đẹp đôi tám. Chủ thể thật: Chợt nghĩ – tức sự
- Thời gian: Đầu xuân (tuổi 16) cho đến cuối xuân (thêu đến mũi kim cuối cùng)
- Không gian: mùa xuân (xa: Tấm gấm nhiều màu, gần: chim hót dưới tán hoa tử kinh)

Biện pháp tu từ:
- Người đẹp (nàng xuân) hoán dụ
- Tuổi 16 (đầu xuân) ẩn dụ
- Tấm gấm nhiều màu (mùa xuân) hoán dụ.
- Đến đường kim mũi chỉ cuối cùng (sự hy sinh của mùa xuân) ẩn dụ.

Nhân vật thật của bài thơ: ẩn đằng sau hai từ khá thương (khả lân) có nghĩa là đằng sau sự xót thương này là một cánh cửa mà ta có thể đi vào thế giới riêng tư của tác giả, từ đó ta tìm thấy những gì mà tác giả diển tả qua bài thơ trong vai trò là mùa xuân với những hy sinh thầm lặng của nó.

Xin tạm dịch lại:

“Ngày xuân chợt nghĩ” hay “Ngày xuân tâm sự”

Người đẹp 16 tuổi đang chầm chậm thêu tấm gấm nhiều màu
Dưới tán hoa của cây tử kinh những con chim hoàng ly đang hót.
Cảm thương biết mấy nỗi lòng của mùa Xuân.
Thêu đến mũi kim cuối cùng mà chẳng nói tiếng nào.

Dịch thơ:

Ngày xuân chợt nghĩ

Chầm chậm nàng xuân dệt gấm hoa
Hoàng Ly hót dưới tử kinh già.
Nỗi lòng xuân đó sao thương quá!
Dâng hết xuân thì chẳng nói ra.

Tên bài thơ là “Ngày xuân chợt nghĩ” như vậy mùa xuân là chủ thể của bài thơ. Đây chính là ý chủ đạo xuyên suốt bài thơ, do đó tất cả ngôn từ trong bài thơ đều liên quan đến chủ thể này. Nếu ta giải thích và liên tưởng vượt ra ngoài chủ thể đó, có thể ta sẽ không hiểu được bài thơ, và khi đã rơi vào tình huống đó rồi thì mọi giải thích càng cố gắng càng xa ý bài thơ.

Ngay trong câu đầu tiên, tác giả đã nhân hoá mùa xuân thành người đẹp đôi tám. Tại sao vậy? Ý này cho ta hiểu đây là thời điểm đầu xuân. Bởi vì tuổi 16 hay còn gọi tuổi xuân là tuổi khởi đầu cho sự rực rỡ của con gái, chứa đựng những năng lượng làm thay đổi ngày mai. Nàng đang chầm chậm thêu tấm gấm nhiều màu (“tú” có nghĩa là gấm 5 màu). Ta có thể hình dung vào một ngày đầu mùa xuân, tác giả nhìn thấy xa xa, những bông hoa đang dần dần khoe sắc, và gần bên, dưới tán hoa tử kinh, những con chim hoàng ly đang hót véo von. Mùa xuân đang mang lại cho cuộc đời sức sống mới khắp nơi nơi. Một cảnh xuân đẹp, thanh bình lạ thường. Thế mà bỗng dưng tác giả lại chạnh lòng thấy thương cho nỗi lòng của mùa xuân khôn xiết, bởi lẽ vì cuộc đời mà mùa xuân đã đem hết sức mình, hay ta có thể nói cống hiến đến hơi thở cuối cùng (tận tại đình châm) để làm đẹp cho đất trời mà chẳng hề than thở một tiếng (bất ngữ).

Như thế là ta đã rõ, chẳng có cô nàng 16 tuổi nào ở đây cả. Vì vậy cũng chẳng có việc “dừng kim chẳng nói” mà chỉ có mùa xuân thôi, một mùa xuân đang ra sức cống hiến cho đời những bông hoa kỳ diệu, chẳng có đòi hỏi thở than gì. Ý thơ đơn giản. Nhưng từ trước tới giờ những người dịch và chú giảng bài thơ có thể bị ám ảnh bởi thơ thiền - thơ thiền thường có những ý khó hiểu - nên đã bỏ qua không chú ý yếu tố này (xuân) từ đó giải thích bài thơ như đã nêu trên và đã nhận định “Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con người tôn giáo” [5] hay “Mùa xuân và thiếu nữ: đó là cuộc sống với vẻ yêu kiều nhất của nó; người đẹp dừng kim thêu để tư lự về xuân sắc, xuân tình: lời thơ mới tình tứ làm sao ! kể ra trong thơ văn ngày xưa cũng ít khi ta bắt gặp những ý, những tình như thế” [6]. Có lẽ vì vậy khi viết “Việt Nam Phật Giáo sử luận” Nguyễn Lang đã loại bài này ra khỏi phần nói về Huyền Quang [7].

Qua những phân tích trên ta nhận ra rằng tác giả”XNTS” đang nhìn đăm đăm về phía trước, vì trong chiều không gian mà ông mô tả trong bài ta thấy: Ở xa thì trăm hoa đang dần tô thắm, ở gần thì có những con chim đang hót dưới táng hoa(hoa hạ chứ không là chi thượng). Như vậy tác giả không quan tâm đến chiều cao, cái không gian mùa xuân cao rộng trên đầu. Dấu hiệu này cho thấy ông đang nặng gánh ưu tư. Điều này hoàn toàn phù hợp với những gì xảy ra với ông. Do đó tôi nghĩ rằng ông viết bài thơ này trước khi đảm nhiệm chức Tổ thứ ba Thiền phái Trúc Lâm lúc đã 77 tuổi. Vì khi nhận chức này xong ông bèn giao phó lại cho Quốc sư An Tâm lo toan mọi việc cho Giáo hội, ông trở về Côn Sơn và ở đó cho đến khi viên tịch. Điều đó cũng chứng tỏ ông đã hoàn toàn nguội lạnh với công danh, mà chỉ muốn đi về phía trước với những hành trang bí ẩn của quá khứ cho đến hết đời mình.

Tác giả chia bài thơ thành hai ý:
- Câu 1,2: Hình ảnh một mùa xuân đang mang đến cho đời những gì rực rở tốt đẹp nhất, hứa hẹn những ngày hạnh phúc cho nhân thế.
- Câu 3,4: Để có được những giá trị tốt đẹp hiến dâng cho đời, mùa xuân đã phải làm việc với tất cả sức mình mà chẳng đòi hỏi, thở than gì. Điều ấy làm cho tác giả chạnh lòng thương xót.

Đến đây ta có thể khẳng định rằng đây là một bài thơ tâm sự hơn là thơ thiền. Điều này không có gì lạ. Không phải tất cả các bài thơ của thiền sư đều là thơ thiền.Thông điệp mà bài thơ gởi đến cho người đọc là: Tất cả những gì tốt đẹp mà chúng ta đang hưởng thụ không phải tự nhiên mà có, sở dĩ có được như vậy là nhờ quanh ta biết bao người đang thầm lặng hy sinh mà không hề mong mỏi sự đền đáp nào.

Đây là bài thơ xuân hay, nhưng buồn, mang đầy tâm sự, điều này không phải khó hiểu. Nếu như ai đã đọc tiểu sử của tác giả HQ thì đều biết rằng cuộc đời ông có những uẩn khúc không được ghi lại. Tuy nhiên với những gì có được trong lịch sử thời Trần và lịch sử Phật Giáo và nhất là qua thơ văn của tác giả HQ ta có thể tin rằng đã có rất nhiều chuyện buồn xảy ra trong cuộc đời của Huyền Quang [8]. Vì thế nhân ngày xuân, ông mượn mùa xuân, cảnh xuân để bày tỏ lòng mình.

Với một cảm thụ chân thật và một tài năng tinh tế, HQ đã mở bài thơ ra bằng hình ảnh một cô gái 16 trẻ trung, mạnh mẽ đang chầm chậm thêu tấm gấm hoa trong tiếng hót véo von của những con chim hoàng oanh dưới tán hoa tử kinh. Trong một khung cảnh xuân tươi đẹp, hân hoan đột nhiên ông khép lại bài thơ của mình bằng một sự tiếc thương vô hạn. Điều này cho thấy sự hướng nội ở ông rất mạnh; đây chính là bản chất của một Thiền sư. Nhà thơ dùng từ “lân” là có dụng ý. Tác giả đã ví mùa xuân và sự toả hết lòng mình cho vạn vật là tâm sự của mình thì ta có thể hiểu “lân” ở đây là “đồng bệnh tương lân”, hay sự hy sinh thầm lặng của mùa xuân để làm đẹp cho đời cũng như là sự hy sinh của ông cho nhân thế. Bài thơ được viết ra từ đáy lòng tác giả, đó là một phần đời của ông, hay nói theo thi pháp học thì bài thơ này là một phần trong chỉnh thể đời ông.

Bài thơ đem lại cho người đọc một nỗi buồn man mác. Sở dĩ người đọc có cảm xúc như vậy là vì ông đã đột ngột chuyển từ vui sang buồn, từ hớn hở sang ưu tư, từ hiện tại sang quá khứ. Cách chuyển ý như vậy làm cho người đọc cảm thấy băn khoăn, gây nên cảm thụ xúc động mạnh.

Bài thơ là một thể thống nhất về ngữ nghĩa; các biện pháp tu từ phù hợp với tứ thơ. Từ đó tôi cho rằng bài thơ có một ý nghĩa không như các nhà nghiên cứu văn học trước đây đã giải thích khi dịch bài thơ này.

Một bài thơ hay, nhưng đáng tiếc lại trùng với một bài thơ của một thiền sư Trung Hoa đời Tống như Lê Mạnh Thát trong bài “Về tác giả bài thơ Xuân nhật tức sự” đã xác định [9]. Cần đọc lại bài thơ được ghi trong sử sách Trung Quốc:

Trích :

Một hôm sư thượng đường nêu chuyện con chó không có tính Phật, nói :

Chầm chậm nàng xuân dệt gấm hoa,
Hoàng Ly hót dưới tử kinh già.
Nỗi lòng xuân đó sao thương quá!
Dâng hết xuân thì chẳng nói ra.

Phiên âm chữ Hán : Xem “Xuân nhật tức sự” ở trên.

Trong truyền thống thiền tông các thiền sư thường hay có những lời đáp khó hiểu, thậm chí trái nghịch nữa. Thường khi như vậy phải có một người nêu vấn đề hay câu hỏi và thiền sư trả lời. Câu trả lời có thể là lời nói và có khi là một hành động. Tuy nhiên đem những lời nói trái nghịch hay những hành động ấy đặt vào trong một thời không và con người nhất định ta cũng có thể lý giải được. Trong trường hợp này thì Ảo Đường Trung Nhân tự nêu vấn đề và tự trả lời bằng một bài kệ. Nghĩa của bài kệ này thì quá rõ như tôi đã phân tích ở trên. Theo nghĩa này, nếu ta đưa tên của bài kệ là CON CHÓ KHÔNG CÓ TÍNH PHẬT thì ta thấy rõ ràng khó mà tìm được sự thống nhất giữa tiêu đề và nội dung của bài thơ. Sự không tương hợp này không phải giờ đây khi nghiên cứu về bài thơ mới nhận ra, chính ngay vào thời Huyền Quang ở Trung Hoa cũng đã có người nghĩ đến điều đó rồi cụ thể là đã có một bài thơ xuất nhập với bài thơ của Trung Nhân của Nam Tẩu Sực được ghi lại trong Thiền Tông tụng cổ liên châu thông tập do Phổ Hội chỉnh lý và bổ sung bản Thiền Tông tụng cổ liên châu thông tập, hoàn thành từ khoảng 1295-1418.

Nguyên văn :

Nhật noãn giai nhân thích tú trì
Tử kinh chi thượng chuyển hoàng ly
Dục tri vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì.

Tạm dịch :

Nắng ấm người đẹp thêu chậm dần
Trên cây tử kinh những con chim hoàng ly đang hót
Muốn biết nỗi lòng mùa xuân thế nào
Tới chỗ ngừng kim chẳng nói gì.

Vì cớ gì mà Nam Tẩu Sực lại sửa bài kệ của Trung Nhân. Rõ ràng ông không xem bài kệ này là một kiểu nêu vấn đề và trả lời bằng một bài kệ theo sách thiền thì gọi là cử tụng, mà nhìn nhận nó như một bài thơ. Chính vì vậy ông cũng đã nhận ra sự bất cập của bài thơ trong trường hợp của Trung Nhân. Vì vậy ông muốn đem lại cho bài thơ một cảm xúc mới khi thay đổi một số từ. Ông đã dùng “nắng ấm” thay vì “mười sáu” “trên cành” thay “dưới hoa”, “dục tri” thay vì “khả lân”. Với những thay đổi này có lẽ ông muốn ý bài thơ mạnh hơn, cứng rắn hơn như tính chất vốn có của đa số thơ thiền; nhưng vì vậy ý thơ không có được sự liên kết chặt chẽ. Có lẽ chính vì thế mà khi thầy trò Tự Dung và Tính Lôi viết Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện (1664) trong phần viết về Ảo Đường Trung Nhân đã không chép bài này nữa.

Như thế ta thấy bài thơ ngay từ thời đó và đã có vấn đề. Các nhà sao lục các sự kiện trong thiền môn ở Trung Hoa đã có những bàn bạc nào đó nhất định mới có những đổi thay như vậy (sửa rồi thấy không ổn cuối cùng bỏ luôn).

Một điều cần quan tâm nữa là ngay trước bài thơ “Xuân nhật tức sự” đã có một bài kệ với nội dung tựa như bài này mà Lê Mạnh Thát đã dịch như sau:

“Chín chục tia xuân quá nửa qua
Vun hoa thiên khí chính dung hoà
Hải đường cành ấy oanh ríu rít
Đạo với dòng đời thấy được ha?”

Qua đó ta có thể nghĩ rằng đã có ai đó đưa thêm bài “Xuân nhật tức sự” thay một bài khác trong đoạn này do ảnh hưởng của bài thơ trên, nhưng người thêm đã không lưu ý rằng bài thơ đã không đáp ứng với chủ đề nêu ra trước đó (con chó không có phật tính).

Ngoài những sự kiện nêu trên, cần xét đến không gian lịch sử bấy giờ. Con đường trao đổi văn hoá giữa Đại Việt và Trung Hoa lúc ấy hết sức giới hạn. Ngoài một số đoàn đi sứ qua lại, hay các nhà buôn thỉnh thoảng ghé vào chẳng còn con đường nào. Do đó ta có thể nói rằng nếu Huyền Quang có được bài thơ của Ảo Đường Trung Nhân thì có nghĩa rằng Huyền Quang có trong tay cuốn Gia Thái Phổ Đăng Lục của Lôi Am Chính Thọ (hoàn thành từ khoảng 1201-1208) hoặc Ngũ đăng hội nguyên của Phổ Tế 1228-1233 [10]. Như Tổ gia thực lục đã cho biết, Huyền Quang sau khi đi tu, đã có một thời gian hầu Điều Ngự, và sau đó là Pháp Loa. Như vậy nếu có các văn bản này nhất định Điều Ngự đã biết hay Huyền Quang đã trình với Điều Ngự hoặc Pháp Loa và việc ấy chắc đã được ghi lại trong tiểu sử của Điều Ngự cũng như Thiền Phái Trúc Lâm. Vậy mà trước và sau Huyền Quang chẳng thấy dấu tích của hai cuốn sách đó ở Việt Nam. Khi quân Minh chiếm Đại Việt, vua Minh ra lệnh thâu vàng bạc, châu báu và sử sách đem về Trung Hoa. Điều đó cho ta hiểu rằng nguồn tư liệu văn hoá trong quần chúng từ nước ta sang Trung Hoa rất nhiều so với từ Trung Hoa sang nước ta. Có lẽ cũng vì vậy mà có nhiều bài thơ của các thiền sư Trung Hoa giống với thơ thiền sư Việt Nam chăng?

Với những gì đã trình bày, tôi cho rằng vấn đề bài thơ “Xuân nhật tức sự” được ghi lại theo câu chuyện trong tiểu sử của Ảo Đường Trung Nhân là một nghi vấn.

Viên Như, Ất Dậu – Quý Đông


[1Về tác giả bài thơ “Xuân nhật tức sự”. Nguyệt san Giác Ngộ số 46, tr16, 1-2000. Tạp chí văn học số 1, 1984

[2Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 1, tr.44, nhà xuất bản Viện Văn học, Hà Nội 1977

[3Văn học Việt Nam, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, cuốn 1 trang 184, nxb Đại hoc và giáo dục chuyên nghiệp 1992

[4Thiền sư Việt Nam, Tr330, Thành hội PG Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 1992

[5Huyền Quang thiền sư – thi sĩ, Nguyễn Phương Chi, Tạp chí Văn học số 1, 1984

[6xem chú thích 3

[7Việt Nam Phật Giáo sử luận, C1, Tr397. Văn học in lần 3, 1992, Hà Nội

[8Xem phần viết về Huyền Quang trong Việt Nam Phật Giáo Sử luận, Nguyễn Lang. Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Thiền sư Việt Nam, HT Thích thanh Từ.

[9xem chú thích 1

[10Cả hai cuốn này đều có bài thơ trên