Menu

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > PHỤ LỤC PHẦN BỐN (triết học Hy Lạp)

PHỤ LỤC PHẦN BỐN (triết học Hy Lạp)

Chủ Nhật 7, Tháng Mười Hai 2008

A - VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG MÔNG MUỘI

a) Tại sao chúng ta nghiên cứu ?

Sở dĩ ta nghiên cứu tư tưởng mông muội vì nó là nguồn gốc mọi thứ mê tín khác. Ngoài ra nó có giá trị vì là bước đầu phân biệt giữa người với vật, nó đánh dấu quan niệm về giá trị đầu tiên của loài người. Dù mọi người đều quan niệm mình là một con vật, nhưng sự thành lập quan hệ truyền thống - giúp đỡ, kết hôn, chôn người, trả thù - quyền lợi, bổn phận giống nhau - đã chứng tỏ những người trong thị tộc đã quan niệm quan hệ với nhau ở một mức cao hơn quan hệ tự nhiên. Từ đó những kỷ luật thị tộc ngày càng được xác định. Vì các triết gia duy tâm và tôn giáo căn cứ vào đó quyết đoán rằng loài người là sản phẩm của một đấng siêu nhiên: phần giá trị của con người có một nguồn gốc thần bí, con người là con người nhưng xem mình là con vật chứng tỏ một hiện tượng duy tâm.

Do đó giải quyết vấn đề này có liên quan tới vấn đề duy vật, duy tâm, và liên quan tới những vấn đề tư tưởng hiện đại (dẫn tới dân tộc, quốc gia hẹp hòi...). Trong vấn đề dân tộc thuần túy hẹp hòi có phần dân tộc chân chính xuất phát từ yếu tố tổ tiên, nghiên cứu vấn đề tư tưởng mông muội sẽ giúp ta xác định tư tưởng đó.

b) Cơ sở của tư tưởng mông muội

Đặc điểm của vật tổ là nó một quan niệm chung cho cả giống, nhưng mỗi cá thể có thể đại diện cho cả giống ấy. Trong lễ đồng hoá để củng cố con người chân chính, củng cố bản chất của mình, thị tộc họp nhau ăn một con thuộc giống vật tổ (khác với sau này, không đồng hoá mà sùng bái thần thánh). Trong những lễ đôi khi cũng có đổ máu (đến tuổi trưởng thành làm lễ, bị xẻo thịt) nhưng không phải là hiến tế của sùng bái.

Các nhà duy tâm có thể cho rằng nguyên thủy con người là duy tâm: quan niệm cuộc đời chân chính của con người không là cuộc sống thực trong thiên nhiên mà ở trong quan niệm vật tổ, một yếu tố có vẻ siêu hình, thần thoại. Nhưng thực ra, quan niệm vật tổ có vẻ duy tâm ấy chỉ là phản ánh đời sống thực tế. Những đặc điểm của vật tổ chứng minh điều đó: đời sống cộng đồng cùng làm cùng ăn, không phân tách thành cá thể, phản ánh vào tính chất giống và cá thể lẫn lộn của vật tổ. Tính chất đồng hoá không sùng bái phản ánh đời sống bình đẳng. Không có người bóc lột của sinh hoạt. Có người hỏi tại sao sự phản ánh của quan hệ liên đới cộng đồng rất thiết thực lại thiêng liêng hoá đi như vậy? Cái này do sự sản xuất còn thô sơ nên con người có một trình độ hiểu biết về sự sản xuất còn kém cỏi, do đó đều mơ hồ hoá những kinh nghiệm thiết thực của mình.

Những lễ lạc chẳng những phản ánh sự kém cỏi trong trình độ sản xuất mà còn phản ánh mâu thuẫn trong quan hệ xã hội: quan hệ thù hằn chém giết giữa các tập đoàn sản xuất, sự phân chia khu vực săn bắn tức là quan hệ tranh giành giữa các thị tộc, tập quán đổ máu trong các buổi lễ có thể là sự phản ánh của hiện tượng đổ máu trong xã hội. Những buổi lễ trưởng thành, sự đổ máu biểu hiện sự thiêng liêng hoá người thanh niên, từ người, anh đó đã biến thành vật tổ.

Tóm lại, tính chất mê tín chẳng những phản ánh trình độ thấp kém của sự sản xuất mà còn phản ánh cả quan hệ cộng đồng hẹp hòi bấy giờ (vì giới hạn hẹp hòi của tính chất cộng đồng nên yếu tố vật tổ được tuyệt đối hoá, để tuyệt đối hoá quan hệ và quyền lợi thị tộc).

[- Yếu tố chân chính trong tôn giáo vật tổ là ở chỗ nó bao gồm ý thức tập thể.
— Vì căn cứ vào kinh nghiệm ít ỏi và thấp kém của sản xuất để giải thích những hiện tượng phong phú của thiên nhiên nên nó mang tính chất huyền hoặc thần bí.
— Trong xã hội mông muội, sự lãnh đạo sản xuất còn thô sơ, có thể giải quyết trong tập thể, chưa để thành nhu cầu một cá nhân ra gánh vác.
— Tác phong bóc lột xuất hiện trước, đến một trình độ, nó tổng kết thành chế độ. Sự sùng bái xuất hiện với tác phong bóc lột. Sở dĩ loài người sùng bái quan hệ bóc lột vì nó có kết quả thiết thực.
- Hiện nay, những tư tưởng hẹp hòi bảo vệ những quyền lợi hẹp hòi của mình đi vào đường phản động cũng đi vào con đường mê tín, thần thánh hoá để tuyệt đối hoá.]

B - VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI DÃ MAN

Trong xã hội mông muội, ta thấy tôn giáo có phần tử chân chính là ý thức tập thể sản xuất. Qua dã man, quan hệ sản xuất vẫn là cộng đồng, nhưng bắt đầu xuất hiện những hiện tượng tập trung của cải làm mầm mống cho chế độ tư hữu và xã hội văn minh sau này - xuất hiện những hiện tượng tôn giáo mới, đặc biệt là đạo Linh tinh hay đúng hơn là đạo Tinh linh, cuối cùng là đạo Quỷ thần. Trong quá trình ấy, cũng xuất hiện một giá trị mới: tư tưởng anh hùng và giá trị vinh dự.

[- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội dã man
— Sự phát triển của những tập quán đồng cốt, những lễ vứt của, và những hội kín:
— Tư tưởng anh hùng và ý thức vinh dự.]

Mục đích bài này là phân tích, tìm lấy phần tử chân chính trong tư tưởng anh hùng khỏi những ảnh hưởng mê hoặc trong các đạo Tinh Linh và Quỷ thần hiện nay còn nhiều rơi rớt.

a) Lực lượng và quan hệ sản xuất

Cuối mông muội đã có cung tên, bẫy săn, dao cạo lông và kim khâu quần áo, xã hội đã sản xuất được một số của cải thừa, dự trữ.

Qua dã man, xuất hiện nghề trồng trọt: đồ đan, đồ gốm; đã xuất hiện nghề chăn nuôi, người ta đã định cư, làm nhà và sống thành làng mạc. Với sự phát triển của sức sản xuất và của dự trữ, quan hệ xã hội vẫn trong khuôn khổ cộng đồng nói chung, nhưng xuất hiện nhiều mâu thuẫn: chiến tranh cướp bóc giữa các thị tộc, mâu thuẫn trong nội bộ thị tộc vì bọn tù trưởng có xu hướng tập trung của dự trữ đó. Do đó trong quan hệ cộng đồng đã có mầm mống của quan hệ tư hữu. Trong các gia đình, tộc trưởng đã bắt đầu có nô lệ, và tác phong ấy cứ phát triển song song với thời kỳ dã man để bước sang chế độ chiếm hữu nô lệ.

[Từ quan hệ cộng sản sang quan hệ tư hữu là một quá trình «chiếm công vi tư », trong quá trình đó mỗi tư tưởng xây dựng một tư tưởng riêng để phục vụ cho việc chiếm đoạt đó, phương thuật là khí cụ chiếm đoạt. Những Hội kín là những hội phương thuật. Phương thuật cũng dùng những cái thông thường: dao, lao, lời nói... Phương thuật là một công cụ biện chính cho việc chiếm đoạt - không phải vì người ác, nhưng vì trong xã hội có điều kiện khách quan của sự chiếm đoạt.]

Do hiện tượng chênh lệch tài sản, đã xuất hiện những tổ chức bảo vệ sự chênh lệch ấy, chưa có một nhà nước nhưng có những Hội kín của các chiến sĩ để cùng nhau đi cướp các thị tộc khác, và đe doạ nhân dân trong thị tộc (để cướp các thị tộc khác và để tập trung tài sản trong thị tộc mình, người nào có tài cướp bóc nhất sẽ là chúa của Hội kín) - chiến tranh trở thành một phương thức sản xuất. Đó là mầm mống của Nhà nước chiếm hữu sau này. Những Hội kín đó tổ chức dưới hình thức tôn giáo.

b) Những đạo Tinh Linh và Quỷ thần

Đạo Tinh Linh là bước thứ hai của vật tổ; nó mang một tính chất mới: cá tính phản ánh tính chất cá thể hoá của tài sản xã hội. Quan hệ giữa người và con tinh phản ánh quan hệ xã hội không còn là quan hệ vật tổ bình đẳng đồng hoá mà quan hệ giữa một nhóm người hay một người đồng nhất với con tinh, có uy quyền đối với thị tộc. Sự «sùng bái một bên xin, một bên ban» đồng nhất ấy thể hiện bằng đồng cốt, một «lễ nhảy thiêng» trong đó các chiến sĩ hay gia trưởng tiếp thu được những uy quyền của con tinh. Tôn giáo phản ánh quan hệ sản xuất và trở lại củng cố quan hệ sản xuất. Lễ tục đồng bóng có thể là lễ cá nhân để thăng cấp bậc trong hội chẳng hạn, tục vứt của để gây uy tín (cho của cải hay phá của cải, lên mặt «ta đây không cần»), do đó người làm lễ thu được một tính chất mới, có uy quyền thống trị, nhất là có uy quyền tập trung của cải. Do đó sinh ra sự cạnh tranh giữa các hội, các nhóm trong thị tộc, hay các thị tộc với nhau hoặc các tướng trong thị tộc với nhau, do đó nảy sinh ra quan hệ ngôi thứ (người nào vứt của nhiều, nhóm hay thị tộc nào vứt của nhiều nhất sẽ làm chúa, và có quyền chiếm hữu của cải; người, nhóm hay thị tộc nào không đáp lại được sẽ bị mất mặt, nhiều khi mất của cải và bị làm nô lệ nữa). Tôn giáo này xây dựng, bảo đảm và củng cố quyền tập trung của cải.

[Trong đạo yêu tinh chưa có sùng bái, chỉ có lợi dụng sợ sệt, đồng hoá trong lễ dâng.
— Tinh khác vật tổ ở: trừu tượng hơn, có cá tính, có ngôi thứ phản ánh thực tế xã hội, nó củng cố uy tín và cá nhân tù trưởng. Có sự tranh giành ngôi thứ.
— Những hình thức này hiện nay còn vết tích trong xã hội Việt Nam: mổ bò, mổ trâu thết làng của bọn phong kiến, thi nhau mở đám, mở hội to.
— Trong thực tế, bọn tù trưởng lợi dụng uy tín của Tinh để chiếm đoạt của cải - do đó có sức mạnh. Nhưng trong tư tưởng, người ta quan niệm ngược lại: nhờ đồng hoá với Tinh nên hắn có sức mạnh và khả năng tập trung của cải.

c) Tư tưởng anh hùng và ý thức vinh dự

Do đó, ý thức tập thể tập trung vào một số cá nhân. Nó có phần nào chân chính vì cá nhân đó có nhiệm vụ tổ chức sản xuất, xây dựng sinh hoạt tập thể - cá nhân đó tượng trưng cho cả tập thể. Những tư tưởng anh hùng tập thể ấy bị xuyên tạc đi, những anh hùng ấy đã dùng đặc quyền để chiếm hữu của cải, biến thành anh hùng cá nhân, như vinh dự chân chính biến thành anh hùng mơ hồ. Trong suốt những giai đoạn sau của lịch sử, tư tưởng anh hùng luôn phát triển cùng với những hình ảnh tượng trưng cho anh hùng đó (từ gia trưởng, tộc trưởng tiến lên chúa, vua, hoàng đế). Đồng thời con tinh ấy càng ngày càng được đề cao, song song [với] anh hùng (tinh của đơn vị nhỏ càng ngày càng phi thường, đặc biệt, tuyệt đối).

[- Tù trưởng đại diện cho sức mạnh của tập thể mang một mặt nạ để cướp của dự trữ của thị tộc thành của riêng. Khả năng đó ở cái mặt nạ, mất đi, tù trưởng không có quyền đó nữa.]

[- Vai trò anh hùng chân chính khi cá nhân đó dùng danh nghĩa ấy để làm việc cho tập thể mình đại diện, những khi cá nhân đó làm việc cho cá nhân mình trong phạm vi danh nghĩa ấy thì vai trò anh hùng
đã bị xuyên tạc.]

C - PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO QUỶ THẦN

a) Xây dựng thần quyền trong xã hội thị tộc tan rã.

b) Xây dựng đức (công lý, bác ái) trong chiếm hữu nô lệ sơ kỳ.

c) Xây dựng tôn giáo lý tưởng duy tâm trong công cuộc xây dựng quan hệ của sự chiếm hữu nô lệ sơ khai.

Quan niệm ông Thần: có quyền - tốt - số người trên một linh giới lý tưởng ngoài thực tế và quan hệ giữa người và thần cũng đi từ thực tế (xin của, xin được mùa...) tiến lên quan hệ lý tưởng (tôn sùng, kính mến), góp phần tích cực trong tiến hoá lịch sử, đồng thời phản ánh thực tế là quan hệ áp bức bóc lột trong xã hội, và còn rơi rớt trong tư tưởng chúng ta.

a) Xây dựng thần quyền trong xã hội thị tộc tan rã

Bấy giờ sản xuất đã lên tới việc dùng trâu bò kéo cày, dùng ngựa lừa, trâu bò để thồ (thế kỷ IV trước CN) ở Lưỡng Hà và Ai Cập, đã xuất hiện bánh xe, thuyền buồm, đúc đồng (đồng đỏ trước rồi sau là đồng xanh), lò gốm phát triển và Lưỡng Hà có nghề đun gạch.

Nền kinh tế tự túc tự cấp thời Đá mới không tồn tại mãi được. Sự trao đổi phát triển, sức sản xuất phát triển, chiến tranh cũng phát triển và có nhiều khả năng dùng nô lệ, đặc biệt trong công nghiệp và thương mại.

Đầu tiên những đất công của công xã biến thành điền trang, tù trưởng thành quý tộc đại trang chủ. Tù trưởng sử dụng quyền lực của con tinh nhập vào mình để biến thành quí tộc. Nhưng tinh nhập vào một cách nhanh nên tinh phải hoá thành thần: ở Lưỡng Hà, nó thể hiện dưới một hình thức nhà tu trong đó thần làm bá chủ cả vùng. Tinh đã biến thành thần có một quyền hành rộng lớn khắp cả vùng, có đủ khả năng tổ chức một vùng rộng lớn có qui mô. Đại trang biến thành nhà tu, và chủ nhà tu quản trị tất cả - theo nhu cầu của sự phát triển của thị tộc đòi hỏi một qui mô rộng lớn và có tổ chức. Đây là một hình thức quan lại đầu tiên, nhưng là một tổ chức thuộc tăng lữ. Tổ chức này phục vụ cho đòi hỏi của sức sản xuất, và bảo đảm sự áp bức của thống trị đối với nô lệ và thị dân - ông Thần có một uy quyền tuyệt đối. Ở Lưỡng Hà còn những di tích về thế kỷ IV trước CN: những trung tâm công nghiệp cung cấp nông cụ cho các địa phương có những nhà tu, đồng thời cũng bóc lột và nộp tô.

Ta thấy thần quyền chỉ là phản ánh thực tại xã hội. Phần chân chính của nó phản ánh sức mạnh của tổ chức đại qui mô, nhưng sức mạnh ấy lại bị chiếm đoạt. Ở Lưỡng Hà, quan niệm đó chưa qui về một ông thần nhưng là cả một tập đoàn tăng lữ (đó là sự biến hình và phát triển của hội kín), lợi dụng danh nghĩa ông Thần (tuyệt đối) đó để quản trị cả khu vực rộng lớn của phạm vi ông Thần.

[- Sự áp bức không phải do chủ quan mà do phát triển tất yếu của sức sản xuất. Gian ác không phải tự chủ quan mà do điều kiện kinh tế qui định.

— Tập đoàn tăng lữ có một người chỉ huy. Bọn này luôn phải thỉnh thị ông Thần, chứ không như ông vua sau này chỉ làm lễ 1 lần, và dựa theo ý mình không phải bói toán thịnh trị.]

b) Thần đức trong chiếm hữu nô lệ sơ kỳ

Nhưng hình thức này đến lúc cũng kết thúc. Trong xã hội ấy xuất hiện những thương gia (tiểu, trung, phú) do sự phát triển của sản xuất, họ chống đối với thần quyền của tăng lữ. Ở Lưỡng Hà, vào thế kỷ III trước CN, có một cuộc đấu tranh của thứ dân (người dân tự canh, tiểu chủ tiểu thương, đại thương) chống quyền thống trị của tập đoàn tăng lữ quí tộc, để xây dựng một hình thức khác vẫn trên cơ sở chiếm hữu nô lệ nhưng rộng rãi hơn về quyền hành cũng như chiếm hữu đối với thứ dân - không kể nô lệ. Họ tách rời với bộ phận quản trị (an ninh trật tự và sở hữu), để bảo vệ quyền của thứ dân, dùng một người trong bọn tăng lữ đưa lên làm vua chống lại với tập đoàn tăng lữ. Nó có ý nghĩa là một hành động đem lại pháp lý cho quyền sở hữu của tư nhân (chủ nợ) - trước kia lợi dụng uy thế bá chủ ông thần và có quyền cướp bất cứ của ai. Bây giờ đây, với tính chất của thứ công lý bảo vệ quyền lợi thứ dân ấy, ông Thần cũng tiếp thu được những tính mới: ông Thần toàn quyền trở lên ông Thần công lý (cố nhiên chưa công lý đối với nô lệ mà chỉ giữa quí tộc và thứ dân thôi). (Nhưng trong quan niệm bấy giờ người ta lật ngược lại, và cho rằng sự đảm bảo công lý của trật tự là do ông Thần bày vẽ cho. Sở dĩ có sự lật ngược ấy vì thứ dân vẫn là người có, hoặc có quyền có nô lệ, nên đối với nô lệ nó thuộc thống trị, cùng đi với quí tộc, tăng lữ, nên những đặc tính mà nhân dân xây dựng bị sáp nhập vào Thần quyền đại diện cho quyền thống trị). Đồng thời ông thần cũng tiếp thu được tính chất bác ái (tính chất này ở Lưỡng Hà ít, vì quan hệ căn bản là cống nạp và mua chuộc, có nhiều tính chất thiết thực - chứ không như ở Ai Cập). Ta thấy nhân đức đã bị lật ngược thành Thần đức. Thần quyền được củng cố và phát triển vì các vua mở những cuộc xâm lăng (Sargon ở trung tâm Lưỡng Hà đã chiếm cả Lưỡng Hà lập đế quốc đầu tiên thời Cổ đại). Thần quyền của ông được phát triển và các thần khác bị sáp nhập vào đó. Phản ảnh thực tế xã hội nên Thần quyền phát triển và thống nhất. Đó là xu thế để phát triển tới một ông Thần thống nhất cho toàn thể nhân loại, xoá bỏ mọi mâu thuẫn giữa các thị tộc, duy trì công lý và ban ơn cho một loại. Ý nghĩa đó rất chân chính và đẹp đẽ, nhưng đã biến thành những quyền hành mơ hồ có cơ sở trong thực tại áp bức bóc lột của xã hội. Một lần nữa, tính chất của nhân dân bị áp bức và lao động đã bị đảo ngược và sáp nhập vì bọn thống trị áp bức, thành những cái mơ hồ, huyền bí.

c) Xây dựng tôn giáo lý tưởng duy tâm

Trước Gia-tô giáo, điển hình của tôn giáo lý tưởng Tây phương tiêu biểu là tư tưởng Ai Cập. Bắt đầu phát triển khoảng năm 3300 trước CN, triều vua Menès. Ở Ai Cập, khoảng tháng 5 - 9 có lụt lớn - nhiều phù sa. Để phân phối đều phù sa, người ta đã xây dựng những công trình thủy lợi. Họ đào thành những khu vuông có các vương quốc làm bá chủ, sau chia thành hình thức các quận (nomes). Mỗi quận có thần riêng, và ở Ai Cập thường là những Thần giống vật. Đó có thể là di tích của vật tổ.

Đến sông Nil, đã có một chính quyền tập trung xây dựng trên chiếm hữu nô lệ. Để biện chính cho triều đình ấy, đã có một hệ thống tư tưởng được xây dựng, và nó cũng biến chuyển qua các thời đại. Nó có 3 giai đoạn chính:

— Dựa vào truyền thuyết Osiris - lúc chính quyền mới xây dựng và kinh đô ở Mamphis. Nhưng dần dần phức tạp hơn. Pharaon chẳng những là cháu Osiris, còn là con Atumkâ. Hai đạo này kết hợp với nhau (năm 2500 - 2300 trước CN).

— Sau các cuộc tranh giành, thủ đô dời xuống Thebea. Thần Râ đồng hoá với hai ông Thần Stah (thần Mamphis) Và Amon (thần Thèbes), đồng thời đồng nhất với Osiris. Stah Amon Ra là vào khoảng Trung ương triều và Tân vương triều (năm 2000 - 1400 trước CN).

— Dưới triều Aménophis IV, có cuộc cải cách quan trọng: đánh đổ các đạo, nhà tu, và phá tượng cũ, sáng tạo một đạo mới: Thần Mặt Trời Aton - trong khoảng 20 năm, sáng tạo được một đạo độc thần -, đó là trường hợp đặc biệt nhất thời cổ đại dù nó chỉ tồn tại trong 20 năm (thế kỷ 14 trước CN).

Bản đồ Lưỡng Hà và cổ Ai Cập

* Theo truyền thuyết, Osiris là vua Hạ Ai, đồng thời là Thần lúa mì và Thần Thiện (dạy văn minh, đạo đức), một hôm bị thần Thượng Ai là Seth âm mưu phá hại (Thần ác, thần của Sa mạc, đêm tối, gió bão). Seth và 72 đồng phạm giết Osiris, bỏ vào hòm vứt xuống sông Nil, nó trôi ra Địa Trung Hải cho tới hải cảng Biblos ở Syrie. Đến đấy gặp một cây thông bao trùm lại, và giấu kín trong mình. Vua Biblos thấy cây to đẹp mới cắt lấy về nhà. Hoàng hậu là Isis đi tìm chồng cùng với quần thần (có Thần chó Anubis và thần chim Thot), tới Biblos tìm được hòm và chồng. Đưa về dùng phép phù thủy làm sống lại, sinh được một con là Horus, cùng với quần thần đánh bại Seth thống nhất Ai Cập.

Các vua Ai Cập sau đều tự xưng là con Horus để biện chính cho việc làm bá chủ Ai Cập. Đồng thời nó còn có ý nghĩa bảo đảm sự bất diệt của các vua Ai Cập, vì được Osiris - đã chết lên làm vua âm phủ - cứu thế. Các Pharaon muốn biểu dương tâm hồn mình bất diệt, đã xây những tháp bất diệt (Pyramides). Lúc đầu chỉ vua - cháu Osiris - có quyền ấy, nhưng về sau những người lân cận học tập câu chuyện, làm lễ đồng nhất với Osiris và cũng bất diệt, đó là bọn cận thần nhà vua (năm 3000 - 2400 trước CN). Nhưng cho tới năm 2000 trước CN, dân chúng cũng được học tập bí quyết Osiris, và tâm hồn cũng bất diệt.

[Ai Cập là một đinh cao nhất trong tư tưởng nhân loại đời Cổ đại, và đã xây dựng nhiều giá trị tư tưởng tốt đẹp]

Đạo Osiris rất quan trọng. Nó là một trong 2 đạo chủ yếu của Ai Cập, nó có tác dụng cứu thế, làm tâm hồn bất diệt bằng cách đồng nhất với Thần Thiện.

Căn nguyên của đạo: miền Bắc Ai Cập nhiều tài nguyên hơn miền Nam, nên kinh tế phát triển và có sự thông thương với Biblos ở Syrie. Khoảng thiên niên kỷ IV, người Ai Cập có một nền công thương phát triển - đem lúa mì đổi lấy gỗ thông của Syrie -, tỉnh thành phát triển. Thượng Ai Cập mới có nông nghiệp, chưa có công thương. Do đó, Hạ Ai Cập chuyển sang nô lệ và thống nhất đất đai nhanh hơn. Osiris là người đã thống nhất Ai Cập, đánh đổ các tư tưởng khác dựa vào lực lượng tỉnh thành. Thường cạnh tên Osiris còn có chữ Zed biểu hiện bằng hình cây thông - Thần của dân các thành phố buôn bán lúa mì và gỗ thông (Thần Lúa mì và Zed). Thần Đạo đức, vì trong một xã hội công thương cần bảo vệ trật tự an ninh, bảo vệ của cải. Trái lại thần Seth ở Thượng Ai Cập có lẽ đang ở thời kỳ bộ lạc, có liên minh phần nào, nhưng nói chung vẫn còn tập quán đi đánh giết cướp của - đại diện thần Ác và Sa mạc, Bão táp (Thượng Ai Cập). Cuộc chiến tranh giữa Seth và Osiris phản ánh chiến tranh Thượng và Hạ Ai Cập. Seth giết được Osiris với 72 đồng mưu, có thể là những tù trưởng Hạ Ai Cập đang chiến đấu nội bộ với Osiris. Phe Osiris thua, xuôi Nil sang Biblos - thành phố đã quen thuộc vì buôn bán -, và được vua Biblos tiếp đón (đưa về nhà). Isis cùng quần thần (cai trị các nomes) sang phối hợp với phe đã chạy sang Biblos về thống
nhất quốc gia. Dưới thời Osiris có 2 thành phần tù trưởng: một bọn tiến bộ đã mua bán lúa mì, sinh hoạt công thương nghiệp với dân thị thành) và một bọn tự cấp tự túc. Sự kiện Isis dùng phép thuật sinh ra Horus chứng tỏ bấy giờ đã có sự tham gia của bọn tăng lữ - đó là một yếu tố rất quan trọng.

Ménès tự xưng là con Horus, vì triều đại của ông xây dựng trong sự đấu tranh thắng lợi giữa bọn quân chủ chiếm hữu nô lệ với bọn quân chủ bộ lạc.

Thời mông muội và dã man, người ta quan niệm người chết rồi tâm hồn còn sống, nhưng không rõ như thế nào và bao lâu. Nhưng từ Ai Cập, đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tâm hồn bất diệt có thể tiêu biểu cho một thay đổi lớn trong lịch sử sản xuất và quan hệ sản xuất. Trước kia sức sản xuất tự nhiên còn ấu trĩ, chưa hệ thống, chưa chắc chắn. Nhưng tới nô lệ với công thương, nông nghiệp hợp lý hoá - có tính toán xây dựng nên những nguyên tắc, lý luận mà họ tin rằng có thể áp dụng mãi mãi (vì đã hợp lý hoá và hệ thống hoá) - quyền sở hữu trở nên vững chắc và họ quan niệm có thể phát triển mãi mãi. Nhà vua là người tập trung quyền chiếm hữu trong tay, nên theo quan niệm bấy giờ, tâm hồn nhà vua tức là quyền chiếm hữu có khả năng vô hạn tất phải bất diệt. Nhưng quyền chiếm hữu nô lệ - khả năng sáng tạo của cải một cách vô tận - lúc đầu chỉ trong tay vua, rồi tăng lữ quí tộc, dần dần phổ biến xuống nhân dân, nên họ cũng được tham gia những buổi diễn kịch Osiris xây dựng tâm hồn bất diệt, nên họ cũng đồng hoá với Osiris và tâm hồn cũng trở nên bất diệt.

Như thế, một lý tưởng duy tâm cũng xây dựng trên quá trình phát triển của chiếm hữu nô lệ; nó có một ý nghĩa chân chính trong thực tế, nhưng cũng có phần tiêu cực duy tâm (đặt sự phát triển tâm hồn ở một linh giới ngoài xã hội loài người) là do quyền chiếm hữu có tính chất thống trị đối với nô lệ.

Người ta gọi đạo Osiris là đạo bí quyết (vì nó có một bí quyết: có thể được cứu thế và tâm hồn bất diệt). Ở Tây phương cổ đại và Cận đông, đạo này được phổ biến nhất cho đến thời La Mã.

[- Lúc đầu quan niệm chết rồi là ma và không đề cập tới vấn đề bất diệt, sau này biến thành linh hồn mới có tính chất bất diệt, bắt đầu cho Pharaon sau phổ biến cho triều đình và toàn dân. Nhưng chỉ trong phạm vi chủ nô. Cho tới Gia-tô, linh hồn bất diệt mới phổ biến tới mọi người.
— Linh hồn biểu hiện quyền tự do và chiếm hữu nô lệ, mất quyền đó là mất linh hồn.
— Giới hạn của thị tộc không có khả năng phát triển mãi. Trái lại quyền chiếm hữu nô lệ có phương pháp có triển vọng phát triển mãi - quan niệm bất diệt:]

* Trong lúc chính quyền Pharaon được xây dựng, một tôn giáo mới nảy nở, tượng trưng quyền tuyệt đối và phổ biến của nhà vua. Sau một quá trình khó khăn để xây dựng, nên bấy giờ nó tự cho một quyền tuyệt đối tượng trưng ở đạo Mặt trời, nó do tăng lữ và chính quyền xây dựng. Họ hệ thống hoá bằng cách dùng mặt trời là Thượng đế. Osiris và Isis đều là con cháu mặt trời. Đây gặp mâu thuẫn: nếu xây dựng như thế, phải làm nhà vua là con mặt trời, nhưng trong 2 tôn giáo, Osiris là cháu mặt trời và vua là cháu Osiris. Giải quyết bằng cách cho Osiris, sau khi chết tâm hồn lên trời. Nó chứng tỏ chính quyền ngày càng đi vào đường độc đoán chuyên chính, càng gắn liền với tăng lữ quan lại, và bỏ xa hạng thứ dân, lúc trước đã xây dựng lên chính quyền mình tan rã dần cho tới thế kỷ XIX trước CN mới xây dựng lại trên cơ sở gần thứ dân hơn. Do đó đi dần đến chỗ thống nhất các vị thần. Những thần nhỏ bị quên đi, nhưng 2 thần lớn vẫn còn lại: Phtah thần Mamphis bị chinh phục, uy tín có phần kém hơn nhưng vẫn được xem như một bộ phận của toàn quốc nên được hợp nhất trong hệ thống Phtah - Amon - Ra. Hệ thống này mang nhiều tính chất tốt đẹp, chứng tỏ chính quyền nhà vua thống nhất ban ơn cho dân, cụ thể là bảo vệ quyền tư hữu tài sản và quyền chiếm hữu nô lệ.

Đạo Osiris ngày càng được nhân dân (chủ nô) tham gia, trở thành một đạo bình dân ngày càng đồng nhất với đạo Phtah - Amon - Ra, chứng tỏ ngày càng có sự thống nhất giữa quyền lợi nhà vua với nhân dân (chủ nô).

* Với sự phát triển ấy, công thương nghiệp phát triển - chiếm Syrie, tới thế kỷ XVI trước CN xưng bá ở Cận Đông. Ngoại thương phát triển, quan hệ kinh tế, văn hoá phát triển, pháp lý quốc tế (công và tư pháp) phát triển. Vua Ai Cập xưng bá chủ thế giới - xây dựng một tôn giáo biện chính cho quyền bá chủ đó. Trong quá trình xây dựng chính quyền thế giới đó, chủ yếu là loại bình dân đại thương với sự giúp đỡ của bọn thương nhân quốc tế, dựa vào bình dân chống bọn quí tộc tăng lữ có xu hướng quốc gia hẹp hòi (đại điền trang tự túc tự cấp) (quyền lợi công thương).

* Tới thế kỷ XIV trước CN, quyền lợi vua - tăng lữ quí tộc đánh đổ tôn giáo cũ, phá nhà tu, đánh đổ tượng thần thánh, nhất là phá tượng Amon (thần Thèbes, tổ tiên của triều đình) - đuổi bọn tăng lữ, tự tạo ra 1 tôn giáo mới. Aton được công nhận là Thượng đế độc nhất đã tạo ra tất cả thiên hạ, không phải của một quốc gia, địa phương mà cho cả thế giới. Aton, tượng trưng cho mặt trời chung cho thiên hạ biện chính quyền bá chủ thế giới của vua Ai Cập, đồng thời duy tâm hoá quan hệ giữa người và thần và đạt sự sùng bái là quan hệ tin tưởng thân mến thay cho quan hệ mua chuộc cũ. Nó tồn tại được hơn 10 năm, rồi vì cơ sở không vững nên sụp đổ và các đạo cũ trở lại. Nó là đỉnh cao nhất trong Cổ đại đã thống nhất nhân loại trong công lý và bác ái - giá trị chân chính. Lịch sử tư tưởng của Ai Cập có tính chất sáng tạo chỉ đến đó là hết, sau này nó trở lại những điều trên.

[Chế độ chiếm hữu nô lệ có 3 giai đoạn lớn:

+ Sơ khai chủ yếu ở Tây Á, phương thức sản xuất chủ yếu còn bị ràng buộc trong tự túc, tự cấp, kinh tế hàng hoá chưa chủ yếu.

+ Giai đoạn 2: Hy La (năm 1000 trước CN), quyền chiếm hữu nô lệ chủ yếu phát triển trong phạm vi kinh tế hăng hoá.

+ Giai đoạn 3: tan rã (năm 500 - 300 trước CN)
— Sự kiện Aton là một đặc biệt của giai đoạn chiếm hữu nô lệ sơ kỳ. Phương thức sản xuất còn trong phạm vi đại điền trang, thành phần thống trị vẫn là quí tộc tăng lữ - cơ sở phân quyền vẫn còn -, cơ sở đa thần.

Trong sơ khai người ta tin tưởng ở công lý, vì đó là do ông thần dạy.
— Phần tiêu cực của tư tưởng này căn bản ở chỗ đề cao cá nhân một cách tuyệt đối, vì nó phản ánh quyền tư hữu cá nhân].

Trần Đức Thảo

(Lịch sử Tư tưởng trước Marx, tr. 153-168)

Xem tiếp: Phần năm: Tư tưởng triết học Hy Lạp


Xem online : Phần bốn: Ý nghĩa của khái niệm thần trong xã hội chiếm hữu nô lệ