Menu

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp (2)

Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp (2)

Thứ Hai 8, Tháng Mười Hai 2008

Ở trên, chúng ta đã xét nguồn gốc triết học nói chung. Với nguồn gốc ấy, triết học căn bản là duy vật và biện chứng, biểu hiện thế giới quan khoa học. Nhưng thế giới quan khoa học ấy lại xuất hiện trong những giới hạn nhất định, giới hạn ấy là giới hạn của bộ phận công thương chủ nô đang lên, ngày ấy là tương đối tiến bộ. Thắng lợi của bộ phận này có tính chất nhất thời và hạn chế. Hạn chế tức là chỉ có thể phát triển trong một tầng lớp nào đấy (công thương, thủ công, phú thương) mà ít ảnh hưởng trong nhân dân (nhân dân tự do), đồng thời tăng cường phương thức bóc lột nô lệ. Thắng lợi ấy cũng là nhất thời: ngay trong thế kỷ thứ VI TCN, phong trào tôn giáo lại trở lại mạnh, cụ thể dưới hình thức cứu hồn.

Phong trào này là tương đương với phong trào cứu hồn ở Đông phương, theo cùng một công thức: có một ông thần xuống âm phủ rồi sống lại, do đấy có khả năng linh báo cho người những phương tiện, đường lối để cứu vớt linh hồn, tức là làm sao hưởng được đời sống sung sướng sau lúc chết. Muốn được thế thì trong đời này, con người phải theo một số kỷ luật nào đấy, đặc biệt là tham gia những hội kín thờ ông thần ấy.

Corot: Orphée dẫn Eurydice về từ cõi âm

Ở Hy Lạp, có 2 đạo cứu hồn nổi tiếng là đạo Orphée (nửa thần) và đạo Dionysos (thần, con của Zeus). Những đạo ấy phát triển trong quần chúng nhân dân, cùng với quý tộc. Trong những bộ phận công thương quý tộc hoá (hoặc quý tộc tư sản hoá) lại phát triển triết học duy tâm. Triết học duy tâm tiếp thu và duy trì những thắng lợi của khoa học, nội dung tư tưởng tiến bộ của phái duy vật, nhưng nó lại biến tất cả những thành tích khoa học ấy thành hệ thống duy tâm, tách rời lý tính khỏi thực tế, thậm chí định nghĩa lý tính bằng cách tách rời khỏi thực tế. Với hướng ấy thì thực tế chỉ là cảm tính - cảm tính là cái nằm trong kinh nghiệm, mà chân lý tức lý tính thì phải ở ngoài thực tế, ngoài kinh nghiệm.

Đấy là nguồn gốc của một truyền thống sẽ kéo dài suốt trong triết học Tây phương. Truyền thống ấy đem đối lập lý tính và kinh nghiệm; cái gì là kinh nghiệm thì đều là không có giá trị chân lý, vì chỉ là cảm giác vụn vặt, ngẫu nhiên. Tất nhiên, với một lý tính được quan niệm một cách trừu tượng như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề tôn giáo. Mà chính lý tính ấy tách rời thực tế thì cũng phải dựa vào cái gì đấy: cuối cùng thì nó lại dựa vào tôn giáo. Truyền thống duy lý duy tâm, một mặt, hình như đòi hỏi một cái gì cao hơn hiểu biết kinh nghiệm chủ nghĩa của người thường, nhưng mặt khác, nó lại trở lại tư tưởng lạc hậu của người thường: tư tưởng tôn giáo. Chính nó là bước đầu trở lại tôn giáo. Người đầu tiên thực hiện bước ấy trong truyền thống Hy Lạp - kết hợp chủ nghĩa duy tâm với tôn giáo - là Pythagore.

PYTHAGORE (khoảng 580 – 500 TCN)

Pythagore sinh ở Samos là một cù lao ở đất Ionie. Ông bất mãn với chế độ bạo quân lúc bấy giờ ở Samos nên di cư đến Crotone (Nam Ý).

Cuối thế kỷ thứ VII và VI TCN, chế độ bạo quân là một chế độ có tính chất dân chủ. Đó là một hình thức còn thấp nhưng là của nhân dân, của phe dân chủ chống quý tộc. Lúc bấy giờ phe dân chủ còn yếu chưa đủ sức để lập một chế độ cộng hoà dân chủ nên phải thống nhất lực lượng chỉ huy vào một người. Người đó dùng bạo lực cướp chính quyền, thực hiện những đòi hỏi kinh tế tối thiểu (chia ruộng đất phần nào, công bố luật pháp, phát triển công thương nghiệp tức là bảo vệ quyền lợi của nông dân và công thương). Đặc điểm của chế độ bạo quân là nó không dựa vào thần thánh, và đó cũng là bằng chứng để chứng minh nó có tính chất tiến bộ dù có là độc đoán.

Pythagore bất mãn với chế độ ấy tất nhiên là ở phe quý tộc. Sang Nam Ý, ông sáp nhập vào phe quý tộc. Đó là điều chúng ta ước đoán, nhưng là ước đoán có căn cứ. Theo tài liệu thì ông lập ra một hội vừa tôn giáo vừa chính trị, đấu tranh nắm chính quyền nhưng sau bị thất bại. Đứng về mặt tôn giáo, mục đích của hội là linh báo những phương tiện để sau này linh hồn được sung sướng. Muốn thế thì ngay trong đời sống con người phải theo một số lệ cấm, ví dụ như không được ăn thịt, vì ông cho rằng người ta ngày xưa cũng là súc vật, nếu ăn thịt súc vật thì cũng như là ăn thịt mình. Lại có lệ không được nói trong bóng tối v.v... Ông còn dạy cho những hội viên một số bí quyết để sau khi chết biết theo con đường dẫn đến nơi sung sướng. Nhưng song song với những mục đích ấy, Pythagone xây dựng được cả một hệ thống lý luận. Đó là triết lý duy lý duy tâm đầu tiên ở Phương Tây.

Pythagore chủ trương rằng thực chất của mọi sự vật là số. Đó là nguồn gốc của truyền thống duy lý toán pháp chủ nghĩa, tuyệt đối hoá tính chất chính xác của khoa học toán pháp để tách rời lý tính khỏi thực tế, đề cao lý tính một cách siêu hình, do đó thần thánh hoá khoa học duy lý.

Chủ trương rằng thực chất của mọi vật chất là số thì có 3 ý nghĩa:

1) Không gian là số mà số là không gian: Pythagore viết những con số bằng những hình kỷ hà như:


Qua những thí dụ trên, chúng ta thấy phát kiến của Pythagore kết hợp kỷ hà và số học, định nghĩa những tính chất của số bằng những hình kỷ hà. Đó là điểm tiến bộ, nhưng do đấy lại cho những con số có một tính chất thần bí, biến những con số thành những hình cụ thể, và kết luận rằng thực chất của không gian là số. Chúng ta thấy hai mặt của vấn đề: vấn đề khoa học toán lý tiến bộ, và vấn đề biến khái niệm thành thực thể siêu hình. Cũng theo hướng ấy mà Pythagore tìm ra được định lý Pythagore: a.a + b.b = c.c. Định lý Pythagore có đặc điểm là một mặt thì nó là cái thắng lợi của phương pháp áp dụng số học vào kỷ hà hay ngược lại; nhưng mặt khác lại đánh dấu giới hạn hẹp hòi của quan niệm đơn giản về số (số là khái niệm đếm). Vì nếu lấy một hình vuông thì giữa cạnh c và đường chéo d tính theo định lý Pythagore, ta có: 2c.c = d.d

Nhưng một học trò của Pythagore đã tìm ngay ra một lập luận đưa định lý ấy đến chỗ mâu thuẫn vì không có con số nào, nếu hạn chế vào những số «duy lý» (tức là những chính số và phân số), biểu hiện được quan hệ giữa c và d. Vì nếu ta cho c = 1, thì 1 = d.d/2 hay 2 = d.d. Nếu 2 = d.d thì d.d phải là số chẵn và nhân tố 4, vậy d.d/2 vẫn phải là số chẵn. Nhưng ở đây thì d.d/2 lại bằng 1 là số lẻ. Vậy một số chẵn bằng một số lẻ là điều không thể có được.

Pythagore

Theo truyền thuyết thì khi tìm ra được định lý bây giờ còn mang tên ông, Pythagore đã hiến một con bò để cúng thần ăn mừng. Nhưng người tìm ra rằng không có con số nào quy định quan hệ giữa cạnh và đường huyền hình vuông, tức là có những quan hệ không gian không phải là số (đây là số đếm được «duy lý»), thì bị chết đuối, tức là bị thần thánh phạt, vì anh ta đã tìm ra một điểm quái gở. Đó cũng là điểm đánh dấu giới hạn hẹp hòi của trình độ lý tính lúc bấy giờ. Nếu muốn tìm ra một con số để quy định quan hệ trên, thì phải công nhận có những con số không thể đếm được (sau này gọi là số «vô tỷ»). Đấy là trường hợp người ta nhắc lại nhiều trong lịch sử khoa học để chứng minh lý tính phát triển bằng hình thức «vô lý», tức là phủ định hình thức lý tính trước.

2) Nghĩa thứ hai của mệnh đề của Pythagore là đặt quan hệ số lượng giữa các âm thanh. Như bậc tám (octave) có thể định nghĩa bằng quan hệ 1/2. Âm là chất lượng, là cảm tính mà có thể định nghĩa bằng số (bằng quan hệ lý tính), thì cảm tính chỉ là lý tính dưới hình thức tổng quát mà thôi.

3) Nghĩa thứ ba là một nghĩa thần bí: quy định mỗi con số có một tính chất đạo đức nào đấy. Ví dụ: công lý là số 4, kết hôn là số 5, may mắn là số 7, v.v... Đó là phép bói toán.

Chúng ta thấy một mặt thì triết học duy lý duy tâm có dựa vào và phát triển khoa học chính xác, nhưng mặt khác tách rời lý tính khỏi thực tế và khoác cho nó một tính chất thần bí.

Trường hợp Pythagore là quan trọng vì ông là người mở đầu cho cả một truyền thống thưởng ngoạn về khoa học: khoa học vì khoa học, tính để mà tính. Đó cũng là đặc điểm của toán pháp Hy Lạp, và cũng còn kéo dài trong toán pháp dưới thời tư sản. Tính chất thưởng ngoạn ấy bộc lộ cơ sở giai cấp của nó một cách rõ ràng. Trong thời Hy Lạp, tính chất giai cấp ấy phát hiện ngay trong ngôn ngữ. Người Hy Lạp phân biệt hai thứ số học: khoa học số (arithmétique) và khoa học kỹ thuật tính toán (logistique). Khoa số tìm những tính chất trừu tượng điều hoà giữa các số như số nào là số chẵn, số lẻ, v.v...; nó không nhằm cái thực dụng, mà nhằm cái điều hoà đẹp đẽ giữa những con số. Còn kỹ thuật tính toán thì nhằm thực dụng, nhưng lại bị khinh rẻ, không được tính là «khoa học» chân chính. Nhà «khoa học chân chính» không tìm tính chất thực dụng mà chỉ nhằm những điểm thưởng ngoạn. Cũng như trên, về kỷ hà học thì phân biệt khoa kỷ hà (geométrie) và nghề đo diện tích (arpentage). Họ cho nghề đo diện tích là nghề của thường dân, còn các nhà khoa học nghiên cứu các hình theo quan hệ đẹp đẽ. Tính chất giai cấp của quan niệm ấy khá rõ rệt, và đây cũng là lý do hạn chế khoa học Hy Lạp trong tính chất khoa học thuần túy, tách rời lý luận và thực tế; tuy nhiên qua đấy cũng có xây dựng được những phương pháp lý luận chính xác.

Ở Nam Ý, cũng nhờ những dân Tây Á di cư sang lại phát triển một triết lý duy lý duy tâm nữa là triết lý của Xénophane.

XENOPHANE (khoảng 570 – 480 TCN)

Ông sinh trưởng ở thành Ephèse là một thành của Ionie đã nổi tiếng vì hoạt động ngân hàng. So với thành Milet: ta thấy Milet căn bản là thành buôn bán hàng hoá, còn Ephèse thì có những nhà tài phiệt lớn, và do đấy cũng kém phần dân tộc tính. Bọn tài phiệt này cấu kết với bọn vua Lydie, và sau này câu kết với Ba Tư. Trái với thành Milet có dân tộc tính cao, có đấu tranh anh dũng chống Ba Tư (cho đến năm 494 TCN bị Ba Tư chiếm và tiêu diệt), thì đặc điểm của Ephèse là giai cấp thống trị cấu kết với đế quốc bên ngoài.

HÉRACLITE (khoảng 535 – 475 TCN)

Héraclite là một nhà đại quý tộc, họ nhà vua (vua tượng trưng). Chính Héraclite lại là trưởng
họ nên được danh dự lấy danh hiệu làm vua, nhưng vì chán ghét cái hư danh ấy nên ông đã để lại cái ngôi tượng trưng ấy cho ông em.

Héraclite lại có thái độ khuyến khích nhân dân chống đế quốc (đế quốc Ba Tư). Héraclite là thuộc thành phần quý tộc, nhưng phần nào ông đã tách rời giai cấp của mình. Đây là một cơ sở tiến bộ. Tuy nhiên, con người ông vẫn giữ tính chất quý tộc. Điều chứng tỏ rõ ràng là Héraclite tuy có thái độ khuyến khích nhân dân chống đế quốc, nhưng lại khuyến khích một cách tự cao tự đại.

Theo truyền thuyết thì một hôm Ephèse bị quân Ba Tư đến đánh, tình thế rất nguy cấp mà ở trong thành thì bọn nhà giàu vẫn cứ sinh hoạt rất xa xỉ. Trong khi ấy thì nhân dân đói khổ. Trong cuộc hội nghị của thành thảo luận việc đối phó với tình trạng trên, hội nghị có hỏi ý kiến của ông. Héraclite không nói qua một lời, chỉ lấy bột hoà với nước làm món ăn. Hội nghị lúc bấy giờ mới hiểu ý khuyến khích của ông: muốn thắng kẻ thù thì phải bớt xa xỉ. Quân thù khi biết được tin Héraclite đã dạy cho nhân dân bài học trên thì cũng tự động mà rút lui.

Truyền thuyết trên cho ta thấy rõ Héraclite có lòng yêu nước nhưng rất khinh quần chúng. Tính chất ấy còn được thể hiện ở một truyền thuyết khác: một hôm Héraclite ngồi chơi với trẻ con trong dinh. Người ta hỏi vì sao ông chơi với trẻ con thì ông ta đáp lại: có gì lạ đâu, chơi với trẻ con còn hơn cầm quyền với những người như các anh. Thật ra lối hành văn này một phần là do ở tư tưởng sâu sắc, nhưng mặt khác cũng là do ở thái độ khinh người của ông nữa. Cũng vì lẽ trên mà Héraclite đã được mệnh danh là «Héraclite, nhà tối nghĩa».

Thành tích của Héraclite trong triết học là đã xây dựng được tư tưởng biện chứng pháp, và căn bản thì có tính chất duy vật, dĩ nhiên là không hoàn toàn. Héraclite đã xây dựng những khái niệm căn bản của biện chứng pháp: khái niệm vạn vật biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ trong mỗi vật, không phải là mâu thuẫn giữa cái này và cái kia, mà là trong sự đồng nhất có mâu thuẫn mà chính nó đồng nhất là vì nó mâu thuẫn với nó.

Tư tưởng của Héraclite cũng đại diện cho hướng duy vật của Ionie, nhưng rất khác với phái Milet. Phái Milet là phái tư sản tiến bộ, tư sản cách mạng, duy vật chủ nghĩa. Tuy họ có quan niệm được vạn vật biến chuyển, nhưng thực tế lại quan niệm biến chuyển máy móc.

Vị trí giai cấp của Héraclite khác hẳn. Héraclite là nhà quý tộc cảm thấy mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp quý tộc tan rã. Héraclite trực tiếp không thuộc vào giai cấp đang lên, nhưng tư tưởng triết học của Héraclite có tiến bộ ở chỗ có phản ánh phong trào nhân dân, có nội dung nhân dân qua những mâu thuẫn chia rẽ giai cấp quý tộc, do đấy thái độ của Héraclite là tách rời giai cấp của mình, nhưng vẫn giữ tính chất xa rời quần chúng. Đó chính là yếu tố để giải thích tại sao ở thời bấy giờ mà lại có được một tư tưởng biện chứng sâu sắc đến thế. Nói chung, trong những xã hội có giai cấp thì giai cấp tiến bộ căn bản cũng là giai cấp bóc lột, thành ra tuy nó nắm được lập trường duy vật nhưng không nắm được phương pháp biện chứng. Lý tính mà nó nắm vẫn là lý tính máy móc, nó là phản ánh phương pháp bóc lột chỉ huy máy móc, qua phương pháp ấy nó nắm được bước tiến của sức sản xuất, nhưng lại nằm trong phạm vi máy móc. Cũng vì vậy mà lúc có trường hợp tư tưởng biện chứng xuất hiện trong những xã hội đối kháng, thì ít khi nó xuất phát từ giai cấp tư sản là giai cấp lãnh đạo cách mạng bấy giờ. Thực tế nó xuất phát từ những phần tử quý tộc tiến bộ, hoặc tư sản dính líu với quý tộc nhưng có tư tưởng tiến bộ, do đấy mới nắm được quá trình tan rã, mâu thuẫn nội bộ trong bản thân mình.

Vị trí quý tộc có thể cho chúng ta hiểu vì sao mà phong trào nhân dân lại biểu hiện được dưới hình thức biện chứng, nhưng tất nhiên nó không phải là nguồn gốc, là cơ sở của tư tưởng biện chứng. Nó là nơi phát triển mâu thuẫn nội bộ, phản ánh phong trào nhân dân. Cũng vì thông qua vị trí giai cấp ấy cho nên tất nhiên tư tưởng biện chứng không được thuần, ít hay nhiều nó mang tính chất duy tâm. Mà vì mang tính chất duy tâm nên các khái niệm biến chuyển, mâu thuẫn nội bộ cũng không được biểu hiện một cách chính xác, không phát hiện được hướng tiến bộ thực sự. Tính cách ấy rõ rệt trong những câu còn để lại của Héraclite: «Người ta không thể nào xuôi hai lần cùng một con sông». Những người xuôi hai lần cùng một con sông thì vẫn gặp luồng nước khác nhau.

Khái niệm vạn vật biến chuyển được đề ra một cách rõ ràng, nhưng ở đây chúng ta không thấy hướng của biến chuyển, biến chuyển thế nào? đi đâu? tiến hay thoái? Hình như ở đây chỉ có tính chất biến chuyển thôi, chưa phải là biến chuyển xây dựng mà chỉ là khái niệm thuần túy về biến chuyển, cho nên văn bản có tính chất bi quan. Vì cái gì cũng biến chuyển mà ta không nắm được gì, không đạt được thành tích gì hết. Theo truyền thuyết thì Héraclite suốt ngày chỉ ngồi khóc (khác với Democrite suốt ngày chỉ cười). Khóc vì thấy vạn vật biến chuyển nhưng không biết nó biến chuyển đi đâu.

Về tư tưởng mâu thuẫn thì Héraclite có những câu như: chúng ta xuôi và không xuôi cùng một con sông ; chúng ta có và không có ; những đôi lứa là đầy đủ và không đầy đủ ; nó là đoàn kết và đối kháng, nó là điều hoà và bất hoà ; từ mọi vật xuất hiện thống nhất và từ thống nhất xuất phát mọi vật ; chiến tranh là điều hoà và công lý là đối kháng ; mọi vật được xây dựng và thủ tiêu bằng đối kháng ; người ta (những người thường dân) không hiểu rằng cái mà tự mâu thuẫn với mình là điều hoà với mình và điều hoà là do chỗ đối lập như cái cung hay cái đàn ; chính cái xấu là tốt ; từ những điểm mâu thuẫn phát sinh cái điều hoà đẹp nhất và cái điều hoà thầm tàng là quý hơn cái điều hoà trông thấy.

Điểm sâu sắc ở đây là Héraclite thấy được cái mâu thuẫn xuất phát từ cái đồng nhất, cái mâu thuẫn căn bản là có tính chất nội bộ. Một vật tồn tại là nhờ bao hàm những mâu thuẫn mà nó thống nhất được. Nói thống nhất là nói mâu thuẫn. Cùng một quy luật gây những điểm đối lập. Nhưng chỗ thiếu sót và trừu tượng là không quy thành định luật thống nhất mâu thuẫn, tức là mâu thuẫn xuất phát từ cái đồng nhất nhưng không phải là xuất phát một cách lung tung, trái lại nó xuất phát có quy luật, và có những giai đoạn mâu thuẫn được thống nhất hay không được thống nhất. Nếu không được thống nhất thì vật sẽ tiêu dần và chuyển sang một hình thức khác, một trình độ khác. Ở đây, Héraclite chỉ nắm một cách trừu tượng tính chất đồng nhất, giữa đồng nhất và mâu thuẫn. Nhưng Héraclite không đặt quy luật biến chuyển mâu thuẫn, do đó, phát hiện những quy luật ấy chỉ phát triển tư tưởng bi quan, và không cung cấp được công cụ xây dựng tích cực

Giới hạn của triết học Héraclite là xuất phát từ giới hạn hẹp hòi của cơ sở kinh tế (cơ sở giai cấp) của ông, và cũng là giới hạn chung của tư tưởng biện chứng trong những xã hội đối kháng trước; về căn bản khái niệm ấy xuất phát từ nhân dân, nhưng thông qua trạng thái tan rã của bộ phận giai cấp thống trị đang xuống. Do đấy có tính chất bi quan. Nhưng nội dung chân chính vẫn là nội dung thực tế của phong trào tiến bộ. Một bằng chứng là chính Héraclite cũng quan niệm biến chuyển và mâu thuẫn giống như biến chuyển thực tế trong phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất hàng hoá, trao đổi hàng hoá theo quy tắc tiền tệ, lấy tiền tệ làm tiêu chuẩn. Héraclite nói: «Mọi sự vật đều trao đổi cùng lửa và lửa cũng trao đổi với mọi sự vật; cũng như hàng hoá đổi lấy vàng và vàng đổi lấy hàng hoá». Tức là: chính kinh tế tiền tệ là cơ sở thực tế của quan điểm biện chứng duy vật mà Héraclite đã đề ra trong một câu là: «Thế giới này là cùng một thế giới cho tất cả vật thể; nó không phải do thần thánh nào làm ra mà bao giờ nó cũng có; nó là lửa vĩnh viễn, sinh động, bén lên và tắt xuống theo những quy luật nhất định». Chính Lénine đã nói rằng câu này đã trình bày được những nguyên lý căn bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Lửa đây chính là vật chất căn bản, luôn luôn biến chuyến theo quy luật nhất định.

Từ đâu xuất phát quan điểm ấy? Rõ ràng là xuất phát từ phương thức sản xuất tiền tệ, từ hoạt động trao đổi tiền và hàng hoá. Tiền là chất đồng chất trong ấy tất cả hàng hoá biến chuyển và thống nhất. Tất nhiên không phải vì tìm ra được đồng tiền mới có phương pháp quy định giá cả, mà chính là vì đã có trao đổi rồi mới có đồng tiền. Vì trao đổi nhiều đến mức cần phải đơn giản hoá hoạt động trao đổi nên mới cần có đồng tiền. Có tiền tệ chính là vì tổ chức sản xuất đã đến mức thực tế thoát khỏi cộng đồng sản xuất tự nhiên (sản xuất tự cấp tự túc), và xây dựng hoạt động trao đổi thành hệ thống. Căn bản là quan điểm trên xuất phát từ công trình sản xuất của nhân dân, mà cũng vì xuất phát từ công trình sản xuất của nhân dân nên nó mới phát hiện được quan điểm mâu thuẫn. Vì đi đôi với sự phát triển của sức sản xuất, có sự đấu tranh đánh đổ quan hệ sản xuất cũ, đấu tranh ấy gây nên mâu thuẫn trong xã hội làm cho quan điểm cũ phải biến chất (cái trước kia được coi là tĩnh nay phải biến đi, nó không phải là nó nữa).

Những sự biến chuyển ấy chỉ là một nhịp biến chuyển của chất tiền tệ. Thực chất chung của nó là tiền tệ. Vì nó xuất phát từ sự phát triển của công trình sản xuất và đấu tranh của nhân dân, thành ra chủ nghĩa biện chứng của Héraclite có tính chất duy vật tuy là duy vật tượng trưng (tượng trưng vật chất bằng hình ngọn lửa), nhưng về căn bản quan điểm ấy là duy vật. Vì quan điểm biện chứng duy vật ấy lại thông qua cương vị quý tộc tan rã – mà nó phải thông qua cương vị quý tộc ấy (nếu không thông qua cương vị quý tộc mà thông qua cương vị tư sản thì không đi đến quan điểm biện chứng, chỉ nắm được quan điểm máy móc do phương thức tổ chức máy móc của sản xuất hàng hoá đưa lại), nên Héraclite mới nắm được mâu thuẫn nội bộ trong bản thân mình. Với cương vị ấy, Héraclite nắm được quan điểm duy vật biện chứng, nhưng cũng vì đứng trên cương vị ấy mà nắm một cách lệch lạc, không có hướng, chỉ nắm được mâu thuẫn thuần túy mà không
nắm được mâu thuẫn đi đến đâu, tính chất mâu thuẫn của biến chuyển ra sao.

Về phần duy vật thì quan điểm của Héraclite cũng là hạn chế: Héraclite quan niệm biến chuyển như là biến chuyển thực tế mà ông hình dung bằng hình ngọn lửa, nhưng đồng thời lửa ấy lại được ông quan niệm như thần thánh và thần thánh này, một lần nữa, tại tách rời thực tế, tách rời nhân loại.

Héraclite

Một bằng chứng là lý luận của Héraclite về lý tính : Thần là lý tính và cái mà Héraclite nắm được (quy luật mâu thuẫn biến chuyển) được ông coi là lý tính tuyệt đối của thần, ví dụ Héraclite nói: «Nhân loại không có lý tính, thần có lý tính. Đối với thần thì cái gì cũng tốt đẹp. Còn người thì quan niệm cái này là tốt, cái kia là xấu». Tuy nhiên, Héraclite cũng nhận rằng người có thể học tập được lý tính ấy. Đạo đức là hiểu biết được lý tính, mọi người đều có thể đi đến chỗ biết mình và thực hiện lý tính. Tức là về căn bản, Héraclite có đạt được quan điểm duy vật, nhưng vẫn duy trì những di tích của tư tưởng thần thánh.

Vai trò vả ảnh hưởng của Héraclite trong lịch sử triết học có một tầm quan trọng đặc biệt. Chính Héraclite sẽ thành đối tượng đấu tranh của cả truyền thống duy lý duy tâm. Theo như Héraclite thì không nắm được chân lý nào hết, chân lý bị thủ tiêu. Mục đích yêu cầu của các triết gia duy tâm sau này chính là phê phán Héraclite, cho đến Hégel trở lại truyền thống Héraclite nhưng trên cương vị duy tâm.

Ngay thời cổ đại, trong đời Héraclite đã có một cuộc đấu tranh gay go chống những mệnh đề biện chứng, chống tư tưởng của ông. Truyền thống duy tâm ấy chính là truyền thống triết học Nam Ý. Trong thế kỷ thứ VI TCN, ở Nam Ý đã có một truyền thống duy tâm (với Pythagore và Xénophane) chống phái duy vật Milet. Đến thế kỷ thứ V TCN, lại có phái Élée chống tư tưởng duy vật biện chứng của Héraclite, với hai triết gia Parménide và Zénon.

Hai triết gia này tiêu biểu cho một luồng tư tưởng quan trọng trong lịch sử triết học - luồng đối lập với tư tưởng biện chứng, nhưng đồng thời nó cũng có biện chứng pháp của nó; nó là một biện chứng pháp chống khái niệm biến chuyển. Cụ thể, chính danh từ «biện chứng pháp» xuất phát từ Zénon, vì biện chứng pháp, theo nghĩa nguyên thủy của nó, là phương pháp tư tưởng chủ quan để xây dựng chân lý với lập luận của tư tưởng, không cần đến thực tế, đến kinh nghiệm. Sau này, với Platon và Hégel, nó trở thành lý tính của thực tế, và do đó biện chứng pháp thành biện chứng pháp của thực tế, của lịch sử, nhưng trước Mác thì lại chỉ phát triển trong phạm vi duy tâm. Đối lập với truyền thống Ionie ở thế kỷ thứ V TCN thì có phái Élée ở Nam Ý.

Phái Élée, cũng như phái Pythagore, là đại biểu cho tư tưởng tư sản quý tộc hoá, nhưng còn một phần tính chất tiến bộ nào đấy. Nhưng nếu so sánh với Héraclite thì nó là thoái bộ. Trong lịch sử triết học, sau Pythagore, nó là nguồn gốc của tư tưởng siêu hình phủ định biến chuyển và mâu thuẫn, đề cao lý tính thuần túy bất di bất dịch. Nhưng giai cấp tư sản quý tộc hoá ở Nam Ý, do những điều kiện đặc biệt ở những căn cứ mới thành lập, còn là tương đối tiến bộ đối với tổ chức công xã nguyên thủy trước. Vậy nó được đại diện trong tư tưởng bằng một triết học tuy duy tâm nhưng cũng có một số yếu tố tích cực. Yếu tố tích cực là ở chỗ nó nắm được hình thức chính xác của lý tính. Đây cũng chỉ là hình thức thôi, đồng thời hình thức đó lại bị tuyệt đối hoá, thần thánh hoá, nhưng là lần đầu tiên hình thức ấy được nắm vững, và qua đấy tư tưởng Hy Lạp đã phát triển xây dựng cái hình thức chính xác của lý luận. Trong những triết gia tiến bộ mà chúng ta đã thấy ở Ionie (phái Milet và Héraclite), một mặt có tư tưởng tiến bộ (tư tưởng duy vật biện chứng, giải phóng con người khỏi những mơ mộng tôn giáo), nhưng một mặt khác, cách trình bày và những khái niệm mà họ đề ra còn rất lúng túng, lý luận còn lẫn lộn với trực quan, không được chính xác. Chính phái duy tâm lại cố gắng xây dựng một hình thức chính xác cho lý luận.

Bước đầu Pythagore đã xây dựng số học. Số học bị tuyệt đối hoá, siêu hình hoá, thần thánh hoá, nhưng qua đấy nó cũng tiếp thu được một hình thức chính xác quý hoá. Sau đấy, Parmenide đấu tranh chống Héraclite (phần đầu thế kỷ V TCN) thì cũng có công làm nổi bật cái hình thức chung của khái niệm lý tính nói chung. Hình thức ấy là ở chỗ được quy định một cách chính xác ngoài sự biến chuyển, vì nó là quy luật của biến chuyển [1]. Nó không thể biến chuyển được vì nó là quy luật của biến chuyển. Tức là về hình thức nó phải bất di bất dịch. Vì biến chuyển có quy luật không biến chuyển nên ta mới nắm được cái biến chuyển. Nếu cái gì cũng biến chuyển thì không nắm được gì hết. Điểm này về hình thức là đúng, nhưng về nội dung căn bản nó phải được hạn chế. Vì quy luật biến chuyển là hình thức của biến chuyển, vậy cũng không thể tách rời biến chuyển. Nhưng trong phạm vi hình thức thì nó không biến chuyển, vì có thế mới là quy luật của biến chuyển. Lúc ta nắm được một quy luật ta phải thông qua kinh nghiệm biến chuyển, và một khi thông qua kinh nghiệm biến chuyển và nắm được quy luật tức là nắm được cái gì quy định quá trình chuyển biến, vậy phải có hình thức tương đối bất di bất dịch và khái niệm lý tính cũng phải có hình thức ấy mới thành khái niệm hẳn hoi, mới có thể làm cơ sở lý luận được. Nếu khái niệm không được quy định một cách dứt khoát thì không thể nào lý luận được. Sự thật hình thức ấy chỉ có giá trị tương đối, vì mỗi lần xây dựng lý luận phải có hình thức bất di bất dịch, nhưng sau đấy vẫn phải xây dựng lại các khái niệm trên cơ sở kinh nghiệm thực tế chuyển từ trình độ lý luận này lên trình độ lý luận cao hơn. Phái duy tâm chỉ nắm được một điểm đúng là ở mỗi trình độ nhất định, những khái niệm căn bản được đặt như là bất di bất dịch, và không có hình thức ấy thì không thành lý luận được. Công trình của Parménide và phái Élée là nêu cao hình thức ấy một cách chính xác, nhưng đồng thời vì thần thánh hoá nó, thành ra cũng gây nên một truyền thống thành kiến trong lịch sử tư tưởng, cho rằng lý luận về bản chất của nó phải tách rời thực tế, nằm ngoài lịch sử.

Trần Đức Thảo (Lịch sử Tư tưởng trước Marx, tr. 227-293)

Xem tiếp: Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp (3)


Xem online : Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp (1)


[1Hiện nay sách báo triết học dùng từ «vận động» thay cho «biến chuyển». BT