Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > NGƯỜI TÌNH CỦA ĐỨC GIÁM MỤC

Giới thiệu sách:

NGƯỜI TÌNH CỦA ĐỨC GIÁM MỤC

Thứ Năm 5, Tháng Sáu 2008

Cuộc đời ngắn ngủi như thế, sao không biết quý mỗi giây phút sống và tình yêu trần tục, mà lại tưởng tượng ra “Nước Chúa” hoặc một sứ mạng thiêng liêng nào đó để đoạn tuyệt với tình yêu có thực?

Tác giả Jostein Gaarder là một nhà văn lớn có tiếng trên thế giới. Ông sinh năm 1952 tại Oslo, lớn lên nhiều năm làm nghề dạy học và từ 1986 có tiểu thuyết xuất bản.

Tác phẩm chính: “Thế giới của Sophie (Sophie’s World, 1991)”, một bestseller triết học được dịch ra hơn 40 thứ tiếng (tới nay đã hai lần dịch sang tiếng Việt).

Một số tiểu thuyết: “Câu chuyện Lễ Giáng sinh (The Christmas Mystery, 1992)”, “Bí mật của cỗ bài tây (The Solitaire Castle, 1990)” v.v.. đều được tặng các giải thưởng văn học.

NGƯỜI TÌNH CỦA ĐỨC GIÁM MỤC

Tác giả: Jostein Gaarder (Na Uy)

Nguyên văn tiếng La-tinh: VITA BREVIS (Cuộc đời ngắn ngủi)

Dịch lại từ bản tiếng Trung Quốc của NXB Côn Lôn, in năm 1999. Có tham khảo bản tiếng Anh (90 trang khổ 13x19).

Tóm tắt nội dung

Bức thư dài của Floria Aemilia gửi cho người yêu là Augustine, sau khi bị Augustine bỏ rơi. Cả hai đều là người Bắc Phi, năm 19 tuổi họ gặp nhau tại Carthage (một vương quốc thuộc đế quốc cổ La Mã, nay thuộc Tunisia) và yêu nhau bằng tình yêu sét đánh rồi chung sống với nhau 12 năm không cưới, sinh được một con trai.

Về sau, Augustine đưa Floria và con sang Italy. Anh tiếp nhận Ki Tô giáo và rơi vào mâu thuẫn giữa hiến thân cho nước Chúa với hưởng thụ lạc thú đời sống trần tục. Mẹ Augustine là bà Monica (sau cũng được giáo hội La Mã phong thánh) ép con trai chia tay với Floria, khiến cô phải trở về quê cũ.

Sau khi mẹ chết, Augustine đón Floria sang nhưng lúc ấy tình yêu gia đình đã trở thành vật cản anh dấn thân theo Chúa. Hai người lại chia tay nhau.

Floria đau khổ quyết chí học triết học và văn học để tìm ra nguyên do tại sao mối tình của mình bị phá vỡ. Ba năm sau, con trai 15 tuổi của họ ốm chết khi đang ở với bố.

Augustine tiến nhanh trên nấc thang quyền lực của Giáo hội Ki Tô, trở thành giám mục xứ Hippo ở Bắc Phi, là nhân vật có quyền thế nhất, triết gia danh giá nhất của đạo Ki Tô [1]. Ông viết tự truyện Sám hối (The Confessions – tác phẩm nổi tiếng nhất của St. Augustine, có ảnh hưởng rất lớn trong đạo Ki Tô), ăn năn hối lỗi về các sai lầm của mình như theo đuổi hạnh phúc tình yêu - tình dục trần tục, và kêu gọi mọi người hiến dâng tất cả cho Thượng Đế.

Sau khi đọc sách đó, Floria viết một bức thư dài “Kính gửi Đức cha xứ Hippo – ngài Augustine”, đứng trên quan điểm của một phụ nữ có học, phê phán Ki Tô giáo, vạch trần sai lầm của thuyết cấm dục trong tôn giáo và nói rõ tình yêu nam nữ mới là hạnh phúc đích thực của đời người.

Tên gốc của truyện là Vita Brevis (tiếng La Tinh), nghĩa là Cuộc đời sao ngắn ngủi thế – lời Augustine nói với Floria trên cầu qua sông Arno, khi họ đang yêu nhau. Cuộc đời ngắn ngủi như thế, sao không biết quý mỗi giây phút sống và tình yêu trần tục, mà lại tưởng tượng ra “Nước Chúa” hoặc một sứ mạng thiêng liêng nào đó để đoạn tuyệt với tình yêu có thực ? Đó chính là tội lỗi mà Augustine phạm phải đối với Floria và cũng là nội dung của truyện này.

Giới thiệu về Thánh Augustine

Saint Augustine (365-430) là một trong vài chức sắc giáo hội nổi tiếng nhất trong lịch sử đạo Ki Tô, tư tưởng của ông có ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc đối với việc phát triển tôn giáo này. Tác phẩm “Sám Hối” (Confessions) của ông đã từng rất quen thuộc với nhiều thế hệ bạn đọc phương Tây.

St. Augustine ra đời ở Bắc Phi, nay thuộc Algeria. Tuy mẹ là bà St. Monica theo Ki Tô giáo, nhưng Augustine lại theo đạo Mani (Manichaeism, một tôn giáo nhị nguyên do Mani sáng lập ở Ba Tư). Lớn lên học triết và tu từ học ở Carthage, rồi dạy học ở đó 8 năm. Năm 383 sang Rome (Italy) ở và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Plato mới (Neoplatonism, một triết học thần bí ra đời vào thế kỷ III tại Rome). Về sau đến Milan dạy học, gặp St. Ambrose, giáo chủ (bishop) xứ Milan, dần dần tiếp thu Ki Tô giáo; năm 387 quyết định theo Ki Tô giáo và chịu lễ rửa tội. Năm 391 được phong linh mục; năm 396 làm giám mục xứ đạo Hippo (Bắc Phi).

Trong cuộc đấu tranh gay gắt với các tôn giáo và giáo phái khác, Augustine trở thành nhân vật trung tâm của giới học thuật Ki Tô giáo, được gọi là người cha của thần học Ki Tô giáo. Ông đã trình bày các vấn đề như Tam vị nhất thể (Thánh phụ, Thánh tử, Thánh linh), Thuyết Sáng Thế (Thượng Đế sáng tạo thế giới), Thuyết Tội tổ tông (con người sinh ra đã có tội), Thuyết Cứu rỗi (Đức Ki Tô tuẫn nạn để chuộc tội cứu vớt người đời) v.v… có tác dụng to lớn biến đạo Ki Tô thành một hệ thống tôn giáo khá hoàn chỉnh và chặt chẽ, có lý luận thần học và các giáo điều thiêng liêng.

Augustine là giám mục viết nhiều tác phẩm nhất, nổi tiếng hơn cả có tự truyện “Sám hối” (Confessions) và “Thành phố của Chúa” (De Civitate Dei), chứa đựng các tư tưởng bênh vực đạo Ki Tô chống lại tôn giáo khác và bảo vệ triết học lịch sử của đạo Ki Tô. “Sám hối” gồm 2 phần. Phần 1 kể lại giai đoạn từ nhỏ đến năm 33 tuổi, khi mẹ mất. Phần 2 phân tích tình hình tư tưởng của Augustine khi viết sách, ca ngợi sự vĩ đại của Thượng Đế. Sách viết bằng văn phong nhuần nhuyễn sinh động, là một trong các kiệt tác văn học cổ đại, có ảnh hưởng lớn đối với văn học phương Tây.

Ngày lễ tôn giáo (feast day) St. Augustine là ngày 28 tháng 8.

Người giới thiệu và dịch: Nguyễn Hải Hoành


Mục lục

Lời nói đầu

Bức thư

1. Xưng hô với anh như thế này thật ra có vẻ kỳ quặc quá.

2. Em từng nhắc là em quen đức linh mục xứ Carthage.

3. Trong tập 3 anh có nhắc đến chuyện hồi còn trẻ anh từng đến Carthage.

4. Ít lâu sau, chúng mình đưa đứa con trai mới 2 tuổi đi.

5. Trong tập 5, anh nhắc đến chuyến đi từ Carthage tới Rome.

6. Cuối cùng anh gặp giáo chủ Ambrose tại Milan.

7. Anh viết tới đoạn bà Monica khẩn thiết yêu cầu anh lấy vợ.

8. Trong tập 8, anh tả cảnh anh theo đạo tại Milan.

9. Bây giờ, em muốn dùng lại một câu nói của anh.

10. Bi kịch đã hạ màn, thưa Ngài Giám mục.

Chú thích

Lời bạt cuối sách


LỜI NÓI ĐẦU

Mùa xuân năm 1995, trong thời gian dự Hội chợ sách Buenos Aires tôi đến thăm chợ trời nổi tiếng ở San Telmo. Tại một hiệu sách cũ, tôi tình cờ thấy một chiếc hộp màu đỏ ngoài có đề “Thư của Floria”. Mở hộp tôi thấy một tập bản thảo chữ La Tinh, bên ngoài đề “Floria Aemilia Aurelio Augustino Episcopo Hipponiensi Salutem” (Floria Aemilia gửi Đức Cha Aurelio Augustine giám mục xứ Hippo). Lẽ nào đây là thư của một người xưng tên Floria viết cho giám mục Augustine hồi thế kỷ IV ? Tôi biết cuộc đời của vị giám mục này vì đã đọc cuốn “Sám hối” tự truyện của ông. Bức thư khoảng 70-80 trang. Tôi thử dịch một câu: “Gọi anh bằng cách này nghe có vẻ lạ tai lắm nhỉ, vì thủa xa xưa em chỉ gọi anh bằng cái tên Aurel tinh nghịch của em mà thôi.” Giọng văn sao mà thân thiết trìu mến thế ! Tôi chợt hiểu: có thể đây là thư của một phụ nữ từng chung sống với Augustine viết cho ông; vì tự truyện có nói ông quyết định trong quãng đời còn lại sẽ xa lánh mọi cảm giác yêu bởi các giác quan, vì thế ông phải đoạn tuyệt với các người tình của mình. Có điều chưa ai biết gì về những phụ nữ đó.

Nhận ra tôi là nhà văn Na Uy được giới thiệu trên truyền hình, chủ hiệu ra giá 15 nghìn đồng peso cho “Thư của Floria”. Tôi trả 12 nghìn ! Đây là một cái giá quá cao nếu bản viết này là của giả, nhưng sẽ là quá rẻ nếu là của thật. Chủ hiệu đồng ý và nói: “Như thế nghĩa là chúng ta cùng chia xẻ rủi ro ! Hoặc tôi lãi to hoặc ngài vớ bẫm !”

Tôi đã vớ bẫm. Kết quả giám định xác nhận đây là văn bản viết vào thế kỷ XVI, rất có thể được viết ở Argentina, là bản chép lại của bản chính viết trên da cừu. Bản chính ấy ở đâu, ai mà biết được. Tôi không chút hoài nghi về tính xác thực của bản chép lại này, vì ở Argentina thế kỷ XVI không ai có khả năng nguỵ tạo được một bức tình thư bằng tiếng La Tinh như thế. Câu chữ trong thư đúng là của thời cổ, tình cảm của Floria đúng là của người thời ấy.

Sau đó tôi mang văn bản này đến Thư viện Vatican nhờ phân tích thêm. Người ta đã không giúp gì tôi mà còn ngoan cố khẳng định chưa bao giờ nhận được loại văn bản như thế này. Điều ấy không có gì lạ. Họ phải bảo vệ giáo chủ của họ chứ.

Năm 1996, tôi dịch văn bản trên ra tiếng Na Uy. Đây là dịp tôi luyện tập môn tiếng La Tinh đã được học 4 năm ở trường của Giáo hội Oslo (Oslo Cathedrral School). Thầy cũ của tôi là Oskar Fjeld đã giúp tôi không ít.

Jostein Gaarder


[1Thời đó giáo hội Kitô chưa có các chức vụ hồng y, giáo hoàng (ĐT)