Menu

Trang nhà > Quan niệm > Thiền tông > CẢM THÀNH THIỀN SƯ

CẢM THÀNH THIỀN SƯ

Thứ Tư 21, Tháng Năm 2008

Ngài gặp được thiện duyên phát tâm xuất gia từ thời thơ ấu. “Túc duyên khánh hạnh” đã cho Ngài được làm đệ tử của vị sơ tổ môn phái Thiền Tông thứ hai ở Việt Nam. Sau khi học đạo, hành đạo và truyền bá đạo mầu, đến ngày sắp chứng đạo, Ngài được Tổ Vô Ngôn Thông truyền tâm ấn và phù pháp hiệu là Cảm Thành.

Cảm Thành Thiền sư sinh quán tại huyện Tiên Du (Bắc Ninh), không rõ tánh danh của Ngài là gì, chỉ biết khi Ngài phát tâm xuất gia (Pravrai) được phú pháp danh là Lập Đức. Trước kia, Ngài là tọa chủ một ngôi đại Già lam trên đỉnh núi Tiên Du. Thời gian sau, có gia đình phú hộ họ Nguyễn, cư trú tại làng Phù Đổng, vì kính phục đạo hạnh và tài ba của Ngài, phát tâm Bồ đề (Bodhicitta) đem hết gia tài sự nghiệp kiến tạo một ngôi đại Già lam và cung thỉnh Ngài về trù trì. hiện nay, ngôi chùa này hãy còn tại làng Phù Đổng, mang danh hiệu là chùa Kiến Sơ, một thánh tích ở miền Bắc Việt Nam.

Cảm Thành Thiền sư ở đó chẳng bao lâu, Tăng Ni và thiện tín qui tụ rất đông. Một hôm, Ngài Vô Ngôn Thông đi hoằng hóa ghé lại chùa ấy, nhìn thấy Cảm Thành Thiền sư có đầy đủ tác phong để truyền bá đạo sau này. “Sư tư tương hợp”, nên Tổ Vô Ngôn Thông lưu lại một thời gian để luận đàm đạo lý. Cảm Thành hiểu biết Tổ là bậc chứng ngộ đạo quả, nên tận tâm thờ kính, tôn trọng Tổ làm Thầy, sớm thăm, tối viếng, không bao giờ xao lãng bổn phận. Có cảm tất có ứng. Tổ Vô Ngôn Thông mới phú pháp hiệu cho Ngài là Cảm Thành. Ngài rất hoan hỷ khi nhận được pháp hiệu và từ đó về sau công hạnh của Ngài càng ngày càng thăng tiến.

Một hôm, Tổ Vô Ngôn Thông gọi Ngài đến rồi luận đạo rằng:
- Ngày trước Đức Thích Ca Thế Tôn (Sàkyamunibuddha) vì một đại sự nhân duyên nên mới ra đời, đại sự ấy là muốn khai thị chúng sinh ngộ nhập “ Phật tri kiến” . Khi sự hóa độ đã hoàn thành, chuẩn bị vào cảnh giới an vui vĩnh viễn (Mahàparinirvàna), Đức Phật đem “chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn” và pháp y bình bát (Pattacivaram) truyền trì cho Tôn giả Ma ha Ca Diếp (Mahàkàsyapa) là một Thượng túc đệ tử của Ngài. Như thế Ngài Ma ha Ca Diếp là đệ nhất Tổ của Thiền Tông chánh thống. Sau đó, truyền đến tổ A Nan (Ànanda), Thương na hòa tu (Sànakavasa), Ưu ba Cúc đa (Upagupta), Đề Đa Ca (Dhrtaka) v. v… đến đời thứ 28 là Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma). Y theo lời phú chúc của Tổ thứ 27 là Ngài Bát Nhã Đa La (Prajnàtara), Tổ Bồ Đề Đạt Ma vượt qua biển cả sang Trung quốc để “truyền pháp cứu mê tình”. Ngài trải qua không biết bao nhiêu gian nan nguy hiểm, nhưng vì nhân duyên chưa đến, Ngài phải ngồi xoay mặt vào vách suốt 9 năm trường tại chùa Thiếu Lâm ở núi Hùng Nhĩ. đến khi thời đến, duyên gặp, Ngài mới truyền xâm pháp cho Tổ Tăng Xáng, rồi đến Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Tổ thứ sáu là Huệ Năng.

“…Nhứt hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành”.

Từ Tổ thứ nhất là Bồ Đề Đạt Ma đến Tổ thứ sáu là Ngài Huệ Năng, lúc trao truyền chánh pháp nhãn tạng đều dùng pháp y, bình bát làm kỷ vật chứng minh. Trong thời gian đầu phải làm như thế, thiên hạ mới hiểu biết tin tưởng chánh đạo, nhưng về sau, giáo pháp của Phật đã ttruyền bá sâu rộng, nhận thấy pháp y bình bát là một dụng cụ rất dễ sinh ra nhiều mối tranh đoan, nên lục Tổ Huệ Năng không truyền thừa bằng tâm pháp mà thôi. Bằng chứng cụ thể là sự tranh đoan giữa lục Tổ Huệ Năng và Ngài Thần Tú. Về sau có những câu thơ diễn tả các sự kiện trên:

“Như như bất động thị Di Đà
Giáo lý chân truyền tự Thích-Ca.
Ca-Diếp Tây thiên vi nhất tổ,
Đạt-Ma Đông độ thủ Tăng-già,
Huệ-Năng ngộ đạo tồn y bát,
Thần-Tú thất truyền triệt bát sa…”.

Từ khi lục Tổ Huệ Năng truyền tâm pháp về sau, có rất nhiều vị chứng thành đạo quả: Ngài Nam Nhạc truyền tâm pháp cho Mã Tổ thiền sư, Ngài y cứ giáo pháp tu hành về sau đắc đạo, rồi truyền lại cho Bách Trượng Hoài Hải thiền sư, tín đồ qui hướng về các Ngài đông vô số. Lúc bấy giờ tại phương Bắc, Phật giáo rất thịnh hành, nhờ sự truyền bá hợp thời, hợp cơ và hợp cảnh, đa số thấu hiểu giáo lý Đại thừa (Mahàyàna). Vì thế ta phải chịu nhọc vân du sang phương Nam, để quan sát tìm những pháp khí, những người căn tánh thông lợi mà truyền giao chánh pháp. Nay được gặp nhà ngươi tại đây, thật là nhân duyên tiền định, mà cũng là túc chưởng thiện căn. Vậy con hãy định tâm nghe kỹ bài kệ sau đây:

“Chư phương hạo hạo
Vọng tự huyên truyền
Vị ngô thỉ tổ
Thân tự Tây thiên
Truyền pháp nhãn tạng
Mục vị chi thiền.
Nhất hoa ngũ diệp
Chủng tử miên miên
Tiềm phù mật ngữ
Thiên vạn hữu duyên
Hàm vị tâm tôn
Thanh tịnh bản nhiên
Tây thiên thử độ
Thử độ Tây thiên
Cổ kim nhật nguyệt
Cổ kim sơn xuyên
Xúc đổ thành trệ
Phật tổ thành oan
Sai chi bách thiên
Thất chi bách thiên
Nhữ thiện quán sát
Mạc khiễm nhi tôn
Trực nhiêu vấn ngã,
Ngã bổn vô ngôn”.

Dịch:

“Các nơi đồn đãi thổi phồng
Tuyên truyền nhiều cách cho lòng lánh xa.
Nói rằng Phật tổ Thích-Ca
Tây thiên sinh trưởng, nước ta cách vời.
Truyền pháp nhãn tạng nơi nơi.
Gọi là đạo chánh, muôn đời tịnh tâm.
Một hoa năm cánh xa xăm,
Liên miên hạt giống nhiều năm gieo trồng
Nhiệm mầu lời dạy chí công,
Nghìn muôn duyên phước, đồng lòng tiến tu.
Ấy là Tâm ấn công phu
Thản nhiên yên lặng vân du hoàn cầu.
Tây phương là đó nhiệm mầu,
Đó là phương hướng dứt sầu trần ai.
Mặt nhật mặt nguyệt cả hai,
Núi sông cây cỏ xưa nay tuần hoàn.
Chạm đường ngưng trệ khó đoan,
Không khéo Phật tổ thành oan lối truyền.
Sai đi một mảy đảo điên,
Trăm nghìn lầm lỗi não phiền đường tu.
Đừng đề ta thán đền bù về sau.
Ta không thích nói đâu đâu,
Xin đừng gạn hỏi, lâu mau làm gì

Nghe qua bài kệ của Tổ Vô Ngôn quá sâu sắc tế nhị, hàm súc nghĩa lý nhiệm mầu của đạo giải thoát, Cảm Thành thiền sư nhận chân ngay lý thú vô thượng của Thiền Tông (Dhyànayàna).

Một hôm có một vị sư đến gặp Ngài để vấn đạo:
-Thế nào gọi là Phật?
-Thế nào cũng là Phật cả. Chỗ nào cũng đều có Phật.
-Tâm của Phật ở chỗ nào?
-Tâm Phật “ khắp tất cả chỗ” (Vairocana), không hề che giấu chỗ nào, không hề phơi bày chỗ nào.

Xét các câu trên, chúng ta thấy đường lới truyền trao tâm pháp của Thiền Tông chỉ đơn giản như thế, nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa cao siêu. Đúng ra Thiền Tông thì “ bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Còn hỏi còn trả lời, là còn nằm trong vòng phương tiện.

Năm Canh Thìn, niên hiệu Hàm Thông năm thứ nhất (860 Tây lịch), một hôm Cảm Thánh thiền sư không bệnh tật gì, Ngài cho gọi tất cả môn nhơn đệ tử lại, phú chúc mọi việc, nhất là việc truyền pháp lợi sinh. Ngài truyền tâm pháp cho Thiện Hội thiền sư, một cao đệ đạo hạnh gương mẫu của Ngài.

Trong thời gian Cảm Thành thiền sư truyền bá đạo giải thoát, chính là lúc pháp nạn bên Trung Quốc, chùa tháp bị phá hủy, Tăng Ni bị bắt hoàn tục, Phật pháp không được truyền bá, thuyết pháp bị cấm chỉ tối đa. Đây là “Đệ tam võ ách”, tức là Võ Tôn nhà Đường. Mặc dù nước Việt Nam của chúng ta cách xa Trung Hoa, nhưng vì lúc bấy giờ nước ta bị lệ thuộc nước Tàu, nên Phật giáo Việt Nam thời ấy cũng bị ảnh hưởng sâu xa, bị ngưng trệ việc truyền bá, nhiều nơi trong nước phải đình chỉ việc phát huy nền đạo lý cổ truyền. Tuy thế những người Phật tử nước Nam vẫn âm thầm hành đạo, vì Phật giáo đã ăn sâu vào tâm não của dân chúng từ ngàn xưa. Hơn nữa trong thời kỳ ấy có nhiều vị Đại đức, Cao Tăng Ấn Độ và Trung Quốc trốn sang nước Việt để tiếp tục hành đạo và truyền bá Đạo Vàng.

(Theo Quảng Đức)