Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > Nhân sinh quan khởi từ nguồn gốc của bi kịch (2)

Nhân sinh quan khởi từ nguồn gốc của bi kịch (2)

Chủ Nhật 14, Tháng Mười Hai 2008

Xem Triết lý của Nietzsche

IV. Nhân sinh quan hay phản ứng của Nietzsche

Nietzsche bị dằn vặt giữa hai triết lý cực đoan: một bên vô thần mà đại biểu là Shopenhauer; bên kia hữu thần là Kierkegaard.

Mặc dù Nietzsche (1844-1900) và Kierkegaard (1813-1855) đều được coi là “ông tổ” của chủ nghĩa hiện sinh vì có nhiều đặc điểm giống nhau về triết lý hay nhân sinh quan, nhưng về mặt siêu hình luận, niềm tin tôn giáo, và quan niệm về đam mê (passion), lại rất khác biệt; chưa kể tới rằng giữa Nietzsche và Kierkegaard cách nhau hơn kém một thế hệ về tuổi tác.

Trước tiên, cả hai – Nietzsche và Kierkegaard, đều xuất thân từ môi trường giáo dục, đạo lý theo Kitô giáo (hệ phái Lutheran) với truyền thống gia phả theo đuổi lý tưởng làm mục sư trải dài nhiều thế hệ; kể cả bản thân Kierkegaard và Nietzsche (dù chỉ là ở lúc Nietzsche còn niên thiếu). Thái độ của cả hai triết gia đối với những tôn giáo có tổ chức (organized religions), nhất là Kitô giáo, là tha hoá, nghịch lý (về mặt tín lý và luân lý), kiềm chế năng lực thăng tiến cá nhân như một chủ thể độc lập, tự do, tự thức và tự quyết. (Nhắc tới chủ nghĩa hiện sinh, đây chính là những đặc trưng hoá căn bản và nền tảng của nó. Thậm chí, Sartre còn đi xa hơn khi cho rằng mỗi cá nhân hoàn toàn có tự do tuyệt đối trong mọi lựa chọn – bất luận ở tình huống nào; ngay cả khi bị giam hãm trong tù ngục, tưởng như quyền tự do triệt để bị tước đoạt: ta vẫn còn tự do lựa chọn về thái độ – chấp nhận hay phản kháng tình thế). Chế độ tôn giáo cùng với áp lực của cơ cấu tổ chức và phẩm trật, những định chế và mệnh lệnh luân lý, đạo lý của tôn giáo đã áp đặt lên cá nhân (tín đồ), gánh nặng và bổn phận vâng lời tuyệt đối – nhân danh lý tưởng và cứu cánh của niềm tin khiến chủ thể trở thành vong thân (không thực sự sống cho mình) – dù họ ý thức hay không ý thức về sự kiện này.

Nietzsche và Kierkegaard đều đồng thuận rằng lý tính con người không thể khám phá ra thực tại Thượng đế. Tuy nhiên, nó là công cụ cần thiết để ta kiến tạo và định đoạt mỗi lựa chọn của ta (chẳng hạn, toan tính một dự án, công việc). Nhưng mọi khởi động để thành tựu những dự án như thế là ở động năng của đam mê; không phải do quyết tâm của lý trí; chỉ có đam mê mới dẫn tới thành quả. Đối với Nietzsche, qua tinh thần Dionysus, chính sức mạnh của đam mê là năng lực xô đẩy con người dấn thân, nỗ lực hoạch định và sáng tạo, cách riêng trong phạm trù mỹ học và nghệ thuật. Sống có ý nghĩa là sống với đam mê, có mục tiêu cụ thể để đeo đuổi ! Nietzsche hoàn toàn phủ định nhận thức cho rằng ý nghĩa tối thượng của cuộc đời nằm ở cứu cánh của nó, ở niềm tin hay lý tưởng tôn giáo. Đây cũng là phản ứng kịch liệt của phong trào/chủ nghĩa lãng mạn (thế kỷ 18) nhằm chống lại triết lý duy lý của Kant với nguyên lý phổ quát về luân lý mà Kant gọi là mệnh trù (categorical imperative): ta có thể sống cuộc đời đạo hạnh, (hay tiêu cực, không vấp phạm luật lệ nào cả) nhưng đó không thể gọi là cuộc đời hạnh phúc được – có chăng là bình tâm nhưng buồn chán, tẻ nhạt; vắng mặt những thử thách, mạo hiểm và sáng tạo.

Theo Kierkegaard, mặc dù không thể lý giải được thực tại Thượng đế (xem là nghịch lý hiểu theo văn mạch của tín điều và giáo thuyết của Kitô giáo), nhưng cho rằng nếu không có Thượng đế, cuộc đời vô nghĩa ! Bỏ quan vấn đề luận lý, để thâm tín vào Thượng đế đòi hỏi ta phải chấp nhận cái mà Kierkegaard gọi là “bước nhảy vọt về đức tin” (a leap of faith). Nhưng đối với Nietzsche, đó là điều không thể làm, và rồi kết luận: Kierkegaard cũng cũng chỉ là chứng nhân sau cùng của nền tảng/truyền thống siêu hình học ở trên với nhân sinh quan cho rằng thế gian là cõi đau khổ, tạm bợ; “cõi bên kia” mới thực sự là quê hương thường trú nơi mà hạnh phúc vĩnh viễn đang đón chờ (mô hình chuyển trục).

Thế còn Shopenhauer, cuộc đời có ý nghĩa ?

Câu trả lời tuyệt đối của Shopenhauer là không – cuộc đời rốt ráo là vô nghĩa và phi lý ; mọi nỗ lực thành tựu của thế gian đều là nỗ lực hoài công, vô ích – xét cho cùng. Thế giới là biểu hiện của một thực tại duy nhất mà Shopenhauer gọi là “Ý chí” (the Will). Mọi khách thể, mọi hiện tượng trên thế gian đều là biểu hiện (manifestations) của Ý chí này (đọc Thế giới là Ý chí và Biểu tượng - The World as Will and Representation, của Shopenhauer). Nói theo Kant, đó là tiến trình khách quan hoá của chủ thể tự tri. Bản năng dục tính là biểu hiện trực tiếp và mãnh lực nhất của thực tại Ý chí. Khi ta thèm muốn xác thịt, tức là thực tại Ý chí đang “nói” hay hiện thực hoá trong ta. Ý chí là khối năng lượng hay nguyên động lực mù quáng, xô đẩy thế giới tồn hữu, vận hành.

Không như Hegel với quan niệm lịch sử vận hành có định hướng tới cùng đích (Hegel gọi đó là “Tuyệt đối” hay “Tinh thần thế giới”), lịch sử của Shopenhauer hoàn toàn không hướng về một cứu cánh nào cả; hay cứu cánh nếu có, duy nhất chỉ là tiếp nối mạch sống bất tận của Ý chí biểu hiện qua thế giới hiện tượng. Với Shopenhauer, đối tượng của dục vọng là nhằm thỏa mãn hay chiếm đoạt sở hữu, và sự thỏa mãn đó là “thùng không đáy”, như "đổ dầu vào lửa" : giống như những thèm muốn xác thịt, bảo xong nhưng không bao giờ xong; mọi thỏa mãn dục vọng chỉ là nhất thời và không bao giờ trọn vẹn và vĩnh viễn cả. Đó là cội nguồn của sự bất hạnh và khổ đau. Dưới ảnh hưởng sâu nặng của Phật thuyết, Shopenhauer tiến cử bốn con đường giải thoát:

a- Trầm tưởng nét đẹp. Bằng sự chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn những nét đẹp về thiên nhiên hay những tác phẩm nghệ thuật, sẽ giúp ta tạm thời quên đi mọi lo âu khắc khoải, phiền muộn của đời sống.

b- Lắng nghe âm nhạc. Âm nhạc giúp ta “thoát ly” hay “nhập hồn” vào thế giới của âm thanh; quên đi bản ngã và thân phận nghiệt ngã của mình. Nhưng cũng giống như việc trầm tuởng vẻ đẹp, chỉ là tạm thời.

c- Khai hoá lòng trắc ẩn. Mọi sinh thể đều chịu chung một số phận khổ lụy; có lòng trắc ẩn với tha nhân, với mọi loài không chỉ để xoa dịu nỗi đau khổ của họ nhưng còn là sự cảm thông đồng loại.

d- Đình chỉ khát vọng sống (will to live). Theo Shopenhauer, đây là phương thức triệt để nhất khả dĩ vô hiệu hoá mọi hệ lụy khổ đau, nhất là ở bản năng tồn hữu nơi con người.

Nietzsche, mặc dù hoan nghênh đón nhận triết lý của Shopenhauer lúc đầu (đánh giá Shopenhauer như là “nhà giáo lý tưởng”), nhưng sau cùng đã phản kháng Shopenhauer – coi đó cũng chỉ là một phần trong bố cục của truyền thống siêu hình luận ở trên: bi quan và phủ định đời sống. Nietzsche đồng thuận với Shopenhauer về những thực tại đau khổ của cuộc đời nhưng không phải vì đó mà ta từ khước tham dự vào cuộc sống. Nietzsche viết:

Tôi thấu hiểu ra rằng linh tính của tôi đã đi ngược lại với xu hướng của Shopenhauer: tức là hướng tới một biện minh cho đời sống, ngay cả rằng cuộc đời là khủng khiếp nhất, huyền ảo và dối gian (WP 1005).

Nỗi lo sợ của Nietzsche: nền móng siêu hình luận sụp đổ, chủ nghĩa hư không là hệ quả tất yếu mà triết lý Shopenhauer đã thể hiện ở trên. Để đoạn tuyệt với truyền thống trên, Nietzsche để cho ngôn sứ Zarathustra với âm hưởng thuyết giảng của Thánh kinh, kêu gào:

Ta khẩn nài các ngươi, hỡi các huynh đệ của ta, hãy trung thành với trần gian này, và đừng tin vào những kẻ rao giảng về mọi kỳ vọng ở thế giới bên kia ! Họ là kẻ pha thuốc độc, dù họ ý thức được điều đó hay không (Z, Zarathustra’s Prologue )

Và như vậy, Nietzsche đã triệt để “quay lưng” lại với truyền thống của mình; kịch liệt phản kháng nhân sinh quan hay mô hình chuyển trục ở trên. Ông xem đó là lầm lỡ “của hai ngàn năm sai lầm !”

Tuy nhiên, dù phủ định triết lý bi quan của Shopenhauer, tư tưởng triết học của Nietzsche vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của triết gia này. Nietzsche đã thay thế khái niệm “Ý chí” (Will) của Shopenhauer bằng “Ý chí cường lực” (Will to Power). Ý chí cường lực là nguyên động năng của vũ trụ, của đời sống mà bản năng sinh tồn, tranh đấu quyền lực, chinh phục v.v…tồn tại trong mọi sinh thể chỉ là một trong những biểu hiện của nguyên lý phổ quát này. Nietzsche tự hỏi: “đời sống là gì ?” Và Nietzsche tự trả lời: “Công thức của tôi cho nó là: Đời sống là ý chí cường lực” (WP 254). Không như nhận thức phổ thông cho rằng bản năng sinh tồn là động cơ tranh đấu của mọi sinh thể trong nhiên giới; với Nietzsche, đó là sự bộc phát, tiêu phí năng lực, và thậm chí còn dám hy sinh “liều mạng” để biểu dương quyền lực (năng lượng) này. (Nietzsche cũng khác với Hegel cho rằng người ta có thể liều chết vì nhu cầu đòi được công nhận (recognition) của mình từ tha nhân thay vì bản năng sinh tồn).

Khát vọng tồn hữu là triệu chứng căng thẳng, giới hạn của bản năng sinh tồn căn bản thực sự nhằm để bành trướng sức mạnh, và, ý chí muốn liều lĩnh liên tục và thậm chí còn dám hy sinh cả mạng sống…(GS 349)..

Ảnh hưởng của Shopenhauer đối với Nietzsche không chỉ ở phương diện bản thể luận như trình bày ở trên mà còn ở phương diện mỹ học trong đó, phải kể tới vai trò của âm nhạc cũng như vai trò của bản năng. Những chủ đề này đã được Nietzsche khai triển trong tác phẩm Nguồn Gốc của Bi Kịch (xuất bản năm 1872); phần để ca ngợi danh tài sáng tác nhạc kịch Richard Wagner (1813-1883) (10); phần để lý giải ý nghĩa, bản chất và con đường giải thoát khỏi sự đau khổ biểu hiện qua văn hoá cổ đại Hy Lạp.

1. Apollo và Dionysus

Trong tác phẩm đầu tay của mình – Nguồn gốc của Bi Kịch, Nietzsche đã giới thiệu hai biểu tượng: Apollo và Dionysus. Apollo là thần của ánh sáng, lý tính, cái đẹp, trật tự – thần mặt trời. Ngược lại, Dionysus là tượng trưng cho hỗn độn, vô trật tự, buông thả, ngẫu hứng, xuất thần – thần rượu. Theo Nietzsche, đời sống hợp bởi hai nguyên động lực đối kháng lẫn nhau tiêu biểu biểu ở hai thần thể này.

Nietzsche cho rằng nhân sinh quan lạc quan là nhân sinh quan thịnh hành và phổ quát trong
văn hoá cổ Hy Lạp thời tiền Socrates ( tức là thời đại của Homer nói chung). Đó là quan niệm, theo tinh thần Apollo, rằng con người, cuộc sống và định mệnh của hắn nằm ở trong quyền lực của những nguyên động lực tăm tối (dark forces). Dù bị chi phối và điều khiển bởi những ác lực như thế, nhưng con người cổ đại Hy Lạp, bằng sự lý giải của lý tính, vẫn có thể duy trì cuộc sống lạc quan, yêu đời trước những nghịch cảnh của sự đau khổ.

Trước ngưỡng cửa của đền thờ Apollo tại Delphi, có ghi khắc hai phương châm: “hãy tự biết mình” và “hãy tiết độ”. Đây là hai kim chỉ nam để sống; để biết vai trò và bản chất của ta ở thân phận hữu tử làm người so ở vũ trụ trong tương quan với các thần thể bất tử; tức là đã mang kiếp làm người là phải chấp nhận tính hữu tử của mình; chấp nhận mọi khổ lụy, thử thách, hạn hữu và sự mong manh, dòn mỏng của kiếp người. Hãy lạc quan, bằng lòng và an phận với mọi gian khổ; phải sống tiết độ; tìm cách trốn tránh chúng chỉ là khổ lực hoài công, nếu không muốn nói là căn nguyên của bi quan, tuyệt vọng.

Theo Nietzsche, thái độ lạc quan như thế ở thời điểm trên đã bị gián đoạn do sự lưu nhập của những tư tưởng hay triết lý bi quan xuất phát từ phương Đông. Đó là tinh thần Dionysus xuất hiện, tương phản với bối cảnh lạc quan và tích cực của tâm thức Apollo. Thần Dionysus đã làm náo động và thức tỉnh Apollo bằng cách “lật tẩy”, hay “lột mặt nạ” trá hình của thái độ lạc quan, hời hợt và giả tạo ở trên. Sự thật đó vốn được che đậy bởi lý tính và lập luận: trên thực tế, cuộc đời đầy những nguy hiểm, bạo loạn. Silenus, tiểu thần của Dionysus, khi được vua Midas tra hỏi rằng điều gì là hạnh phúc nhất cho con người, đã miễn cưỡng trả lời:

Tại sao ngươi lại ép buộc ta phải nói một điều lợi ích nhất cho ngươi tức là tránh để không phải nghe ? Điều mà hạnh phúc nhất cho con người nhưng hoàn toàn bất khả thể: đừng có sinh ra trên đời này, không hiện hữu, không là gì cả. Tuy nhiên, điều kế đến cho ngươi là – hãy chết sớm thì càng tốt.

(BT 3, http://records.viu.ca/~johnstoi/Nietzsche/tragedy_all.htm , bản dịch Anh ngữ của Ian Johnston)

Với một não trạng như thế, người Hy Lạp đã hoá giải như thế nào ?

Nietzsche cho rằng người cổ đại Hy Lạp đã khai sinh ra thể loại bi kịch (tragedy) để dung hoà hai khuynh hướng đối cực này. Bi kịch, chẳng hạn như của Sophocles, Aeschylus v.v…là sự kết hợp hài hoà giữa hai nguyên động lực Apollo và Dionysus, cùng với âm nhạc phối hợp trong vở kịch. Âm nhạc, với Nietzsche, là “ngôn ngữ” phổ quát, trực cảm và truyền cảm có tác động đi thẳng vào tâm hồn con người mà ngôn ngữ bình thường không thể chuyển tải được như thế (Ngoài tựa đề của tác phẩm Nguồn gốc của Bi Kịch, Nietzsche lồng thêm với nó phụ đề Qua Tinh Thần của Âm nhạc. Nietzsche chịu nhiều ảnh hưởng của Shopenhauer về quan niệm mỹ học và âm nhạc như đã trình bày ở phần trên). Theo Nietzsche, chính những bi kịch này đã cứu thoát dân tộc và văn hoá Hy Lạp khỏi não trạng bi quan, phủ định đời sống của phong trào Dionysus; phục hưng tinh thần và thái độ lạc quan, yêu đời trở lại.

Mặt khác, Nietzsche qui trách rằng chính Socrates là người đã khai tử khuynh hướng nghệ thuật của thể loại bi kịch này.

Huyền thoại bi tráng (tragic myth) có nghĩa gì đối với dân tộc Hy Lạp ở thời đại vàng son, cực thịnh và can trường nhất ? Thế còn hiện tượng mãnh liệt của tinh thần Dionysys ? Và của những gì thoát thai từ đó – tính bi kịch ? Và để tương phản, ta nghĩ sao về sự kiện rằng ai đã hủy diệt nền bi kịch – đó là đạo lý, biện chứng pháp, sự mãn nguyện của Socrates và tư thái an nhiên tự tại nơi con người lý luận suông đó. Phải nghĩ thế nào về sự kiện đó ? Ắt chăng là chính chủ nghĩa Socrates là dấu chỉ của sự suy đồi, mục nát, bệnh hoạn, tan vỡ hỗn loạn của mọi bản năng ?

(BT 1, http://records.viu.ca/~johnstoi/Nietzsche/tragedy_all.htm , bản dịch Anh ngữ của Ian Johnston)

Nietzsche kết luận: Socrates là người đã giết chết nghệ thuật bi kịch. Đó chính là một Socrates, kẻ đã dùng lý tính để cổ vũ tinh thần tự chủ (self-control), sống tiết độ, kiềm chế mọi đam mê của con người mà Socrates coi là tiêu cực. Nói cách khác, Socrates đã hủy diệt mọi năng lực sáng tạo nghệ thuật, mọi nguồn cảm hứng văn nghệ đột khởi, và tiềm lực thăng tiến hoá của con người bằng bạo chúa của lý tính độc tôn.

Nietzsche có tham vọng muốn phục hưng thời kỳ vàng son của nền văn hoá cổ đại trên – biểu hiện qua nhạc kịch của Wagner. (Wagner là một trong số ít người đọc và tán đồng giải pháp âm nhạc của Shopenhauer ở trên nhằm xoa dịu nỗi khổ của con người).

2. Tự do và định mệnh

Hai ý niệm – tự do và định mệnh, là cặp phản đề rất quan trọng trong tôn giáo và triết học. Nhưng phải hiểu thế nào là tự do và định mệnh ? Phải chăng con người có sự tự do tuyệt đối, vô điều kiện như Sartre từng tuyên bố ? Hay tự do (free will) trong ý nghĩa của Kitô giáo ? Và phải chăng, mỗi người đã có một định mệnh nhất định (như nhận thức phổ thông định mệnh đã an bài) ? Gọi là phản đề vì hai thực tại này nghịch hỗ tương lẫn nhau: có tự do thì không có định mệnh hay ngược lại !

Trước tiên, hãy bàn về khái niệm tự do. Đó là một khái niệm nghe đơn giản nhưng thực tế phức tạp: có thể được định nghĩa trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Chẳng hạn như sự tự do ở lĩnh vực tôn giáo, luân lý và trách nhiệm – tự do lựa chọn phải/trái, thiện/ác và hành xử theo đó; tự do chính trị thường được hiểu như “quyền” (rights) mà ở đó, mọi người dân được hiến pháp bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do tín ngưỡng, hội họp v.v…

Tự do còn có thể định nghĩa trên căn bản hiện sinh chủ nghĩa rằng con người hoàn toàn có tự do tuyệt đối để hành xử, lựa chọn cho bản thân và cuộc đời cụ thể của mình – tự do theo chủ nghĩa cá nhân. Tự do theo Kitô giáo (tức là khái niệm ý chí tự do – free will) là “ân sủng” mà Thiên Chúa (Thượng đế) ban cho mỗi người để “lựa chọn” làm lành lánh dữ, tuân phục giới răn của Ngài - một tự do có điều kiện (có tội sẽ bị phạt giam nơi hỏa ngục; sạch tội được lên thiên đàng). Nietzsche kịch liệt phản kháng quan niệm tự do như thế; cho rằng đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng của các thần học gia nhằm “cột đá vào cổ con người” để qui trách nhiệm cho hắn. Trên thực tế, thế gian thực sự chỉ là phi luân (amoral) - không có cơ sở siêu hình học nào cả. Nietzsche muốn loại bỏ “mặc cảm tội lỗi” ngụy tạo nơi con người bị điều kiện hoá bởi đạo lý và học thuyết Kitô giáo - chẳng hạn như khái niệm "tội tổ tông” (orignal sin).

Tự do còn có thể định nghĩa hay đặc trưng hoá theo hình thức: tiêu cực hay tích cực. Tự do tiêu cực là tự do phủ định: tự do khỏi đàn áp, bóc lộc, thống trị…Đó là khái niệm tự do theo nghĩa của các nước Anh và Pháp ở thế kỷ 18; thứ tự do được đặc trưng hoá là “laisser-faire” – không bị can gián bởi mọi ngoại lực, kể cả chính quyền. Nhưng tự do như thế không biểu thị cho ta phải làm gì với nó cả. Sartre từng lên án thái độ tự do tiêu cực đó, coi nó như một thảm hoạ: con người bị lên án vì tự do, nhàn rỗi (man is condemned to be free) !

Tương phản với tự do tiêu cực, phủ định, tự do tích cực hiểu theo định nghĩa của chủ nghĩa lãng mạn (Romantism) như ở Đức, là sự tự do mà qua đó, ta tự hỏi: tự do nhưng tự do để làm gì ? Tức là một thứ tự do hướng tới hành động/mục tiêu cụ thể: tự do để hoạch định cuộc sống, tự do để sáng tạo, nhất là về mặt nghệ thuật v.v…

Phân tích cho cùng, phải chăng con người thực sự có tự do tuyệt đối trong mọi lựa chọn để hành xử và quyết định hướng đi của đời mình; không bị ngăn cấm hay giới hạn bởi các chế độ luật lệ hay định chế của xã hội ? Hay định mệnh đã an bài mà ta chỉ là cỗ máy bị điều khiển ?

Định mệnh hay số mệnh (fate) là khái niệm tồn tại lâu đời trong mọi văn hoá – cả Đông và Tây. Thuyết định mệnh (fatalism) cho rằng chúng ta, mỗi người đều có một số mệnh riêng, đặc thù: hướng đi, sinh mệnh, nội dung và phẩm chất đời sống của mỗi cá nhân hoàn toàn bị quyết định và chi phối bởi số phận nhất định. Tin vào số mệnh là tin rằng mọi biến cố xảy ra (thiên tai, nhân tai, lành/dữ, hên/xui...) – dù trong vũ trụ hay ở cấp độ cá nhân mỗi người, đều đã được định đoạt, sắp xếp bởi những siêu ngoại lực huyền bí vượt ra khỏi quyền hạn của con người; rằng con người hoàn toàn bất lực (không thể tự quyết hay thay đổi định mệnh bằng nỗ lực cá nhân) trước số mệnh của mình, thậm chí ngay cả khi ta mơ hồ học biết về định mệnh của mình như nhân vật Oedipus trong bi kịch đại trường thi nổi tiếng (Oedipus the King) của Sophocles của văn hoá cổ đại Hy Lạp mà Nietzsche vắn tắt đề cập tới trong Nguồn Gốc của Bi Kịch.

Con người cao thượng đó không phạm tội – đó là sự kiện mà nhà thơ (Sophocles) thâm trầm nhắn nhủ cho ta: xuyên qua mọi hành động của Oedipus mọi luật lệ, mọi nguyên lý trật tự tự nhiên, đúng hơn, một thế giới luân lý sụp đổ (BT 9).

[B]ậc hiền triết đó (Oedipus) là người đã hoá giải được khúc mắc bí ẩn của thiên nhiên - của quái thần sphinx huyền bí – cũng chính là người phá vỡ qui luật tự nhiên linh thiêng nhất khi ông ta ám hại cha mình và lấy mẹ của mình (BT 9).

Tri thức minh triết (knowledge of wisdom) – khai mở được những biện chứng huyền bí của cuộc đời đôi khi là tai hoạ nguy hiểm ! Nietzsche kết luận, đó là “sự khôn ngoạn, minh triết theo tinh thần Dionysys” - Dionysian wisdom (BT 9): bản chất của đời sống là huỷ hoại nhưng cũng đầy sáng tạo !

Tuy là quan niệm phổ quát nhưng định mệnh là khái niệm mơ hồ. Hãy lấy trường hợp triết lý định mệnh trong truyện Kiều làm dẫn chứng. Nguyễn Du, ngay trong phần mở đầu của thiên trường thi:

Trăm năm, trong cõi người ta,

Chữ tài, chữ mệnh, khéo là ghét nhau.

Đâu là con đường thiên lý hay nhân lý hay mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên ? Triết lý định mệnh của Nguyễn Du gần như không dứt khoát và tự mâu thuẫn:

Khi thì thiên định tuyệt đối:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân.

Bắt
phong trần, phải phong trần,

Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.

Lúc thì còn tuỳ vào hành xử của ta:

Đã mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa.

Thiện căn ở tại lòng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài !

Phải chăng Nguyễn Du đã hàm ngụ rằng hễ con người biết sống phải đạo, tức là hành xử theo tự do lựa chọn của cá nhân, có thể thay đổi được định mệnh của mình ?

Trong giáo thuyết Kitô giáo, nan đề này cũng không thể được lý giải tới mức thỏa đáng, khả dĩ chấp nhận được trên căn bản lý luận, nếu không muốn nói là mâu thuẫn. Kitô giáo tin rằng mọi sự đều nằm trong sự quan phòng của Thượng đế – qua một dự án vĩ mô (a master plan). Nhưng đồng thời, lại tiến cử ý niệm tự do cá nhân (ý chí tự do ở trên); cho rằng con người và số phận của hắn hoàn toàn tùy thuộc vào nỗ lực và hành xử của cá nhân chủ thể, trên căn bản rằng con người có tự do và phải chịu trách nhiệm về hậu quả của những hành vi của mình. Sai lầm thứ nhất của lập luận này là giả định Thượng đế có một chương trình hay dự án vĩ mô; tức là Thượng đế phải hoạch định (giống như con người – khả dĩ thành công). Sự kiện này mâu thuẫn với định nghĩa ở trên rằng Thượng đế với thuộc tính là toàn năng, toàn trí: chỉ con người vì khả năng hạn định mới cần phải sắp xếp, chuẩn bị và hoạch định mà thôi; Thượng đế thì không (hiểu theo định nghĩa) ! Sai lầm thứ hai ở chỗ rằng hai thực tại này (Thượng đế quan phòng và tự do cá nhân) không thể dung hạp lẫn nhau: hoặc con nguời có tự do hoàn toàn hay mọi sự đều do ở sự quan phòng, tiền định của Thượng đế.

Đạo Phật từ chối trả lời những vấn nạn về định mệnh ở trên; cho rằng không cần thiết hay thực tiễn. Huyền thoại kể lại rằng khi Gotama (Phật) được hỏi về thân phận khổ đau của kiếp người, ngài đã trả lời gián tiếp bằng sự so sánh với tình trạng của bệnh nhân như sau: khi bệnh hoạn thì lo tìm thuốc chữa trị chứ không ai tra hỏi ý nghĩa tại sao mình bệnh hay lý giải suông. Thế thôi.

Vấn đề tự do và định mệnh là những chủ đề quan trọng và nhạy bén đối với Nietzsche. (Bởi từ kinh nghiệm bản thân, Nietzsche đã chứng nghiệm bi kịch khốc liệt về cái chết của người cha và em trai sơ sinh của mình ngay khi còn là cậu bé ở tuổi hồn nhiên). Mặc dù phần nào chia sẻ với những nhận thức phổ thông trên về tự do và định mệnh, nhưng quan niệm của Nietzsche về tự do và định mệnh gần như rất khác biệt với những quan niệm trên – có thể nói là lạc quan và tích cực.

Một quan niệm chung cho rằng tự do là không bị ràng buộc hay bị giới hạn nào cả: chẳng hạn như bởi mệnh lệnh luân lý, đạo lý, pháp luật, hay điều kiện tự nhiên. Nietzsche xem đó chỉ là vọng tưởng – một thứ tự do không hiện hữu. Nietzsche chắc chắn cũng sẽ phản đối luôn cả khái niệm tự do tuyệt đối của Sartre. Đối với Sartre, một cách nhất thiết, ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình vì ta tuyệt đối có tự do lựa chọn và hành xử; kể cả tình huống khi tưởng chừng như ta không có lựa chọn nào cả. Quan niệm của Sartre, theo Nietzsche là siêu thực. Sartre quên đi rằng trong cùng một hoàn cảnh, mỗi cá nhân có thể phản ứng và lựa chọn khác nhau tùy thuộc ở bối cảnh, điều kiện nhất định (gia phả sinh trưởng, giáo dục, điều kiện thể chất, văn hoá,tôn giáo, chủng tộc, thế hệ, thời đại v.v…). Nhưng tại sao ta lựa chọn thế này thay vì thế kia – tất cả còn tuỳ thuộc vào những giới hạn trên; tức là ta hoàn toàn không có tự do tuyệt đối. Tỉ dụ, quan niệm đạo lý của người phụ nữ trong xã hội Nho giáo “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, có lẽ thời nay không còn ai chấp nhận; hay nếu tôi sinh ra trong một gia đình đạo Công giáo, suy nghĩ và lựa chọn của tôi có lẽ sẽ khác với trường hợp sinh trưởng trong môi trường gia giáo của đạo Phật v.v…

Tóm lại, tự do là tương đối; tự do luôn hàm ngụ những giới hạn tự nhiên hay nhân tạo mà Nietzsche đồng ý với Goethe. Nietzsche chia sẻ quan điểm của phong trào tự do lãng mạn rằng tự do phải là tích cực (phản ứng lại quan niệm đạo lý của Kant qua nguyên lý phổ quát hướng dẫn bởi lý tính). Tự do theo mô hình của Nietzsche là tự do trong giới hạn (freedom within limitations). Nó là điều kiện cần thiết, không chỉ cho tiến trình hình thành nhân cách cá nhân mà còn là để sáng tạo nghệ thuật đóng góp, thăng tiến và đa dạng hoá văn hoá nhân loại. (Không gì ngạc nhiên rằng những tác phẩm văn nghệ tuyệt vời thường được sáng tác trong tù ngục, hay những bản tình ca bất hủ được viết ra bởi con tim đau khổ, khắc khoải thất tình – có giá trị thuởng ngoạn hơn; cũng vậy, những vần thơ lục bát với luật lệ khắt khe vẫn hay hơn thơ tự do kém ràng buộc ! )

Nietzsche tin rằng mỗi người đều có một định mệnh nhất định. Nhưng phải hiểu thế nào khái niệm định mệnh, theo Nietzsche ? Trong tác phẩm cuối cùng (chính thức do Nietzsche thoả thuận xuất bản) của mình – Đây là Người, Nietzsche viết:

Công thức của tôi cho khả tính vĩ đại của nhân loại là amor fati (Nietzsche sử dụng La ngữ, có nghĩa là yêu lấy định mệnh của ta): tức là ta không muốn gì khác biệt cả, không ở tương lai, không ở quá khứ, hoàn toàn không ở vĩnh cửu. Dù là miễn cưỡng chấp nhận, hơn kém vẫn là trốn tránh nó [định mệnh] - [khi phải] đương đầu với thực tại tất yếu, mọi lý tưởng đều là ngụy trá - vậy hãy yêu lấy nó [định mệnh] (EH, Why I Am So Clever, 10).

Có rất nhiều hàm ngụ trong đoản văn trên của Nietzsche. Trước hết, để hiểu quan niệm của Nietzsche về định mệnh, hãy bàn về ý nghĩa của nó qua nhóm từ “thực tại tất yếu” ở trên. Mỗi người sinh ra đều có một lịch sử nhất định – lịch sử cá nhân; tức là sự hiện hữu của ta được xác định bởi một không gian và thời gian cố định; ta có thể ý thức về sự hiện hữu của mình nhưng nhất quyết sự hiện hữu của ta không phải do sự tự do lựa chọn của ta; sự kiện ta sinh ra trong một khung cảnh nhất định, chẳng hạn gia đình, gia tộc, chủng tộc, văn hoá cũng như giới tính, hình dáng thể chất v.v…hoàn toàn không do ta quyết định. Nói cách khác, ta không thể thay đổi lịch sử cá nhân của mình. Đó là định mệnh của đời ta. (Đây là lý do tại sao Nietzsche chủ trương tự do trong giới hạn ở trên). Nhưng nếu đã không thể thay đổi được nó, phải chăng, thay vì miễn cưỡng chấp nhận số mệnh, tốt hơn, hãy “yêu lấy định mệnh của mình”; “không muốn gì khác biệt cả” (dĩ nhiên là ta muốn cao hơn nếu mình thấp nhưng đó là điều bất khả thể. Mọi lý tưởng nhằm biện minh cho thân phận nghiệt ngã của con người, theo Nietzsche, chỉ là “ngụy tạo”, siêu thực. Nietzsche gọi đó là “mặt nạ của Apollo” - Apollonian mask (BT 9). Apollo là thần biểu tượng cho lý trí. Những nỗ lực và tham vọng (như Plato hay Kitô giáo) nhằm để biện minh những thực tại đau khổ của cuộc sống bằng sự lý giải của lý tính, chỉ là âm mưu che dấu sự thật phũ phàng trên - không thực sự giải thích hay chỉ là lý giải suông (explain away). Nói gọn, đó là chiếc mặt nạ Apollo.

Một sự kiện quan trọng cần được xác định ở đây rằng đối với Nietzsche, thân phận và sự hiện hữu của ta chỉ là hệ quả ngẫu nhiên (random) của tiến trình vận hành vũ trụ; ngược lại, theo Kitô giáo, đó là do sự quan phòng, tiền định và “ân sủng” của Thượng đế. (Nietzsche phần nào chịu ảnh hưởng bởi thuyết tiến hoá của Darwin, dù Nietzsche không hoàn toàn đồng ý chủ thuyết này).

Thế gian đầy rẫy những tai biến, thảm hoạ và sự ác. Dù cho ta có vọng tưởng một thế gian lý tưởng “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành”, “Ông Trời có mắt” v.v… thiên nhiên vẫn vận hành; vẫn vô tâm, vô tình như “see no evil hear no evil ”, không một mảy may đáp ứng tới nguyện vọng của ta.

Đối với Aristotle của Hy Lạp cũng như Nguyễn Du của Việt nam, số phận tai ương sở dĩ xảy ra là do lỗi của cá nhân với một khuyết điểm nào đó (vì bất luận lý do nào). Chẳng hạn, Thúy Kiều phải chịu số phận lưu lạc nơi chốn hồng lâu bởi nguyên cớ "hồng nhan bạc phận" của nàng. Thực tế không phải vậy: tai hoạ có thể xảy ra cho bất cứ ai – dù ở hiền hay dữ, tốt hay xấu. Oedipus của Sophocles không chỉ là vị vua anh minh, quả cảm, tự quyết và tự tin mà còn bậc minh triết (giải đáp được sấm ngữ của quái thần sphinx), cứu vương quốc Thebes khỏi dịch hoạ. Nhưng định mệnh đã theo kịp Oedipus bằng thảm kịch khủng khiếp nhất trên đời, cho dù Oedipus đã từng được cảnh giác và luôn luôn tìm mọi cách để chạy trốn nó: Oedipus sau cùng đã giết cha mình (Laitus) và lấy mẹ mình (Jocasta) (Oedipus hoàn toàn không biết đó là cha mẹ ruột của mình vì bị bỏ rơi làm con nuôi cho gã nô lệ; và ngay cả Laitus cũng được cảnh cáo trước rằng vua sẽ bị ám hại dưới ban tay của con trai mình, sau khi tham khảo sấm ngôn ở đền thờ Apollo tại Delphi).

Định mệnh thường là khốc liệt. Nhưng cho cùng, sở dĩ nó xảy ra là do chính bàn tay đưa đẩy của ta, cá tính hành xử của ta: Kiều tự nguyện bán thân để chuộc cha mình; Oedipus khăng khăng muốn biết sự thật (Ai là thủ phạm giết vua Laitus) v.v...Sartre như đã bàn ở trên, có lẽ đúng khi cho rằng ta có tự do tuyệt đối để lựa chọn một thái độ nào đó (chẳng hạn phản đối, đồng thuận, im lặng, bất cộng tác v.v...) trước một tình huống nào đó, và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của mình. Nhân vật Sisiphus trong tiểu luận Sisiphus của Camus (dựa theo huyền thoại của cổ Hy Lạp) bị Thượng đế phạt lưu đày trần thế bằng một hình phạt có thể nói là phi lý nhất trong mọi hình phạt. Sisiphus hằng ngày phải đẩy tảng đá lên đỉnh núi nhưng rồi sẽ phải thả nó lăn xuống chân núi trở lại; sau đó phải lập lại động tác như thế cho tới mãn đời – một hành vi vô nghĩa vì nó không phục vụ một mục đích nào cả. Sisiphus nổi loạn, phản kháng sự thách thức này của Thượng đế (cuộc đời vô nghĩa – không thể lý giải). Nhưng thay vì nổi loạn bằng thái độ bất cộng tác như lẽ thường, Sisiphus đã lựa chọn tham dự vào "trò chơi của định mệnh", tiếp tục công việc khiêng đá ở trên; khác chăng là hắn vận chuyển tảng đá một cách sáng tạo và quyết tâm tìm ra một ý nghĩa nào đó cho mình; thách thức lại hình phạt phi lý ở trên.

Như vậy, phải chăng cá tính của ta là định mệnh
của ta – your character is your fate (The Art and Thought of Heraclitus, aphorism CXIV, bản dịch của Charles Kahn), như Heraclitus đã từng khám phá ? Nietzsche hoàn toàn đồng ý như vậy !

Làm thế nào để Nietzsche có thể hoá giải biện chứng mâu thuẫn này khả dĩ ta có cơ hội thăng tiến và phát triển nhân cách, cá tính của mình ? Không như chủ nghĩa hiện sinh với khẩu hiệu hãy là mình (be yourself) , hãy sống cho đúng với bản chất uyên nguyên (authentic life) của mình, Nietzsche muốn ta sống tích cực hơn bằng phương châm hãy trở nên chính mình (become who you are) ! Phương châm trước (rất quen thuộc trong hướng giáo dục ở Mỹ) hàm ngụ tiêu cực, giới hạn năng lực phát triển phong cách cá nhân; cái sau, nói lên tính năng động, khả năng và tiềm lực khai hoá và sáng tạo của mỗi cá nhân trong tiến trình hình thành nhân cách – dù trong hoàn cảnh, điều kiện hay thân phận nào. Nietzsche cổ vũ thuyết thượng nhân (overman) không chỉ bao hàm chinh phục mọi đối tượng ngoại giới kiềm chế hay trở ngại cho việc thăng tiến ở trên mà còn là khắc phục bản thân với những khuynh hướng bạc nhược và an phận – những đặc tính điển hình trong mỗi cá nhân. Nói khác đi, mệnh lệnh sống của Nietzsche là hãy "âu yếm lấy đời mình", lấy phận phận, định mệnh của ta. Chấp nhận cuộc đời đích thực đúng như cuộc đời là thế – không cộng không trừ, không thêm không bớt; thay vì xuyên tạc, bóp méo thực tại mà Nietzsche phê phán là những lý luận “lắt léo tơ vò” (coweb spinning) – sản phẩm của triết gia hay thần học gia kinh điển (WP 252).

Nguyễn Thanh Giản

(Nguồn: http://www.diendan.org)


Xem online : Kỳ 3