Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Đối thoại > "Nền giáo dục này chưa thể có Nguyễn Hữu Ninh"

"Nền giáo dục này chưa thể có Nguyễn Hữu Ninh"

Thứ Tư 28, Tháng Năm 2008

Tiến sĩ Nguyễn Hữu Ninh (ảnh năm 1972), nhà khoa học Việt Nam đầu tiên được xướng tên tại Lễ Trao giải Nobel Hòa bình 2007

Nguyễn Hữu Ninh (NHN) sinh năm 1954 tại Hà Nội. Từ năm 1971 du học tại Hungary. Sau đó, về công tác tại Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1982 đến năm 1986, tiếp tục sang làm nghiên cứu sinh ở Hungary và tốt nghiệp thạc sĩ sinh học. Năm 1986, quay lại ĐH Tổng hợp và bắt đầu nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu và môi trường toàn cầu, hợp tác với các nhà khoa học của hàng chục nước trên thế giới. Năm 1991, ông thành lập Trung tâm Nghiên cứu, Giáo dục và Phát triển Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

“Vấn đề của người ta” cũng chính là “vấn đề của mình”

PV: Bây giờ thì giới truyền thông và bản thân người dân Việt Nam đã tương đối hiểu những ảnh hưởng tai hại của biến đổi khí hậu đến cuộc sống của mình và thế hệ tiếp theo. Rằng, Việt Nam có hai thành phố tuyệt vời ven biển là Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, được liệt vào danh sách 10 thành phố bị ảnh hưởng nặng nề nhất do những hậu quả của biến đổi khí hậu trong vòng 20 đến 50 năm nữa. Rằng Bộ Tài nguyên Môi trường Việt Nam đã chính thức thừa nhận, trong thập kỷ tới, khoảng từ năm 2010 đến 2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam sẽ tăng không dưới 1,5 độ C - tăng nhiều nhất là vùng Việt Bắc và Tây Bắc. Lũ lụt sẽ tăng với tần suất và cường độ gấp 20% so với hiện nay! Là người đã nghiên cứu, lo toan, trăn trở hơn 20 năm qua về vấn đề này, chắc ông thấy cũng được… an ủi nhiều?

NHN: Từ chỗ không ai biết tôi nghiên cứu cái gì, tại sao lại tìm hiểu về cái chuyện “xa xôi” ở tít trên trời thế, giờ, khi nhận thức nâng cao, khi hậu quả nhãn tiền, khi công trình của chúng tôi được trao giải Nobel, người ta tò mò xem ông Ninh là ông nào, công việc của ông ấy nó… ra thế nào (cười).

Ngay cả một số nhà báo cũng nói với tôi rằng, trước đây, bọn em viết về biến đổi khí hậu sợ “đụng chạm” lắm. Nhiều người không hiểu và… không chấp nhận những lời cảnh báo của chúng tôi. Anh cứ viết bài về nước biển dâng cao, nước chìm mất hết cả chuyện làm ăn của chúng tôi (cười). Trước, thế giới nói về biến đổi khí hậu người ta Việt Nam cứ mặc kệ, vì họ nghĩ, ở Việt Nam chả ai “đo” được những cái sự “biến đổi khí hậu” đó. Nói ra cũng chả ai tin cả.

Nay, thông tin quốc tế chính xác, đã được công bố rộng rãi, có người Việt Nam mình tham gia viết quyển sách đó, được xướng tên ở Lễ trao giải Nobel đó, thế là người ta tin. Không ai đủ lý để cãi nhau tay bo rằng biến đổi khí hậu là chuyện của… nơi khác (chứ không phải của Việt Nam) nữa. Giờ ai không tin, muốn kiểm tra, họ sẽ hỏi: công trình khoa học đâu, đăng tải ở trang web nào? Họ tìm và biết ngay là có… ông Nguyễn Hữu Ninh và nhiều “đồng nghiệp” của ông!

Thế nên, một số nhà báo mới bảo tôi, anh cho em mượn cái tên anh để đem chuyện cần phải nói, đáng phải nói này ra với công chúng. Lời cảnh báo là đúng, là cần, là cấp thiết, nhưng phải đến bước ngoặt lịch sử từ bản báo cáo trên, vấn đề biến đổi khí hậu và sự tai hại của nó mới chính thức được “bắt tận tay, day tận trán”.

Đầu tiên người ta tò mò xem vấn đề, xem cái ông Ninh, rồi người ta hiểu và hành động theo như những gì loài người tiến bộ đang làm. Cơn bão truyền thông về tôi, về vấn đề biến đổi khí hậu sau khi có giải Nobel Hòa bình 2007 vừa qua, có ý nghĩa nhất là ở chỗ đó. Nhiều nhà báo gọi vui là: bọn em “lợi dụng” (trong nháy nháy) tên tuổi và công việc của anh để nói về một vấn đề có lợi cho cộng đồng, cho lương tâm của con người.

PV: Đúng như thế, và nó đúng cả ở chiều ngược lại nữa: các nhà “lập thuyết” và đi tiên phong trong những vấn đề của loài người tiến bộ, loài người có lương tri thì họ luôn coi giới truyền thông là đồng nghiệp. Ví dụ, một nhà bảo tồn hổ, ngoài việc theo dấu chân hổ, cứu hộ hổ, chống kẻ săn bắn và mua bán hổ, họ còn làm cái việc quan trọng không kém: là bằng hình ảnh mình, công việc của mình và đồng nghiệp, làm sao để cả thế giới cùng tham gia bảo tồn hổ. Cùng căm phẫn những kẻ sát hại loài hoang thú có nguy cơ tuyệt diệt đang phát tín hiệu báo động đỏ… Tương tự, công việc “chiến đấu” vì một tương lai tốt đẹp hơn cho bức tranh buồn biến đổi khí hậu toàn cầu, truyền thông và toàn bộ 7 tỷ người trên thế giới sẽ chính là “công cụ”, là cánh tay nối dài của các nhà nghiên cứu và hành động vì biến đổi khí hậu. Ông có nghĩ như vậy?

NHN: Truyền đạt cho người khác hiểu vấn đề, cùng tham gia công việc với mình, đó cũng chính là nhiệm vụ của tôi. Tôi “lợi dụng” (trong ngoặc kép) báo chứ, nó là phương tiện quý báu mà các nhà nghiên cứu như mình sử dụng để công chúng cùng hiểu và hành động. Đó cũng là mục đích cho các công trình nghiên cứu của chúng tôi. Truyền thông đúng chỗ, đúng người, nói được vấn đề là một nhiệm vụ. Tôi cũng đã tham gia phản biện, nói rất kỹ về vấn đề biến đổi khí hậu, rằng nó rất quan trọng, nó gắn liền với bảo vệ môi trường, gắn liền với việc nâng cao nhận thức về vấn đề biến đổi khí hậu cho các quan chức của Quốc hội. Để khi Chính phủ và các Bộ đưa vấn đề ra thì cán bộ sẽ nắm được cụ thể và khoa học hơn vấn đề đó.

PV: Lại trở lại vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ động vật hoang dã và môi trường nói chung. Các nhà bảo tồn luôn bất lực, bất lực nhất, ví như, khi mà giữa lòng Thủ đô Hà Nội, lúc nào trong ví có ba trăm nghìn trở lên, bạn cũng có thể đánh chén thịt thú rừng. Không phải người ta không thể bắt cổ được những người bán thịt thú rừng, mà hình như chúng ta đang “vui vẻ” chung sống với sự trái luật pháp này. Các nhà bảo tồn bất lực. Hình như người làm về biến đổi khí hậu còn bất lực hơn..

NHN: Đúng thế. Nhưng, vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu này không phải chỉ là vấn đề môi trường, nó là vấn đề liên quan trực tiếp đến chính trị và hòa bình của từng quốc gia và cả thế giới. Biến đổi khí hậu là vấn đề lớn, nó trùm lên mọi nền kinh tế và mọi thể chế xã hội. Nó có thể làm thay đổi toàn bộ mọi cấu trúc của một xã hội. Đó cũng là lý do mà vì sao người ta trao giải Nobel cho vấn đề biến đổi khí hậu cũng như những đóng góp của các của nhóm tác giả viết “Bản báo cáo thứ tư” đối với hòa bình thế giới. Khi hạn hán làm người ta không sống được ở Châu Phi, người ta sẽ tràn qua Địa Trung hải, tràn vào châu Âu mà người châu Âu không có cách gì ngăn cản nổi. Không thể bắn giết đồng loại được. Thế là, vấn đề của châu Phi, nhưng cũng là vấn đề của chính châu Âu.

Thế nên, các nền kinh tế, các đất nước cần phải coi vấn đề của người ta cũng là vấn đề của mình, thông qua vấn đề biến đổi khí hậu. Hai nữa nó cũng là vấn đề giữa con người với con người. Trở lại ví dụ trên kia, khi một số hòn đảo ở nước nọ bị ngập do biến đổi khí hậu, người dân tràn sang đất nước bên cạnh và người dân nước bên cạnh… phải chấp nhận. Cho nên, vấn đề biến đổi khí hậu còn là một vấn đề chính trị.

Họ nghĩ gì khi họ tưới độc hại vào bà con mình?

PV: Trước những nguy cơ trên, chúng ta không nên chỉ vận động bà con hãy nâng cao ý thức, hãy nhân văn và vì cộng đồng hơn trong bảo vệ môi trường và tránh các nguy cơ do biến đổi khi hậu. Điều đó là cần thiết nhưng vẫn chưa gây đủ áp lực mạnh lên những người thiếu ý thức. Vấn đề mấu chốt là quyết sách, sự nghiêm khắc của nhà quản lý trong việc “khống chế” không cho người ta vi phạm nữa.

NHN: Tôi đi đến hàng chục nước trên thế giới, tôi đã gặp quá nhiều chuyên gia về lĩnh vực biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Tôi nhận thấy đất nước Thụy Điển thật tuyệt vời, tính nhân văn của họ rất cao. Họ đã hiểu Việt Nam, đã giúp Việt Nam rất nhiều. Quan điểm sống chia sẻ với đồng loại của họ rất là nhân văn. Họ có phương châm sống rất rõ ràng rằng, nếu mình có cái gì, mình đem chia sẻ, giúp đỡ người khác mới là hạnh phúc. Hạnh phúc hơn là bo bo giữ cho một mình mình hưởng. Tự dưng tôi đặt câu hỏi khi nói đến điều này: Người Việt Nam với nhau, sao mình chưa làm tốt cái phương châm sống chia sẻ và đem hạnh phúc đến cho người khác một cách thật sự ở góc độ biến đổi khí hậu và môi trường nhỉ? Anh mang rác thải vào đất nước mình để “tái chế”, giết môi trường kiếm ăn; anh tưới độc hại lên rau quả cho đồng bào mình ăn và mang bệnh tật; anh nhập gà loại gà thải của nước lân bang vào cho bà con mình ăn. Anh nghĩ gì về cái việc anh làm hại chính mình, chính đồng bào mình kia? Khi có đám bất lương ấy, nhà nước pháp quyền phải xử lý thế nào trong chuyện này?

PV: Thú thật là tôi kính trọng sự bất bình rất thẳng thắn, xây dựng và nhân ái của Tiến sĩ Ninh. Ông nghiên cứu về biến đổi khi hậu đã 22 năm, không biết ông đã bắt đầu thấm thía cái cảnh doanh nghiệp và bà con “kiếm ăn” thông qua làm hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng bị phun hóa chất độc hại kia từ khi nào?

NHN: Ban đầu, khi chưa tham gia nghiên cứu biến đổi khí hậu, tôi là nhà sinh học, nhiều năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Tôi nhận thấy, nhiệt độ thay đổi một tí ti thôi, thì những hệ thống liên quan trong cơ thể sống (như cơ thể người và động vật) nó bị thay đổi rất ghê gớm. Chỉ cần 0,1 độ C thôi.

Sự tiến hóa của sinh học từ hàng tỉ hàng triệu năm trở lại đây, nó đã hoàn thiện, đã ở một mức độ rất ổn định nào đó. Nhưng, chỉ trong vài chục năm hoặc trong 1 thế kỷ thôi, các loài sinh vật đã bị những thay đổi khí hậu ở mức độ “sốc”, những thay đổi rất ghê gớm (thay vì hàng triệu năm mới thay đổi nhiều như vậy). Vậy thì cái cơ thể sống kia phải thích nghi như thế nào đó với sự thay đổi “đột ngột” này?

Cụ thể, sự biến đổi khí hậu nó đặt ra một câu hỏi là con người ta phải thích nghi với điều đó như thế nào? Muốn thích nghi được thì tôi phải như thế nào? Phải có đê chắn sóng biển khi nước biển dâng, phải có tiền lợp nhà khi mưa gió, lũ lụt kéo đến ầm ầm như thế nào? Tôi phải trở về cái thời đóng khố, cởi trần, hay tôi mặc quần áo bằng thứ chất liệu khác đi, khi mà trời trở nên nóng bức quá thể do hiệu ứng nhà kính? Từ đó, xuất hiện nỗi lo toan và sự trách móc với những người vô cảm với môi trường sống, với cuộc sống của chính bà con mình.

“Om” cà phê lại, đừng có bán vội vì sắp có En-ni-nô

PV: Ở Việt Nam, giới nghiên cứu về thời tiết, khí hậu và những hậu quả của “hiệu ứng nhà kính”, không chỉ có một mình TS Ninh, giới ấy có đông không?

NHN: Tôi bước vào nghiên cứu thay đổi khí hậu, công việc của tôi có nhiều cái khác cơ quan khác, như Bộ Tài Nguyên Môi trường chẳng hạn. Khác những người đo gió, đo mưa, đo sấm sét, bão lũ. Họ tìm hiểu, họ đưa ra con số, còn những người như tôi thì đi sâu phân tích những thông tin đó. Tôi sử dụng thông tin của họ và đưa ra kết luận về vấn đề biến đổi khí hậu mà tôi đang nghiên cứu. Ví như, anh đưa ra vấn đề En-ni-nô, tôi sẽ trình bày cho anh rằng khi có En-ni-nô thì loài người sẽ mất cái gì, Trái đất giảm nhiệt ra sao, sẽ phải trồng cây gì cho thích hợp; sản xuất và sinh sống thì phải làm sao giảm thiểu thiệt hại. Thậm chí phải cụ thể và hài hước, như là: hãy om cà phê lại, đừng bán, chứ sang năm nó sẽ mất mùa vì En-ni-nô đấy nhé. Nói rộng hơn cái việc “om cà phê” là kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu xếp cuộc sống để chống chọi với hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Nói khác đi, nghiên cứu biến đổi khí hậu, đôi khi nó là còn là… một thứ khoa học ứng dụng.

PV: Giới nghiên cứu, khoa học, văn nghệ sĩ Việt Nam có lẽ hầu như không tin rằng, đến một ngày, Lễ Trao giải Nobel Hòa bình lại được xướng lên, có tên của một nhà khoa học Việt Nam. Với những đóng góp rực rỡ của mình, TS Nguyễn Hữu Ninh hoàn toàn có thể nhận định điều bất cập “căn bản” của ô nhiễm môi trường ở Việt Nam.

NHN: Chúng ta phải công bằng. Cùng một con sông, người ở phía trên làm ô nhiễm, người phía dưới ra sức cải tạo nguồn nước, rất tốn kém, rồi nguồn nước ấy làm cho sản phẩm người ta sản xuất ra không bán được. Chúng ta cần mạnh tay xử lý đối tượng gây ô nhiễm, để đảm bảo sự công bằng. Mà hơn thế, cái môi trường ở Việt Nam khi nó bị ô nhiễm, thì chính người Việt Nam chung tay mà giải quyết lấy, chứ đừng trông chờ người nước ngoài. Họ có giúp thì họ giúp về kỹ thuật. Về kinh nghiệm. Về những cái mà Việt Nam còn thiếu, chứ họ không đem tiền sang cải thiện môi trường cho mình. Trách nhiệm đó phải được quy cụ thể cho “đối tượng” gây ra ô nhiễm, chứ không thể là trách nhiệm tập thể.

PV: Ý ông nói là nhà nước pháp quyền của chúng ta cần mạnh tay hơn để xử lý những người giết môi trường sống của bà con mình?

NHN: Vấn đề là người quản lý, trong chuyện môi trường và khí hậu này là đặc biệt cần nhấn mạnh. Bởi vì cái quyết định mọi thứ là do con người. Quyết tâm chính trị nó nằm ở chỗ đó.

PV: Các nhà văn Việt Nam không ai dám một lần dám ao ước đến một ngày đẹp trời, tên mình và tác phẩm của mình sẽ được xướng lên trong Lễ Trao giải Nobel. Bất ngờ thay, một chuyên gia về biến đổi khí hậu đã nhận cái vinh quang kia. Ông từng nghe một gốc Việt nào tham gia một công trình nào được giải Nobel chưa?

NHN: Gốc Việt cũng không có ai. Mình tôi.

PV: Ông có biết giới trí thức Việt Nam nghĩ gì về “sự kiện” tác phẩm mà ông là đồng tác giả được giải Nobel Hòa bình 2007?

NHN: Lời chúc mừng thì rất nhiều. Giáo sư viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu có chúc mừng, bắt tay và nói rằng: tôi có theo dõi những việc làm của anh trong suốt thời gian vừa rồi. Tôi thật sự chúc mừng thành công của anh. Anh xứng đáng nhận giải thưởng cao quý như thế này. GS Nguyễn Lân Dũng cũng chúc mừng nồng nhiệt và mời tôi đến nhà chơi…

PV: Có lời chúc mừng nào làm cho anh nhận ra được… bản chất vấn đề trong giới nghiên cứu ở Việt Nam?

NHN: Nhiều trí thức bảo tôi, ta đừng đồng nhất giá trị của nền giáo dục Việt Nam đang có với cái việc TS Nguyễn Hữu Ninh là một tác giả trong nhóm tác giả đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình. Hai điều đó không đi liền với nhau. Bởi vì nền giáo dục này chưa thể đưa ra một người như Nguyễn Hữu Ninh đâu. Mà đây là một đột phá cá nhân. Nỗ lực cá nhân mang tính đột phá, trên cái nền tảng của khoa học thế giới. Chứ đừng nói ta gắn cái hai không, nói không với tiêu cực và bệnh thành tích của giáo dục ta mà ra được “thế này” (ý nói là thành quả mà TS Ninh đã đạt được). Đấy, thì những nhà thông thái người ta nói chuyện riêng với mình và một số người xung quanh là như thế.

(Còn tiếp)

Lãng Quân thực hiện (Vietimes)