Menu

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > Phần bốn: Ý nghĩa của khái niệm thần trong xã hội chiếm hữu nô lệ

Phần bốn: Ý nghĩa của khái niệm thần trong xã hội chiếm hữu nô lệ

Chủ Nhật 7, Tháng Mười Hai 2008

Chúng ta có thể lấy một ví dụ điển hình là tôn giáo Ai Cập. Ai Cập cổ đại phát triển theo một quá trình tương đối đơn giản vì trong 2.000 năm lịch sử đầu tiên ấy, nó tương đối ở rìa đường giao thông chính (Ai Cập - Lưỡng Hà - Ấn Độ), do đó những ý nghĩa rất phức tạp trong khái niệm thần thánh được xây dựng ở đây một cách tương đối đơn giản, mà chúng ta có thể phân tích từng bước được.

Tôn giáo Ai Cập nói chung là một tôn giáo mang nhiều di tích vật tổ: thần chim diều hâu, chim cò, bò, chó sói, v.v... Ngoài ra, có hai thần chính là Thần Isis (thần Mặt trời) và Thần Osiris (thần vua). Thần Mặt trời ở đây cũng có ý nghĩa như ở các nước khác: nó tiêu biểu cho uy quyền, lực lượng tuyệt đối của nhà vua, tiêu biểu cho công lý, tức là tiêu biểu cho lý tưởng về quyền của nhà vua. Nhưng thần Osiris thì có một tiểu sử đặc biệt: ông này trước kia làm vua rồi bị giết, sau sống lại và thân phận ông tiêu biểu cho thân phận linh hồn sau khi chết được sống lại, và Osiris được xem như Thần cứu hồn (người đã chết được sống lại nhờ đồng nhất với Osiris). Đạo cứu hồn là rất quan trọng. Nó thu hút nhân tâm không những ở Ai Cập mà sau này thành cả một truyền thống ở Địa Trung Hải; hình thức cuối cùng của nó là đạo Gia Tô (vua tượng trưng của Do Thái chết đi và sống lại và do đó cứu vớt nhân loại). Đạo này còn đặc biệt ở chỗ nó là đạo của nhân dân (đạo Mặt trời là đạo của uy quyền tượng trưng quyền lực tuyệt đối và công lý hình thức của nhà vua mà chế độ quân chủ nói là đặt ra, dưới hình thức pháp lý). Rõ ràng đạo Mặt trời là từ trên xuống dưới, còn đạo cứu hồn hình như là từ dưới lên trên : quần chúng nhân dân đòi hỏi được cứu hồn, cứu hồn là cứu hồn cá nhân, và đạt tới hình thức cao nhất là đạo Gia Tô (tự mình hiến tế để cứu hồn nhân loại). Nó sẽ là cái nguồn của cả truyền thống duy tâm Âu châu sau này, nhưng đồng thời trong khuôn khổ duy tâm đó, nó có tập trung một số giá trị nhân đạo được đề cao trong xã hội Âu Tây (giá trị linh hồn, con người, công lý, bác ái, v.v...)

I- TRUYỀN THUYẾT OSIRIS

Osiris là một ông vua của đồng bằng Ai Cập, sinh trưởng ở một tỉnh miền Đông đồng bằng, một hôm bị một người anh em là Seth là vua trung châu giết. Trong truyền thuyết, Osiris là thần của nông nghiệp, của cái gì tốt đẹp trong đời sống (giàu có, công lý, bác ái), và Seth là thần ác, thần của sa mạc, sấm sét, bão táp, giông tố. Seth vờ đùa, đưa một cái hòm mời Osiris vào ngồi, rồi đóng lại thả xuống sông. Hòm theo sông trôi ra bể, tới tỉnh Byblos ở Syrie, và nhập vào một cây thuộc loài thông. Ông vua xứ này mang cây này về làm cột. Vợ chàng đến Byblos mang quan tài về, nhưng lại bị Seth và phe của nó bắt và chặt xác làm 14 mảnh vứt rải rác trong cả nước. Bà Isis nhặt nhạnh những mảnh ấy, xếp lại, dùng phép phù thủy làm sống lại và nhờ đấy đẻ ra con là Horus. Horus lớn lên đi đánh cậu là Seth, chiếm được đất trung châu Ai Cập, rồi trước toà án thần thánh, Horus được công nhận chính thức là con của Osiris, do đó có quyền hưởng gia tài của Osiris.

Chuyện này quan trọng vì sau này ở Ai Cập, nhân dân có lệ diễn lại thành kịch thánh (mystère), và họ cho là ai được xem kịch này sẽ được đồng nhất hoá với Osiris, và linh hồn sẽ được cứu vớt và sung sướng sau khi chết. Kịch thánh cuối cùng trong lịch sử là kịch về Gia-tô mà người ta diễn ở các nhà thờ, nhất là vào lễ Pâques («mystère de la passion» trong đó Gia-tô hiến tế và sống lại). Suốt thời Trung Cổ, kịch thánh này rất phổ biến và diễn trước công chúng rất đông đảo.

Tại sao quần chúng lại tha thiết với kịch thánh này đến thế, và nó có thể kéo dài (về thực chất) từ mấy nghìn năm trước CN cho đến giờ? Đạo Mặt trời tượng trưng quyền vua trong ánh sáng (theo lệ thời bộ lạc), mặt trời thì dễ hiểu nhưng ở đây là một đạo cứu vớt nhân loại nên nó có một ý nghĩa lớn hơn nhưng cũng khó hiểu hơn. Có thể nói nó là một gia tài của thời chiếm hữu nô lệ. Nhưng tại sao một chế độ tàn khốc như thế lại có thể để lại một lý tưởng cao siêu như vậy, dù là dưới một hình thức siêu hình.

II - NỘI DUNG ĐẠO OSIRIS

Trước hết, phải nhắc lại vài nét lịch sử Ai Cập. Theo truyền thống lịch sử, đất Ai Cập chia làm nhiều tỉnh. Những tỉnh ấy là những khu mương đào từ sông Nil hay một nhánh của nó để tưới đất ruộng (chữ tỉnh trong chữ Ai Cập tượng trưng bằng một hình vuông kẻ ô tức là khu mương, và đô thị tượng trưng bằng hình tròn gạch chéo tức là ngã tư). Ta có thể ức đoán là vào khoảng trung gian giữa tiền sử và lịch sử chính thức (thiên niên kỷ V trước CN hay IV trước CN), những tỉnh này là những quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên, xây dựng nhờ sự phát triển của sức sản xuất. Đặc tính của sức sản xuất ở đây là mặc dầu công cụ còn thô sơ là cái cày gỗ, nhưng nhờ đất đai phì nhiêu và được tưới đều nên năng suất rất cao, và trên cơ sở tổ chức khu mương này mà lớp thống trị dễ đạt được uy quyền trong nhân dân. Ta có thể ức đoán là đến một lúc nào đấy, các quốc gia nhỏ tập trung lại thành hai nước lớn là Bắc Ai Cập (ở đồng bằng) và Nam Ai Cập (ở trung châu). Bắc Ai Cập văn minh hơn nhờ đất đai phì nhiêu, nhờ liên lạc với vùng bán đảo Sinai có mỏ đồng và đá quí, với Byblos bằng cách xuất cảng lúa mì và nhập cảng gỗ thông của Syrie (ngày nay Syrie vẫn còn nổi tiếng về gỗ thông này).

Ta có thể ức đoán Osiris là một vua của Bắc Ai Cập, tượng trưng cho nông nghiệp và tất cả cái gì tốt trong đời sống văn minh; Seth là vua Nam Ai Cập nơi còn nửa dã man nên tượng trưng cho mưa gió, bão táp, v.v..., cho tất cả cái gì ác liệt. Quan hệ anh em giữa hai thần này có lẽ do quan hệ liên minh bằng cách kết nghĩa xem nhau như anh em. Hiện nay còn thấy quan hệ liên minh này ở nhiều chủng tộc ở giai đoạn bộ lạc, vì họ chỉ mới quan niệm được liên minh trên cơ sở quan hệ pháp lý. Tuy liên minh như thế nhưng sau vẫn có thế đánh nhau. Đến một lúc nào đấy, Seth đánh Bắc Ai Cập, và có thể là việc bỏ xác vào hòm tượng trưng cho việc phe Osiris phải bỏ chạy sang Byblos (vì bấy giờ đã có quan hệ thương mại đường biển). Hòm nhập vào cây thông có thể có nghĩa là phe này nhập vào tổ chức của người kiều dân Ai Cập buôn bán gỗ thông ở đấy, đặt dưới sự bảo hộ của Thần Thông. Sự việc bà Isis đi tìm chồng có thể là việc phe Osiris phát triển lại ở đồng bằng Ai Cập, đi gọi gia quyến Osiris về nhưng bị đánh tan (cắt xác làm 14 mảnh). Những phe sau này lại họp lại, và ở đây có vai trò của tăng lữ (nhặt mảnh xác, xếp lại và dùng phép phù thủy làm sống lại). Sau đó phe này mạnh lên, và dưới sự lãnh đạo của Horus đánh thắng Seth, chiếm trung châu sông Nil và bước đầu thống nhất Ai Cập. Sở dĩ nói bước đầu vì chính triều này sau này cũng chia đôi; một ở Nam và một ở Bắc. Cuối cùng triều phía Nam lại đánh triều miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Namer (theo tài liệu Ai Cập) hay Ménès (theo sử Hy Lạp), nhưng có thể cũng là một ông. Sở dĩ bấy giờ trung châu thắng đồng bằng có thể là vì kỹ thuật đồng bằng chuyển lên trung châu đã phát triển nhanh, và thêm vào đấy trung châu còn dã man hơn nên tổ chức chiến tranh chặt chẽ hơn và đánh khoẻ hơn. Tính chất dã man này được phản ánh trong tài liệu Ai Cập, như nói là vua thắng trận thống nhất đất đai đã «ăn kẻ thù, nuốt thần thánh vào bụng nên được bất diệt». Vua thống nhất Ai Cập bấy giờ lấy tên là Horus (khoảng 3.200 năm trước CN), lấy danh nghĩa là con Osiris nên có quyền thống trị; hơn nữa, vì là con Osiris nên sau khi chết linh hồn được cứu vớt, được sống lại và sung sướng như Osiris. Nhưng đó là buổi đầu, vì mấy đời sau cũng ông Osiris ấy lại được quan niệm là con của Thần Mặt trời (thần Hah) [1]. Ông này không phải là thần nguyên thủy. Thời nguyên thủy cũng có Thần Mặt trời, nhưng chỉ là vật tổ hay yêu tinh thôi chứ chưa phải là thần toàn quyền toàn lực biểu hiện bằng ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Thần loại này chỉ là sản phẩm của uy quyền Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Theo tài liệu Ai Cập, ta có thể thấy bấy giờ Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã phát triển nhiều dưới hình thức quân chủ độc đoán tuyệt đối, gần như toàn thể nhân dân lao động biến thành nô lệ: nông dân làm việc theo kiểu nô lệ (2 tốp 5 người họp thành tốp 10 người, 10 tốp 10 người họp thành đoàn 100 người cùng làm việc), tất cả đất đai đều của nhà vua, công nhân cũng làm việc như nô lệ trong xưởng nhà vua. Trên giai cấp nô lệ thì có giai cấp quan liêu và giai cấp tăng lữ, cũng là một thứ quan liêu. Như thế thì dễ hiểu tại sao chế độ lại được tượng trưng trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời, và tại sao quyền đồng nhất với Osiris sau khi chết và được sung sướng cũng tập trung vào linh hồn và sống sung sướng (những văn kiện thời ấy nói rất chân thực: vua là người ăn uống thừa thãi, sung sướng, v.v...).

Phần thứ nhất thiên niên kỷ 30 trước CN, uy quyền nhà vua sau khi được tập trung đến mức quản trị toàn bộ đất nước vào bộ máy quan liêu, lại dần dần phân tán trên cơ sở bộ máy quan liêu đã được tổ chức (những chức lớn giao cho con cái, gia tộc và thân thuộc chừng độ 500 người). Dần dần bọn quan liêu này làm giầu, được phong thái ấp và trên cơ sở ấy phát triển quyền hành địa phương, thoát ly quyền triều đình. Chính quyền trung ương ngày càng tan rã từ trên xuống dưới. Giai cấp quý tộc ngày càng phát triển, càng được nhiều quyền chính trị và do đó quyền tôn giáo, nên cũng được quyền đồng nhất với Osiris nghĩa là sau khi chết được sống lại và ăn uống thừa thãi.

Vào khoảng thế kỷ 23 trước CN, tổ chức quan liêu tan rã, nhân dân nổi dậy làm cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử, cướp phá những cơ quan hành chính của chủ nô, đốt sách, đòi cho dân thường được quyền nắm các chức vụ Nhà nước trước kia dành cho quý tộc, và cuối cùng được truyền những thần bí của đạo Osiris, nghĩa là được quyền làm lễ để cứu vớt linh hồn và sống sung sướng sau khi chết như Osiris, nghĩa là như vua. Cố nhiên sau cuộc cách mạng này tổ chức quân chủ quan liêu lại được xây dựng lại với triều Thèhes
- trung triều Ai Cập - nhưng trên một cơ sở tương đối rộng rãi hơn, không tập trung vào tay một số quý tộc, mà với một số điều kiện nào đấy người dân thường cũng có thể lên làm quan, nghề nghiệp tự do được phát triển ở thành thị, tư hữu tài sản phát triển ở thôn quê. Trên cơ sở dân chủ hoá kinh tế và chính trị như thế cũng có một quá trình dân chủ hoá tinh thần: dân tự do có thể đồng nhất với Osiris và được cứu vớt linh hồn. Do đó đạo này phát triển nhiều và trở thành yếu tố quần chúng nhân dân trong tôn giáo. Bên cạnh đạo Osiris, tư tưởng thần cứu hồn phát triển với nhiều hình thức khác ở Lưỡng Hà, Tiểu Á, Địa Trung Hải, và cuối cùng được phổ biến ở Âu châu với đạo Gia-tô.

III - NỘI DUNG KHÁI NIỆM CỨU HỒN

Ở thị tộc không có khái niệm Cứu hồn: sau khi chết nói chung Linh hồn vẫn sống, và nếu được làm ma đầy đủ thì hồn sẽ không quay về quấy rầy thị tộc. Mọi người tin tưởng là sau khi chết linh hồn vẫn sống. Ở đây, tính chất bất diệt tương đối của linh hồn (vẫn còn khi thể xác chết đi) tiêu biểu cho quyền kinh tế và chính trị của công dân trong thị tộc. Sở dĩ lên đến bước đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ thì lại có vấn đề cứu hồn, là vì trong các cuộc chiến tranh cướp nô lệ quyền công dân thị tộc bị thủ tiêu (văn kiện Ai Cập ghi: vua chiến thắng nuốt hồn kẻ thù, tức là người công dân thị tộc mất quyền kinh tế chính trị thì cũng mất cả linh hồn). Đến khi chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến trình độ tổ chức toàn bộ sản xuất theo kiểu quan liêu dưới uy quyền nhà vua, vua là người tập trung quyền sở hữu, thì do đó quyền sống lại sau khi chết cũng tập trung vào nhà vua. Nhưng nhà vua phải dựa vào bộ máy quan liêu, phải cho họ quyền lợi, phong đất đai, nên dần dần bọn này cũng được quyền linh hồn bất diệt theo kiểu nhà vua, nghĩa là đồng nhất với vua lập quốc Osiris. Sau này, quần chúng nhân dân tự do đấu tranh trên cơ sở đấu tranh của nô lệ và chiếm lại một số quyền lợi, thì mọi cá nhân trong quần chúng tự do cũng được quyền linh hồn bất diệt, đồng nhất với Osiris, nghĩa là chính mình cũng thành vua sau khi chết. Đây là nội dung thực tế và chân chính của khái niệm linh hồn: linh hồn là quyền được công nhận trong xã hội (thị tộc binh đẳng, ai cũng có linh hồn - đến xã hội có giai cấp, chỉ một số người có - ở giai đoạn quân chủ độc đoán tuyệt đối, chỉ một người có - đến lúc dân chủ hoá thì quyền linh hồn bất diệt cũng được dân chủ hoá).

Khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã và chuyển sang phong kiến thì với những hạn chế rất hẹp hòi nhất định, cả những người nô lệ cũ cũng được công nhận trong xã hội (nông nô có ít ruộng, nhà cửa) thì quyền linh hồn bất diệt được phổ biến cho toàn thể nhân dân: nô lệ lên nông nô với điều kiện là quyền sở hữu của họ thực tế và căn bản vẫn chỉ là hình thức, nên quyền linh hồn bất diệt cũng phải theo những điều kiện của chế độ xã hội mới. Điều kiện sở hữu được phổ biến một phần nào cho cả nô lệ cũ, vậy những quyền này chỉ được phản ánh trong linh hồn với tất cả điều kiện thực tế bấy giờ, nghĩa là trong khuôn khổ hệ thống phong kiến, với hình thức một ông vua ở trên và một hệ thống thần thánh ở dưới cứu vớt nhân loại.

Nhưng tại sao quyền cứu hồn lại phải tượng trưng trong một ông vua đã hiến tế (chết đi sống lại)? Cố nhiên, nó nhắc lại một chuyện có thật (vua chết nhưng phe ông ấy lại lên, và trưởng phe lấy danh nghĩa là con vua trước), nhưng cái chết phải có một ý nghĩa gì mới được duy trì và thông cảm sâu sắc và lâu dài đến thế. Cái chết này là nhắc lại sự chiến đấu nói chung (không phân biệt triều đại) đã xây dựng quyền tư hữu, nhờ chiến đấu này mà giai cấp chủ nô củng cố được quyền sở hữu tư nhân, chuyện của cải cha cho con trong gia đình. Chính trong buổi xử án thần thánh, việc công nhận quyền lên ngôi của Horus là dựa vào cơ sở quyền chuyển của trong gia tộc (công nhận Horus chính thức là con của Osiris). Rõ ràng là quyền sở hữu tài sản thời chiếm hữu nô lệ dựa trên truyền thống thị tộc tan rã (mẫu quyền mất và chuyển sang phụ quyền: cha để của cho con chứ không phải cho cháu). Nhưng trong những xã hội đầu tiên phát triển nhanh thì mẫu quyền vẫn còn mạnh và phụ quyền kết hợp với mẫu quyền: gia trưởng lấy em gái, lên cha để của cho con đồng thời là cậu để của cho cháu. Tất cả truyền thống còn giữ lại để củng cố quyền tư hữu ở thời chiếm hữu nô lệ đều được tượng trưng trong chuyện Osiris: Osiris lấy chị (hay em gái) và để của cho con là Horus, nên câu chuyện không chỉ là chuyện của một ông vua, của một triều đình mà tiêu biểu cho cả xã hội trong quá trình chuyển biến từ trạng thái gia tộc lên chiếm hữu nô lệ. Do đó bọn chủ nô phải nhắc lại quá trình ấy, để củng cố trong tinh thần quyền tư hữu của mình. Đến lúc quyền tư hữu này được phổ biến tương đối rộng rãi (dân tự do có hình thức tương đối bình đẳng), thì toàn thể dân tự do ấy thống nhất trong một đạo cứu hồn và cứu dân mà nội dung nhắc lại quá trình xây dựng quyền tư hữu ấy.

Ở đây, ta cũng thấy quá trình biện chứng của khái niệm linh hồn, tức là khái niệm thần bí hoá của con người được công nhận quyền tham gia tổ chức xã hội với tính cách tự do, bình đẳng. Quyền này đã thực hiện ở xã hội thị tộc nhưng một cách hẹp hòi: dân thị tộc một mặt tự do bình đẳng trong thị tộc, nhưng một mặt phải phục tùng một tổ chức rất hẹp hòi (lúc đầu là lão quyền, sau là quyền tộc trưởng). Do tính chất hẹp hòi ấy, quyền tự do bình đẳng trong xã hội được tượng trưng một cách duy tâm, quay ngược thành ý tưởng linh hồn, nghĩa là người được tự do bình đẳng không phải là người thực, mà là một người khác có đặc tính có quyền ra lệnh và đồng thời phục tùng mệnh lệnh (con người linh hồn là đơn vị trong hệ thống mệnh lệnh của thị tộc: có linh hồn là có sức biến ý tưởng thành thực tế, mà hoạt động mệnh lệnh trong phạm vi ấy thì có thế thật). Tư tưởng duy tâm ở đây xuất phát từ tính chất hẹp hòi của sức sản xuất, và từ phần mệnh lệnh (hẹp hòi) trong tổ chức sản xuất. Nhưng đây chưa có áp bức bóc lột giai cấp, do đó mọi người đều được công nhận nên đều có hồn; ở đây chưa có vấn đề cứu hồn mà chỉ có cấm hồn về quấy rầy. Khi quyền sở hữu, quyền ra lệnh bị tập trung vào một giai cấp, thì có vấn đề cứu hồn vì nếu sa vào giai cấp kia thì mất linh hồn, tức là bị kẻ thắng «nuốt mất linh hồn» theo văn kiện Ai Cập. Hồn được cứu vớt là đồng nhất với Osiris, tức là được nhận là con cháu vua lập quốc.

Sau này chế độ chiếm hữu nô lệ thủ tiêu và bước sang các chế độ áp bức bóc lột khác - phong kiến và tư sản -, nhưng vấn đề cứu hồn vẫn còn vì quyền sở hữu đối với đại đa số nhân dân vẫn còn là hình thức, chứ trong nội dung thì tính chất nô dịch vẫn còn. Khái niệm hồn là khái niệm của quyền ra mệnh lệnh, mà sau này nói tới quyền ra mệnh lệnh là nói tới giai cấp thống trị. Do đó, vấn đề cứu hồn chỉ được quan niệm trong chế độ có áp bức bóc lột và tàn tích của nó mà thôi. Giải pháp cứu hồn trong phạm vi chế độ ấy là nhắc lại quá trình xây dựng tổ chức áp bức bóc lột ấy, cho phép một số người được quyền ra mệnh lệnh. Nhưng các giải pháp ấy, xét tới cùng, cũng chỉ là một cách củng cố áp bức bóc lột, mở đường mơ mộng giải phóng cho toàn dân trong đời sống linh hồn. Giải pháp thực tế là thủ tiêu chế độ áp bức bóc lột, do dấy thủ tiêu cơ sở của vấn đề mất hồn và cứu hồn.

IV - PHÁT TRIỂN VÀ XÂY DỰNG Ý THỨC THẦN QUYỀN

Con người sản xuất trước hết là sản xuất công cụ. Buổi đầu công cụ có tính chất mộc mạc tự phát, nhưng dần dần đạt tới công cụ điển hình. Về sản xuất đã có công cụ điển hình, thì trong tư tưởng cũng có ý tưởng điển hình, và như vậy ta suy ra là lúc bấy giờ đã có ngôn ngữ. Loài vật có tiếng kêu và có thể có khả năng nói (như con vẹt), nhưng thế không thể gọi là ngôn ngữ, vì căn bản là nội dung. Nội dung là nguyên nhân chính phát sinh ngôn ngữ. Ngôn ngữ mang tính chất đại thể là buổi đầu xuất hiện trong kinh nghiệm sản xuất điển hình. Lời nói được thực hiện trước nhất dưới hình thức mệnh lệnh. Đây là cơ sở của phương thuật.

Phương thuật có giá trị phản ánh tổ chức xã hội, nhưng cũng có tính chất mơ mộng, tiêu cực, phản ánh tính chất hạn chế của sức sản xuất. Sản xuất buổi đầu là sản xuất công cụ, chưa phải là sản xuất sản phẩm hưởng thụ, vì thức ăn có sẵn trong thiên nhiên. (Đặc tính của thời đại văn minh là sản xuất sản phẩm hưởng thụ dựa vào thiên nhiên. Trong giai đoạn mông muội thì hạn chế trong việc sản xuất công cụ thu lượm). Vì vậy người nguyên thủy không nắm được quy luật biến chuyển của thực tế, chỉ nắm được phần hoạt động bản thân, và nắm một cách mệnh lệnh: phải làm thế này, làm thế kia! Trong tổ chức sản xuất chỉ nắm được như vậy, nên trong tư tưởng cũng thế. Do đó, chưa phân biệt tư tưởng với thực tế, lẫn lộn lời nói và việc làm.

Công cụ sản xuất được cải tiến và phát triển từ công cụ cộng đồng đến công cụ cá thể. Khả năng sinh hoạt phát triển, dân số đông lên, các tập đoàn không còn có thể sống riêng lẻ được. Quan hệ giữa các tập đoàn cũng phát triển. Cụ thể như đi săn mà súc vật ít thì có thể tranh nhau, vì vậy phải chia đất để săn. Trước khi chia đất thì có chiến tranh, và sau đó là những hình thức trao đổi hoà bình đầu tiên. Từ giai đoạn này, người ta đã có kinh nghiệm thực tế, dựa vào sự khảo sát các chủng tộc ở trình độ này hiện sống ở châu Úc hay châu Mỹ. Lúc có quan hệ hoà bình giữa tập đoàn này với tập đoàn nọ là lúc xuất hiện tổ chức thị tộc. Mỗi người sử dụng công cụ của mình, vậy có quyền lợi và nhiệm vụ nhất định trong tập thể. Thị tộc có nhiệm vụ tổ chức nội bộ, bảo đảm quyền lợi và quy định nhiệm vụ của thị tộc. Quan hệ quy định trong mỗi thị tộc và giữa các thị tộc được tượng trưng trong đạo vật tổ. Đạo vật tổ là xây dựng trên cơ sở phương thuật, vật tổ là tượng trưng cho uy quyền của lớp trên đối với lớp dưới, như một yếu tố mới quy định thực chất mỗi cá nhân trong thị tộc: người là người của thị tộc ấy, vừa là chim, rắn, v.v... Tại sao lại có điểm mới ấy? Nó là phản ánh cái gì trong thực tại? Ta thấy ở đây có mâu thuẫn giữa tư tưởng và thực tế (người đồng thời lại là
chim hoặc rắn, v.v...). Mâu thuẫn ấy phản ánh một mâu thuẫn thực tế tức là quan hệ giữa các thị tộc (quan hệ trao đổi, chiến tranh, công nhận) được phản ánh trong tư tưởng. Người trong mỗi thị tộc được quy định là có một chất khác hẳn người của thị tộc khác. Đối với thị tộc khác, quan hệ là quan hệ chiến tranh: hai thị tộc như hai giống loài. Sự phân biệt ở đây được phản ánh trong những loài mà người ta đã biết. Sở dĩ mỗi thị tộc tự cho mình là chim hay là sâu, là trong thực tế đã có sự phân biệt giữa các giống loài, và do đó những thị tộc mới được tượng trưng bằng những loài khác nhau.

Mặt khác, bấy giờ lại chưa có khái niệm trừu tượng, mới có những điển hình cụ thể. Vì vậy chưa có thể dùng một con số hay là một tên riêng để chỉ thị tộc, vì chưa nắm được khái niệm trừu tượng.

Trong khuôn khổ xã hội ấy, mỗi cá nhân có công cụ riêng của mình. (Trước kia thì còn sử dụng chung, vậy chưa phân chia quyền lợi). Đến giai đoạn cao hơn, công cụ phát triển, của cải có thừa để tích lũy, có nhà để định cư, và xuất hiện quan hệ trao đổi. Nếu không có của thừa thì cũng không có quan hệ trao đối được. Trên cơ sở trao đổi vật chất cũng xuất hiện trao đổi trên tư tưởng, tức là tư tưởng cá nhân có của thừa (cá nhân phú quý) xuất hiện dưới hình thức yêu tinh. Yêu tinh là con vật có sức lực dồi dào, nếu nó nhập vào ai thì kẻ ấy giàu có. Trong tư tưởng chủ quan, người ta kể rằng giàu và mạnh vì có con yêu nhập vào người, nhưng thực tế là anh tộc trưởng có của cải, có uy quyền, thì được tượng trưng trong con yêu. Bởi vì uy quyền ấy là uy quyền cá nhân chứ không phải là sức mạnh chung chung của tập thể như trong giai đoạn trước. Tộc trưởng trước kia giai đoạn sơ kỳ chưa có uy quyền cá nhân rõ rệt, nhưng với sự phát triển của sức sản xuất lên đến trình độ có của thừa, tộc trưởng đã có một số quyền lợi có tính chất cá thể. Uy quyền mới chớm nở của tộc trưởng được tượng trưng trong con yêu. Lúc anh tộc trưởng lên, được đổi mới, nó thành quan hệ xâm nhập. Lúc anh tộc trưởng lên đồng, nhảy múa thì anh ta diễn tả cuộc chiến thắng, và qua chiến thắng ấy là củng cố uy quyền. Nhưng tại sao quan hệ lại là quan hệ xâm nhập? Trước kia, người ta sinh ra căn bản đã là đồng nhất với vật tổ rồi, là chim chẳng hạn. Truyền thuyết còn kể người sinh ra là do vật tổ nhập vào bụng mẹ. Nhưng ở đây, khi anh tộc trưởng lên đồng thì anh ta phải được con yêu nhập vào. Vì của cải là của chung, mà muốn cho nó là của mình thì phải cho nó nhập vào mình, tức là con vật thiêng chỉ nhập vào một số người thôi, chứ không phải là chung cho tất cả thị tộc. Đó là bản chất của đạo yêu tinh. Trên cơ sở đạo ấy, bắt đầu được tổ chức những hội kín (gọi là kín vì có những điều kín giữa những người trong hội như những bài hát, điệu múa ...). Những người trong hội có khả năng làm cho con yêu nhập vào mình, tức là mình cũng thành yêu. Đó là những tổ chức chính trị đầu tiên của một số người đã có hướng thống trị. Trong những buổi lễ, thường có những điệu múa dữ dội, biểu hiện một cuộc chiến đấu và chiến thắng, có lúc dã man như: cắn người xung quanh, ăn người nô lệ, ăn các xác chết. Uy quyền của tộc trưởng xây dựng trên cơ sở chiến tranh và những lễ tượng trưng chiến tranh để củng cố uy quyền ấy.

Trong khuôn khổ xã hội ấy, sức sản xuất ngày càng phát triển, tạo điều kiện lợi dụng công trình lao động của người khác, tức là bắt đầu có quan hệ chủ nô. Đây mới là quan hệ bước đầu, chưa phải là xã hội nô lệ, hình thái xã hội nói chung còn tính chất thị tộc. Đó là giai đoạn thị tộc tan rã. Ta thấy những bước tiến rõ rệt: công cụ mộc mạc tự phát (tập đoàn hỗn loạn), công cụ điển hình dùng chung trong tập đoàn (gia đình đồng huyết), công cụ cá thể (thị tộc sơ kỳ), tích lũy của cải (thị tộc trung kỳ) và sử dụng nô lệ (thị tộc tan rã). Quan hệ chiếm hữu nô lệ thay đổi cả quan hệ giữa chủ nô với chủ nô, quan hệ giữa chủ nô với người tự do thường. Giữa các tộc trưởng có quan hệ ngôi thứ, dưới quyền của vua bộ lạc. Quan hệ ngôi thứ là quan hệ cống nạp. Hình thức cống nạp phát sinh buổi đầu trên cơ sở trao đổi, người dưới cống nạp cho người trên, và người trên phải săn sóc cho người dưới. Nhưng dần dần sức sản xuất phát triển và đẩy mạnh phương thức bóc lột, thì quan hệ cống nạp cũng phát triển tính chất bóc lột. Quan hệ cống nạp được phản ánh trong tư tưởng với đạo Quỷ thần. Quan hệ giữa thần và người là quan hệ cống nạp bằng hiến tế. Trước khi có tổ chức ấy đã có hình thức hiến tế, như trong những buổi đồng bóng có lúc giết nô lệ và ăn nô lệ để cho con yêu nhập vào mình. Nhưng chưa có tư tưởng hiến tế cho một ông thần trên mình, để ông ấy phù hộ cho mình. Phải có quan hệ cống nạp trong xã hội mới có quan hệ cống hiến trong tôn giáo.

Tóm lại, chúng ta thấy rằng: mỗi bước chuyển lên một giai đoạn mới, có biến chất nhưng cũng có liên tục. Đến giai đoạn vật tổ vẫn còn tính chất phương thuật. Ví dụ thị tộc sâu làm lễ, anh tộc trưởng lấy một cành cây quét hòn đá (tượng trưng sâu) và bụi bay lên, người ta cho bụi ấy là linh hồn vật tổ. Đến đạo Yêu tinh thì căn bản vẫn là động tác phương thuật, nhưng tính chất của đạo Vật tổ cũng không bị thủ tiêu. Vì con yêu nhận vào mình thì trở thành như vật tổ của mình, duy có quan hệ với vật tổ ấy là do lên đồng, chứ không phải là do huyết thống. Đến giai đoạn quỷ thần, một yếu tố mới xuất hiện: quan hệ cống hiến cho thần. Hình thái mới này xuất hiện trên cơ sở cũ, về căn bản vẫn có phương thuật: cống hiến để được sức khoẻ, sống lâu ... Đọc bài chú là muốn được thế này thế nọ. Ông thần vẫn liên hệ với người, thần được coi như cha, như tổ của người, nhập vào người làm cho người như thần, tức là được phú quý. Những yếu tố của thượng tầng kiến trúc cũ vẫn được duy trì, và làm cơ sở cho nghĩa chân chính của những hình thái cũ. Do đó có biện chứng pháp duy tâm, nhưng nó không giải thích dược yếu tố mới xuất hiện ở mỗi giai đoạn biến chuyển.

Lý luận của biện chứng pháp duy tâm, và những lý luận chống duy vật nói chung, đều nói: tư tưởng mới không xuất hiện trên cơ sở vật chất mà trên tinh thần. Nghĩa là tư tưởng sau phát sinh từ tư tưởng trước. Trong phạm vi tư tưởng, nói như vậy là đúng. Nhưng như thế lại không giải thích được vì sao có những yếu tố mới. Yếu tố mới mà biện chứng pháp duy tâm không giải thích được, chính là xuất phát từ sức sản xuất. Đó là ưu điểm của biện chứng pháp duy vật. Sức sản xuất trên đây không định nghĩa máy móc theo công cụ sàn xuất, vì cùng một công cụ sản xuất, trong hoàn cảnh khác nhau, có tác dụng khác nhau. Ví dụ: nghề đánh cá, nếu gặp điều kiện đặc biệt thuận tiện (bờ biển nhiều cá) thì cũng có thể đưa lên giai đoạn trung kỳ thị tộc. Đến giai đoạn thị tộc tan rã và chiếm hữu nô lệ cũng vậy. Cái cày bằng gỗ làm cho xã hội chuyển lên thị tộc tan rã. Nhưng trong những đồng bằng phì nhiêu Ai Cập, Lưỡng Hà, đã xuất hiện bước đầu của nền văn minh chiếm hữu nô lệ, tuy bấy giờ còn rất ít đồ đồng (mà cũng là đồng đỏ, chủ yếu dùng để trang hoàng). Người ta còn dùng cày bằng gỗ, cuốc bằng đá, búa rìu cũng bằng đá. Trong trường hợp đặc biệt ấy, xã hội vẫn chuyển lên văn minh. Văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập, cuối thiên niên kỷ thứ IV, còn dùng cày gỗ, đồ đá. Nhưng ở Hy Lạp, thời thị tộc tan rã thì lại có đồng đen, công cụ bằng sắt. Mãi đến thế kỷ thứ VIII trước CN thì Hy Lạp mới chuyển lên văn minh.

Tóm lại, không thể quy định trình độ lịch sử một cách máy móc theo công cụ sản xuất, và phải định nghĩa sức sản xuất theo hoàn cảnh cụ thể.

Văn minh chiếm hữu nô lệ xuất hiện khi mà trên cơ sở bóc lột đã có buôn bán đại quy mô; trao đổi hàng hoá do đó phân biệt thành thị và nông thôn (bộ phận công nghiệp và nông nghiệp). Trao đổi hàng hoá phát triển với những đất ở xa. Trên cơ sở ấy, xuất hiện công nghiệp đại quy mô, sản xuất hàng hoá là một bước ngoặt trong lịch sử nhân loại. Trước kia, việc sản xuất chỉ được phát triền trong bộ lạc, kỹ thuật sản xuất chỉ ... theo điển hình, cho nên tư tưởng chưa thoát khỏi trực quan, chưa đạt tiêu chuẩn hợp lý phổ cập. Bắt đầu từ lúc phát triển hàng hoá bán ra ngoài, lúc bấy giờ phải quy định tiêu chuẩn hợp lý, tức là tư tưởng đã chuyển lên trình độ khoa học, trình độ khái niệm, chứ không hạn chế trong những điển hình cảm tính. Sản xuất phải có kích thước, có tính toán. Như vậy, phải có kinh tế hàng hoá xuất hiện, tư tưởng mới chuyển lên lý tính. Lý tính xuất hiện trong khái niệm về xã hội cũng như trong khái niệm về tự nhiên. Kỹ thuật sản xuất đòi hỏi một tổ chức hợp lý và rộng rãi không đóng khung trong bộ lạc, bảo đảm quan hệ trao đổi rộng rãi theo tiêu chuẩn phổ cập chứ không phải trao đổi theo lễ nghi tôn giáo. Ví dụ: một anh tộc trưởng trước kia mời anh khác đến ăn uống thì không quan niệm được như thế là buôn bán, nhưng mà là cho theo kiểu vứt đi, cho không. Trao đổi lúc bấy giờ chỉ thể hiện trong khuôn khổ cũ, với hình thức cho không, tượng trưng cho chiến thắng, cho sự giàu mạnh. Thành ra nội dung mới không được nổi bật, sự trao đổi như vậy không được hợp lý và gây rối loạn. Sự trao đổi về sau được tổ chức rộng rãi thì phải có kỷ luật hợp lý trên cơ sở hai bên đồng ý, tức là kỷ luật giao ước. Đó là cơ sở pháp lý trao đổi hàng hoá sau này phát triển thành pháp lý tư sản. Tư tưởng pháp lý ấy là một khái niệm mới, một tư tưởng mới, nhờ đấy trình độ tư tưởng chuyển từ trực quan cảm tính lên lý tính. Với xã hội nô lệ, bắt đầu đã phát triển khái niệm lý tính về tự nhiên và xã hội. Nhưng có phải vì thế mà tư tưởng cũ bị thủ tiêu không? Nhất định là không. Chính lý tính mới lại xuất hiện với tính chất tôn giáo. Quy luật khoa học tìm ra đầu tiên cũng bị quan niệm như bị quyết của một ông thần, thực tế của một nhóm tăng lữ nay là của tập đoàn thủ công thờ ông thần. Pháp lý đầu tiên cũng là lời dạy của ông thần. Bộ luật đầu tiên là bộ Hammourabi (triều thứ nhất Babylone thế kỷ XIX trước CN) cũng coi là thần Shamash (Mặt Trời) dạy cho. Quan hệ sản xuất tiến lên trình độ trao đổi hàng hoá thì quan hệ nô lệ đã phát triển. Trong phạm vi nô lệ gia đình thì chưa cần phải có nhà nước.
Chế độ nô lệ gia đình có thể được xây dựng trong xã hội bộ lạc. Vua bộ lạc có thể bảo đảm phương thức bóc lột nô lệ trong gia đình. Chế độ vua bộ lạc về căn bản chưa thoát khỏi quan hệ thị tộc, quan hệ trao đổi trong cùng một thị tộc. Quan hệ giữa quý tộc trong bộ lạc căn bản cũng là quan hệ thị tộc, tuy chung quanh vua bộ lạc đã bắt đầu có manh nha Nhà nước, gồm một tay sai bảo vệ uy quyền của nhà vua. Đấy là manh nha nhà nước nhưng chưa phải là Nhà nước. Phải có sản xuất hàng hoá mới cần có bộ máy Nhà nước. Lúc đầu bộ máy Nhà nước còn phụ thuộc vào tôn giáo vì còn ít nô lệ công thương. Nhà vua nắm tổ chức công thương, nhưng sức mạnh của Nhà nước mới còn dựa trên cơ sở thị tộc tan rã. Nhưng căn bản đã có một yếu tố mới, ông thần bảo đảm quyền quân chủ không còn là ông thần cũ. Thần cũng phải thu nhập những yếu tố mới xuất hiện, những khái niệm khoa học và khái niệm pháp lý là thần sáng suốt, bảo đảm giao ước, bảo đảm pháp lý, đồng thời vẫn là thần vì yếu tố thị tộc chẳng những còn kéo dài mà thực tế còn chiếm địa vị chủ yếu.

Chúng ta thấy sự biến chuyển ở thượng tầng không phải đơn giản. Từ chế độ nọ qua chế độ kia có những yếu tố mới. Yếu tố mới xuất hiện buổi đầu chủ yếu không phải là ở số lượng mà ở chất lượng. Ở những nước văn minh cổ đại Đông phương, những di tích thị tộc còn là chủ yếu. Bộ phận thống trị không phải lớn nhất, nhưng là lãnh đạo. Bộ phận ấy đòi hỏi một tổ chức mới trên cơ sở hình thái xã hội cũ. Pháp lý cổ đại Đông phương, khoa học, nghệ thuật xuất hiện dưới sự che chở của tôn giáo, nhưng căn bản vẫn đối lập với tôn giáo. Mâu thuẫn ấy cũng xuất hiện trong tư tưởng. Lúc bấy giờ khoa học chưa được giải phóng, nhưng tư tưởng bắt đầu đấu tranh chống tôn giáo, đặc biệt là trong nghệ thuật. Mẫu thuẫn ấy biểu hiện trong tính chất tượng trưng: tác phẩm nghệ thuật cổ đại Đông phương muốn nói ra cái gì lớn lao mà không thực hiện được. Trông những tượng khổng lồ như tượng Sphinx, chúng ta thấy có các ý nghĩ sâu xa lớn lao nhưng không nắm được cái gì. Nó không nói được cái mà nó muốn nói, nghĩa là cái mà nó nói là một bí quyết, cái bí quyết ấy biểu hiện mâu thuẫn giữa tư tưởng cũ và tư tưởng mới, giữa tổ chức thị tộc hẹp hòi và những quan hệ nhân đạo mới chớm nở với kinh tế hàng hoá, tuy còn xây dựng trên cơ sở bóc lột nô lệ.

V - QUÁ TRÌNH NHÂN CÁCH Hoá QUAN NIỆM THẦN THÁNH TRONG VĂN MINH CỔ ĐẠI

Qua những giai đoạn của xã hội cộng đồng nguyên thủy, tư tưởng Thần thánh được xây dựng dần, Thần ngày càng có sức mạnh siêu nhiên và trấn áp con người. Sức trấn áp ấy biểu hiện rõ trong những tượng yêu tinh (thời thị tộc trung kỳ) và những tượng quỷ thần (thời thị tộc tan rã), với những nét méo mó, nhăn nhó, dữ dội đe doạ người ta (nhờ điêu khắc ở Phi Châu). Một nghệ thuật tiêu biểu đặc biệt cho sự đe doạ thời cuối tân thạch là nghệ thuật nước Incas ở Mỹ châu (xứ Mexique bây giờ), đó là một trong những nguồn của nghệ thuật tư sản cận đại (Picasso trước đây). Nó bóp méo tự nhiên, nhưng nắm được hiện thực xã hội trong cái méo mó ấy, vì hiện thực bấy giờ thực tế cũng bị méo mó (hình thức cộng đồng nhưng trong ấy lại trấn áp dã man, hiến tế vĩ đại, giết hàng trăm người). Qua xã hội văn minh chiếm hữu nô lệ, Thần cũng được văn minh hoá, dần mất tính chất dữ dội, tiếp thu những nhân đức mới và những nhân đức ấy được thể hiện trong những di tích nghệ thuật hiện nay còn giữ lại. Thần đã trở thành người, và ngày càng giống người cho tới lúc hoàn toàn được công nhận là người trong đạo Gia tô, kết quả cao nhất của tư tưởng cổ đại (Thượng đế thành người, chịu khổ để cứu người). Có thể nói: quá trình diễn biến của tư tưởng nguyên thủy là người biến thành Thần, và trong Cổ đại là Thần trở lại thành người và hy sinh cho người. Những điểm này chỉ ở trong phạm vi tư tưởng duy tâm thôi, vì Thần vẫn là Thần: Gia tô sau lúc chết, sống lại, lên trời ngồi cạnh Thượng đế và cũng là Thượng đế. Sau lúc xã hội chiếm hữu nô lệ tan rã, vì nhân dân đánh đổ, thì với hoàn cảnh và điều kiện bấy giờ chỉ có thể chuyển lên một chế độ vẫn bóc lột nhưng tương đối rộng rãi hơn là chế độ phong kiến. Nô lệ được giải phóng phần nào (nông nô), tiếp thu một số quyền lợi nào với điều kiện nào đấy, là một sự ban ơn của bọn thống trị, nhân loại được cứu vớt cũng là nhờ Thượng đế và sau đó lại phải hiến của cải mình cho Thượng đế.

Đó là quá trình nhân cách hoá của tư tưởng Thần thánh, đi từ những Thần tàn ác dã man thời thị tộc tan rã (như Thần Jéhovah của Do Thái bắt Abraham hiến con; đấy là một tục lệ thường xuyên của Do Thái thời thị tộc tan rã, bắt nhân dân phải hiến mọi của thu hoạch đầu tiên cho Thần, như bò con, dê con, lúa mới gặt, v.v... và cả con đầu lòng nữa) tới Gia-tô. Từ những Thần dã man ấy tới Gia-tô tự hiến cho người, thì có sự thay đổi lớn về tính chất, dù Gia-tô vẫn là do Thượng đế. Quá trình này có hai giai đoạn chủ yếu:

- Giai đoạn Cổ đại Đông phương.
- Giai đoạn Hy Lạp - La Mã.

Trong giai đoạn cổ đại Đông phương, Thần tiếp thụ dần những đức tính của xã hội văn minh nhưng vẫn siêu việt đối với người. Tới giai đoạn Hy Lạp - La Mã, tư tưởng Thần thánh bớt tính chất tôn giáo, hình như là trong lúc quan niệm thần, người ta tự nhận thấy mình, trong ý thức thần có ý thức tiềm tàng đấy là mình. Tôn giáo ở đây có tính chất nghệ thuật, người hưởng thụ đời sống của mình trong tôn giáo. Điều này thể hiện rõ trong nghệ thuật. Thần Đông phương là một ông khổng lồ đe doạ trấn áp người không những ở khổ người vĩ đại mà bằng những nét nghiêm khắc. Trái lại, những tượng thần Hy Lạp là Người đẹp lý tưởng. Con người tự thưởng thức mình trong cái đẹp của thần. Tôn giáo ở đây có tính chất thưởng ngoạn. Cố nhiên vẫn có hiến tế, nhưng bớt dã man, có khi chỉ là tượng trưng (dâng một bát nước trong, hay một bát rượu), mà cái chính là thưởng ngoạn.

Tại sao có quá trình như thế ?

Đó là do bước tiến bộ của xã hội Hy Lạp đối với xã hội Đông phương phát triển một cách vĩ đại nhưng trên một cơ sở sức sản xuất tương đối đơn giản (lúc đầu thực tế chỉ là một trình độ còn gần như thời Tân thạch: cày gỗ, cuốc đá, có ít đồ đồng mà còn là đồng đỏ, ít tác dụng). Dần dần tới Thiên niên kỷ II trước CN, phát triển đồ đồng đen, nhưng là một kim khí khó đúc vì phải có thiếc bấy giờ rất khó kiếm. Mãi cuối Thiên niên kỷ II trước CN mới bắt đầu phát triển đồ sắt, nhưng chưa biết luyện mà mới rèn sắt xấu, chưa làm được võ khí (chưa cứng bằng đồng đen) mà chỉ mới làm những công cụ thường. Dần dần nghề rèn sắt được cải tiến, đến cuối Cổ đại mới phổ cập dùng làm võ khí và công cụ. Về sức sản xuất thì có thể nói căn bản nghề rèn sắt phổ biến và cải tiến đã đưa xã hội lên chế độ phong kiến.

Trên cơ sở sức sản xuất như thế, quan hệ sản xuất phát triển thế nào?

Căn bản vẫn là chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng có nhiều thời kỳ. Ở Đông phương, căn bản là chiếm hữu nô lệ gia đình, tuy quan hệ chiếm hữu nô lệ công thương đã bắt đầu phát triển (mà như thế mới xây dựng được văn minh thể hiện trong những thành thị). Tới Hy Lạp - La Mã, thành thị phát triển quan hệ công thương thành chủ yếu (chứ không phải chỉ là thống trị). Ở Đông phương, nó đã là thống trị dù tương đối nhỏ so với nông thôn, và trên cơ sở ấy mới phát triển những cơ cấu văn minh đầu tiên: Nhà nước, pháp lý, mầm mống khoa học, triết học. Do đó, ở Hy Lạp, Nhà nước, pháp lý, khoa học, triết học phát triển vĩ đại (giai đoạn mà sử học truyền thống gọi là Thần tích Hy Lạp). Thực ra thì cái «thần tích» này có cơ sở thực tế là quan hệ chiếm hữu nô lệ công thương phát triển mạnh nhờ sức sản xuất tiến bộ, và nhất là thừa hưởng cả một di sản văn minh của Đông phương (nghề rèn sắt, kinh tế hàng hoá) đồng thời nhờ một số thuận tiện của địa lý Hy Lạp (cù lao, bán đảo hẹp, ít diện tích trồng trọt nhưng thuận tiện cho thương mại, nên chủ nô công thương mạnh và thắng chủ nô địa chủ tương đối dễ dàng).

Vì sao trên cơ sở chiếm hữu nô lệ công thương có thể xuất hiện những đức tính mới, cái gọi là văn minh? Vì kinh tế hàng hoá đòi hỏi trình độ tổ chức đại quy mô tức hợp lý, do đó phát triển những khái niệm khoa học về kỹ thuật sản xuất, những khái niệm công lý phản ánh quan hệ trao đổi hàng hoá, trao đổi có hình thức hợp lý. Trên cơ sở trao đổi hình thức tự do và hình thức bình đẳng đó, được xây dựng ở Hy Lạp một Nhà nước tương đối dân chủ giữa những người trao đổi (dân tự do). Cho nên nghệ thuật, triết học phát triển phản ánh và biện chính chế độ dân chủ ấy (dân làm chủ mà dân là người, khác với quý tộc vì quý tộc là «khác người», mà vì khác người nên được hưởng phú quý). Ở Hy Lạp, con người được nêu làm lý do tồn tại của đời sống, lý tính đạo đức của con người được đề cao chứ không phải một cái gì siêu nhiên. Người ta diễn tả con người với những đức tính lý tưởng của nó, nhưng những con người ấy còn được quan niệm như là thần thánh vì xây dựng trên cơ sở dĩ vãng, mà dĩ vãng ấy còn có chỗ dựa trong thực tế bấy giờ là quan hệ chủ nô - nô lệ, chính do đấy mà những đức tính ấy chỉ được quan niệm một cách lý tưởng. Con người lý tưởng không phải là con người vật chất, nếu chỉ là vật chất thì nô lệ cũng có thể có đức tính, mà trong xã hội ấy thì nô lệ không thể được công nhận là có đức tính, nên con người mới vẫn là lý tưởng duy tâm, vẫn là con người Thần thánh, không thể là con người nói chung được. Nhưng hướng chuyển biến là đi từ Thần đến người, cho đến lúc Thần thành người hẳn thì hình như mất hết cơ sở, không dựa vào đâu được nữa để thi hành quyền thống trị trước. Ở cơ sở sản xuất, kinh tế hàng hoá ngày càng phá vỡ những giới hạn hẹp hòi của thành thị cũ, phá vỡ di tích thị tộc tức là phá vỡ cái cộng đồng cửu truyền của bọn chủ nô. Đến một lúc nào đấy (đặc biệt cuối Hy Lạp và trong La Mã) thì con người lý tưởng chỉ còn là cá nhân có quyền tư hữu, trao đổi; mỗi cá nhân chỉ là đơn vị cá thể có một số quyền lợi pháp lý nhất định, nhưng pháp lý chỉ dựa bộ máy quan liêu, nó đã mất cơ sở sinh động trong xã hội. Trước kia nó dựa vào di tích cộng đồng, vào sự liên đới của những
người dân tự do trong thành thị để thống trị nô lệ (đây là nguồn gốc của chủ nghĩa ái quốc cổ đại: công dân sẵn sàng hy sinh cho thành thị mới bảo vệ được quyền chiếm hữu nô lệ của dân tự do). Đến lúc này, dân tự do không còn là công dân nữa vì không còn bầu không khí liên đới tự phát của chế độ trước, mà chỉ còn là những người có một số quyền lợi pháp lý nhất định, chỉ sống cho mình, không còn hy sinh (cơ sở kinh tế hàng hoá biến mỗi người thành một cá nhân riêng biệt, bảo vệ cá nhân, không còn lý do hy sinh nữa). Lúc ấy, một mặt người dân tự do hoàn toàn được công nhận quyền cá nhân, nhưng lại mất cơ sở xã hội của quyền áp bức bóc lột, do đó cuối thời cổ đại phát triển tư tưởng bi quan (không biết dựa vào đâu), cảm tưởng thế giới đã hết (sách Thánh: «La fin des temps, la fin du monde») và chờ đợi một vị cứu thế.

Trên kia có nói đến ý nghĩa thần thánh trong những tác phẩm điêu khắc, nhưng ở đây, ý nghĩa được biểu hiện cô đặc quá. Muốn đi sâu vào các bộ phận chi tiết, chúng ta phải đi vào các tác phẩm văn học mới thấy được toàn bộ mâu thuẫn trong quá trình diễn biến của nó (trong điêu khắc chỉ thể hiện mâu thuẫn đã được thống nhất, cô đặc trong một hình thái tĩnh, vậy diễn biến qua đường nào thì ta không thấy). Tiêu biểu nhất cho các tác phẩm văn học ở giai đoạn đầu là những anh hùng ca. Thời Hy Lạp thì song song với quá trình nhân cách hoá thần thánh, vai trò anh hùng cũng ngày càng nhân cách hoá, tiếp thu nhân dân tính với hình thức mâu thuẫn, đối kháng trong những bi kịch: người anh hùng đã có nhân dân tính nhưng không chịu đựng được, và cuối cùng số phận bắt chịu đựng. Cuối cùng, anh hùng tiếp thu hoàn toàn nhân dân tính và bộc lộ rằng mình chỉ là người thôi, trong hài kịch (cười vì thấy anh hùng mà mình tưởng tượng là ghê gớm xa xôi cũng chỉ là người thôi). Bi kịch và hài kịch phát triển nhiều ở giai đoạn Hy Lạp phát đạt (thế kỷ V), còn anh hùng ca thì phát triển nhiều ở giai đoạn Đông phương, và nhất là đầu Hy Lạp. Anh hùng ca đề cao anh hùng như thần thánh, nhưng cũng đã bộc lộ có mâu thuẫn trong linh giới. Đó chính là mâu thuẫn giữa Thần với người, phản ánh mâu thuẫn thực tế của xã hội, bộc lộ mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị, chủ yếu giữa chủ công thương và chủ nô địa chủ, trong đó công thương tương đối tiến bộ hơn, và đại diện phần nào cho quyền lợi nhân dân. Một tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn Đông phương là anh hùng ca Gilgamesh được phổ biến nhiều trong khu vực văn minh Tây Á (từ Lưỡng Hà đến Tiểu Á, Syrie).

Gilgamesch, phù điêu cổ

Anh hùng ca này kể lại câu chuyện của Gilgamesch (vua thành Ourouk ở đất Sumer miền Đông Nam Lưỡng Hà, là một ông vua đàn áp nhân dân ghê gớm) và bạn là Enkidou (chăn bò, ở trình độ dã man: lông lá, ăn sống, uống nước ao). Dân Ourouk gửi một cô nàng hầu qua Nữ thần, có nhiệm vụ giao cấu với khách đến thờ [2], tới quyến rũ và giao cấu với Enkidou trong 7 ngày 6 đêm, rồi đưa Enkidou về đời sống văn minh phục vụ nhân dân Ourouk. Thấy Gilgamesch đàn áp nhân dân, Enkidou nghe dân đánh lại, nhưng sau hoà với ông này và cùng nhau đi đánh quỷ ác giữ rừng thông (có thể là đất Liban). Sau khi đánh chết quỷ, hai người trở về. Gilgamesch bị bà Ishtar (nữ thần Lưỡng Hà) quyến rũ, nhưng ông này không bằng lòng, Ishtar giận, làm Enkidou chết. Gilgamesch thương bạn và lo cho mình nên xuất dương tìm thuốc trường sinh. Sau nhiều sự việc, cuối cùng Gilgamesch cầu hồn Enkiđou lên, và được nghe kể lại chuyện các linh hồn bị khổ sở ở dưới đất.

Chuyện này là anh hùng ca được phổ biến nhất ở Tây Á, đã để lại nhiều di tích trong mỹ thuật (điêu khắc và hội hoạ). Sở dĩ nó được phát triển như thế vì nó phản ánh một thực tế lịch sử, có đáp lại một đòi hỏi nào đó của nhân dân. Ta thấy rõ nội dung xã hội của nó:

Chuyện dân Ourouk lợi dụng anh dã man về làm việc, trong thực tế có thể là việc dùng dân thị tộc một cách khéo léo. Ta có thể suy diễn rằng Enkidou có lẽ là một thứ tộc trưởng bị quyến rũ về làm đầy tớ. Anh ta đi với nhân dân, chống lại vua, nhưng rồi lại bị mua chuộc và liên minh với nhà vua, và đi chiếm căn cứ địa để tiện việc buôn bán, có thể là đất Liban (gỗ thông là một sản phẩm đặc biệt của Liban, rất quí hồi bấy giờ và đến bây giờ vẫn có tiếng). Lúc trở về, Gilgamesch chống lại Ishtar là một sự kiện rất có ý nghĩa. Đạo nữ thần có nguồn gốc thời thị tộc, và tiêu biểu cho di tích thị tộc trong chế độ chiếm hữu nô lệ: đó là sự thống trị của quý tộc. Cho nên mâu thuẫn giữa Gilgamesch - Ishtar có thể phản ánh mâu thuẫn giữa bọn chủ nô công thương và bọn quý tộc. Nội dung xã hội của câu chuyện như thế có mấy điểm chính: nhà vua liên minh với tộc trưởng ngoại quốc phát triển công thương, nhất là ngoại thương, nhờ đó chống lại quý tộc. Chính điểm này giải thích tại sao câu chuyện được phổ biến đến thế. Nó có sự thích ứng với quyền lợi chung của nhân dân, vì chính bộ phận công thương, nhất là ngoại thương, đã đóng vai trò tiến bộ, xây dựng văn minh mới, phát triển nó ra ngoài. Gilgamesch và Enkidou đánh ma thiêng quỷ ác bảo vệ, làm giàu cho tổ quốc, một phần nào nhân dân cũng được gián tiếp tham gia, do đấy mà đối lập với thống trị cũ (đạo Nữ thần). Ở đây có một nội dung mới xuất hiện, và chính nội dung này là cơ sở của giá trị nghệ thuật của những anh hùng ca. Nói đến anh hùng là nói đến vua chúa, nhưng xét nội dung thực tế thì anh hùng được đề cao không phải là vì vua chúa mà vì tiêu biểu cho một tầng lớp tiến bộ có làm lợi một phần nào đấy cho nhân dân. Anh đó vẫn là anh hùng cá nhân, và căn bản vẫn là thần bí hoá, nhưng thần thánh ở đây có một nội dung mới chống nội dung cũ (chẳng hạn Gilgamesch không chịu Ishtar). Cố nhiên, ta vẫn ở trong phạm vi thần bí (vì chế độ quân chủ độc đoán chủ nô), nhưng trong phạm vi đó đã có mâu thuẫn, đấu tranh, có tiến bộ phản ánh đấu tranh của nhân dân. Đấu tranh đó được diễn tả trong anh hùng ca, cũng phản ánh trong điêu khắc: tượng thần thể hiện những nét méo mó trở dần thành người, tuy chưa phải là người thường hay người đẹp mà là người cao siêu. Chính nhờ trải qua mâu thuẫn và đấu tranh của nhân dân, Thần đã là người vẫn cao siêu. Tại sao tượng thần vẫn to lớn? Vì nó muốn biểu hiện một ý nghĩa to lớn, nhưng không thể thể hiện được trong chất lượng nên phải thể hiện bằng số lượng, vì căn bản trong nội dung của nó, nó không làm nổi bật được ý nghĩa đó. Ý nghĩa ấy là đức tính mới đã được xây dựng trong đấu tranh của nhân dân, nhưng đấu tranh còn bị kìm hãm trong phạm vi quân chủ độc đoán chủ nô, nên không biểu hiện một cách rõ ràng mà chỉ biểu hiện như một bí quyết. Vì thế nghệ thuật Đông phương là nghệ thuật bí quyết. Nghệ thuật Đông phương mới chỉ nói nửa chừng, cái nó muốn nói thì nghệ thuật Hy Lạp sẽ nói một cách tương đối rõ ràng hơn: Thần chính là người. Trong Đông phương Thần không nói ra được, trong Hy Lạp Thần không muốn nói nhưng thực tế bắt Thần phải nói ra điều ấy. Chính dân Hy Lạp cũng có ý thức phần nào về điểm ấy, thể hiện trong câu chuyện của Oedipe và con Sphinx: con Sphinx là quái vật khổng lồ thân sư tử, đầu người, nó có một tượng to lớn ở gần các kim tự tháp Guizèh; nó tiêu biểu cho bí quyết của thần thánh: truyền thuyết kể rằng nó đặt câu đố cho dân thành Thèbes, và ai không trả lời được thì bị nó giết: «Con vật nào sáng đi 4 chân, trưa 2 chân và chiều 3 chân?». Oedipe trả lời đấy chính là người giết con Sphinx. Bí quyết của thần là người. Số phận con Sphinx cũng là số phận chung của Thần thánh, vì khi người ta biết rõ bí quyết ấy thì Thần không còn được nữa.

Trần Đức Thảo (Lịch sử Tư tưởng trước Marx, tr. 127-152)

Xem tiếp: Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp


Xem online : Phần ba: Nhận thức của loài người trong xã hội nguyên thủy


[1Đúng ra là Ra hay Rê.

[2Đạo Nữ thần là một tôn giáo phát triển nhiều ở vùng Lưỡng Hà, Tiểu Á, Syrie, v.v... , hàng năm có những lễ rất long trọng để di tích đến bây giờ. Đó là lễ Bí quyết (mystère) trong đó diễn lại người Thần trai (chồng nữ thần) bị chết, người làm lễ khóc lóc; sau ông này sống lại, người làm lễ vui mừng. Ở Syrie, nữ thần là Astarte, Thần trai là Adonis; ở Lưỡng Hà, nữ thần là Ishtar và Thần trai Dummuzl; ở Tiểu Á nữ thần là Cybele và Thần trai là Attis; Ai Cập có Isis và chồng là Osiris. Nội dung các tôn giáo này căn bản giống đạo Osiris và còn để di tích trong đạo Gia tô: lễ phục sinh và ngày hội Camaval (chính là Charnaval tượng trưng cái thuyền của Isis chở xác chồng về nước).