Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Triết học > TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC: HEGEL (2)

TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC: HEGEL (2)

Thứ Năm 17, Tháng Mười Hai 2009

Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831)

Chương VII - TÔN GIÁO

Những hiện tượng ý thức bản ngã của tinh thần phát triển mâu thuẫn, đi đến hiện tượng cao nhất là khoa học tuyệt đối hay triết học của Hegel, chấm dứt lịch sử.

Tôn giáo hình thái báo trước triết học Hegel.

Có 3 giai đoạn trong tôn giáo:

1 - Tôn giáo tự nhiên

2 - Tôn giáo mỹ thuật

3 - Tôn giáo linh báo.

Trong quá trình phát triển của nó, tôn giáo thực hiện từng bước cái ý nghĩa của nó, tức là xây dựng một ý tưởng trong đó tinh thần có ý thức về mình. Đó là ý thức bản ngã của tinh thần còn ở trong phạm vi ý tưởng, chưa lên tới phạm vi lý tính, nhưng ý tưởng đó có giá trị lý tính, vì trong phạm vi tưởng tượng, nó đã tượng trưng cho ý thức bản ngã của tinh thần. Sự phát triển của ý tưởng đó đi từ ngoài vào trong, chuyển qua 3 giai đoạn:

1 - Tôn giáo tự nhiên

Tôn giáo tự nhiên với những yêu tinh quỷ thần được thờ trong đời Thái tổ và Thượng cổ trước Hy Lạp. Những quỷ thần đó tượng trưng cho những thị tộc và bộ tộc thời đó, nhưng tượng trưng một cách ngoài con người. Trong những tôn giáo ấy, con người tự nhận mình trong ông thần, nhưng ông thần ấy lại đè bẹp mình với cái quyền tuyệt đối, với những hình thù quái dị, khổng lồ của ông ta.

2 - Tôn giáo mỹ thuật:

Đến giai đoạn tôn giáo Hy Lạp thì ông thần biến thành người trong những tác phẩm mỹ thuật. Đó là những con người lý tưởng, tượng trưng cho ý thức bản ngã của xã hội.

3 - Tôn giáo linh báo:

Đến đạo Gia Tô thì tôn giáo thực hiện được đối tượng của nó. Ông thần của đạo Gia Tô chính là người. Cái tính chất linh báo của đạo này bộc lộ cái chân lý: thần là người và người cũng là thần. Người tin tưởng ở thần tức là tin tưởng ở mình.

Phê phán

Trong biện chứng pháp của tôn giáo, Hegel có nêu được một số điểm đúng. Thí dụ: ông cho rằng chính thần là người. Nhưng người đó là người gì? Hegel cho đó là người chân chính, là bản ngã của tinh thần, là thực chất của xã hội, là lý tưởng của mọi người trong xã hội. Nhưng thực tế, lý tưởng đây không phải là chân lý của xã hội, tinh thần đây không phải là tinh thần chân chính của xã hội, không phải là ý thức xã hội do nhân dân xây dựng nên mà là ý thức của giai cấp thống trị. Quyền thống trị của ông thần tượng trưng cho quyền thống trị của giai cấp bóc lột. Quyền thống trị đó tự nhận nó là thực chất của đời sống xã hội. Hegel biện chính cho cái quyền bóc lột của nó, và giới thiệu nó như một chân lý. Hegel có phê phán tôn giáo, nhưng đồng thời tin tưởng và tái lập tôn giáo. Do đó, Hegel đi đến kết luận rằng muốn thực hiện được chân lý của tôn giáo thì phải kế thừa tôn giáo, và xây dựng một nền triết học theo hướng của tôn giáo tức là phủ định thế giới khách quan, cho thế giới khách quan là do tinh thần tạo ra. Nhưng theo Hegel, các tôn giáo đều có khuyết điểm là trình bày chân lý ấy trong phạm vi tưởng tượng. Nếu bây giờ vượt qua được phạm vi tưởng tượng đó mà tiến đến trình độ khái niệm thì sẽ nắm được chân lý. Hegel kết luận rằng cái chân lý của đạo Gia Tô (Thượng đế là người và người là Thượng đế) phải được thực hiện trong phạm vi khái niệm, tức là xây dựng một hệ thống triết học chứng minh rằng chân lý của thế giới khách quan không phải ở trong thế giới khách quan mà ở trong ý thức, trong tinh thần thể hiện bằng khái niệm thuần túy. Cái kết luận đó là bước đầu để chuyển sang hệ thống triết học, tức là hệ thống khái niệm xây dựng toàn bộ thực tại (tự nhiên và tư tưởng) trên cơ sở tinh thần. Hegel trình bày quá trình phát triển của thực tại từ tự nhiên đến xã hội chuyển lên tinh thần, và chứng minh cụ thể rằng thực tại là tư tưởng.

Chương VII - KHOA HỌC TUYỆT ĐỐI (Triết học)

Hệ thống triết học Hegel là hệ thống khái niệm qua 3 giai đoạn:

1. Luận lý học là tư tưởng thuần túy phát triển trong phạm vi khái niệm. Kết quả của công cuộc phát triển của tư tưởng thuần tuý càng ngày càng cụ thể. Nếu mức cụ thể tuyệt đối thì biến thành tự nhiên.

2. Tự nhiên. Với những mâu thuẫn trong nội bộ phát triển chuyển lên tinh thần. Đây là tinh thần cụ thể của người ta chứ không phải là tư tưởng thuần túy nữa.

3. Tinh thần gồm 3 phần:

a) Tinh thần chủ quan (tâm lý cá nhân)

b) Tinh thần khách quan (ý thức xã hội)

c) Tinh thần tuyệt đối (mỹ thuật, tôn giáo và triết học)

Phê phán

Từ tự nhiên lên là một quá trình diễn biến cụ thể và có thực, tuy rằng quan niệm theo duy tâm. Nhưng bước quá độ chuyển từ khái niệm tư tưởng thuần túy sang tự nhiên lại là một điểm huyền bí. Theo Hegel, tư tưởng xuất phát từ khái niệm đơn giản nhất là khái niệm thực tại (phạm trù thực tại). Do những mâu thuẫn trong thực tại nó chuyển lên thực chất. Vì thực tại gồm những sự vật xuất hiện một cách trực tiếp, vậy phải có liên quan với nhau. Do những liên quan ấy, ta phải nhận định rằng nó có thực chất. Trong thực chất lại xuất hiện mâu thuẫn nội bộ: mâu thuẫn giữa thực chất và hiện tượng, giữa bên trong và bên ngoài. Nếu thực chất và hiện tượng là một, thì hai cái không còn mâu thuẫn với nhau nữa, và nó chuyển lên khái niệm, tức là thực chất có thật, thực chất nắm được thực tế. Khái niệm lên đến ý niệm thì bao gồm toàn bộ thực tế, vậy ý niệm tức là tự nhiên. Đó là bước chuyển từ ý niệm sang tự nhiên.

Marx và Lénine có phê bình đoạn chuyển biến này. Cách chuyển biến này chứng minh rằng tự nhiên là chân lý của ý niệm. Do đó, tư tưởng phải bắt đầu bằng tự nhiên chứ không thể bắt đầu bằng lý luận được. Ý nghĩa chân chính của nó là ý nghĩa duy vật, và không thể nào ta giữ được lập trường tư tưởng thuần túy. Vì chính lập trường tư tưởng thuần túy cũng bắt buộc ta phải chuyển sang tự nhiên.

Nhưng tại sao Hegel đảo lộn cái chân lý ấy, và cho rằng chính tự nhiên xuất phát từ tư tưởng thuần túy? Trở lại nguồn gốc của hệ thống triết học Hegel trong cuốn Hiện tượng luận của Tinh thần, ta sẽ thấy cơ sở của lập trường duy tâm tuyệt đối. Cơ sở đó là toàn bộ kinh nghiệm của lịch sử tư tưởng loài người từ Cổ đại đến thời kỳ cách mạng tư sản. Hegel thu thập những kinh nghiệm ấy, nhưng lại đứng về phe thống trị để mà phê phán. Hegel có bộc lộ những mâu thuẫn trong xã hội nô lệ, rồi xã hội phong kiến, nhưng Hegel đã đứng trên lập trường của chủ nô và phong kiến. Rồi sau này, Hegel lại đứng trên lập trường giai cấp tư sản mà bộc lộ những mâu thuẫn của xã hội tư bản trong đó con người bị tha hoá. Mâu thuẫn cuối cùng trong tư tưởng tư sản là mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tế. Trong cách mạng thì giai cấp tư sản đề ra khẩu hiệu đấu tranh chống phong kiến, để thống nhất xã hội trên cơ sở tự do bình đẳng. Nhưng trong thực tế khách quan, khi cách mạng đã hoàn thành, thì nó làm ngược lại. Trong khi trình bày và phê phán mâu thuẫn đó, Hegel vẫn đứng trên lập trường tư sản: Hegel công nhận rằng lý tưởng ấy không thể thực hiện được trong thực tế, nhưng Hegel duy trì nó, và nói rằng nó có thể thực hiện được trong tinh thần. Theo Hegel, sở dĩ nó thực hiện được là nhờ có ý thức bản ngã của tinh thần, tức là tôn giáo chuyển lên hình thái triết học duy tâm tuyệt đối. Hegel đã giải quyết những mâu thuẫn của tư tưởng giai cấp thống trị trên cơ sở giai cấp thống trị. Do đó, Hegel biện chính cho chế độ thống trị trong tinh thần, trong phạm vi tư tưởng, vậy nhất định cũng phải biện chính nó trong thực tế. Xét hệ thống triết học duy tâm tuyệt đối, ta thấy Hegel đi đến chỗ biện chính cho chế độ chính trị hiện hành, tức là chế độ quân chủ lập hiến của Nhà nước Phổ[14] lúc bấy giờ. Hegel đã bác bỏ những thành tích tương đối tiến bộ của cách mạng tư sản trong giai đoạn «tự do tuyệt đối và chế độ khủng bố» và cho rằng tự do tuyệt đối không thể thực hiện được. Rồi một khi đã phát triển hệ thống triết học, ông lại kết luận rằng chính Nhà nước Phổ đã thực hiện được tự do tuyệt đối.

Vì sao với một phương pháp tư tưởng có phần căn bản chân chính, có bộc lộ được những mâu thuẫn thực sự trong lịch sử mà Hegel lại đi đến chỗ bảo thủ, đề cao chế độ Nhà nước Phổ là chế độ phản động nhất nhì ở Âu châu, sau Nga Hoàng?

Tại sao Hegel lại kết luận rằng chính chế độ quân chủ lập hiến của Phổ đã thực hiện được ý niệm tự do tuyệt đối?

Đó là vì phương pháp biện chứng ngay từ đầu đã bị lộn ngược. Ngay từ đầu, Hegel đã đứng trên lập trường của phe thống trị mà bộc lộ mâu thuẫn, từ chủ nô đến phong kiến đến tư sản. Đến giai đoạn tư sản thống trị thi Hegel đề cao tất cả những chế độ thống trị cũ, cho rằng những chế độ ấy đều là đúng, và những tôn giáo cũ đều là chân chính cả. Trong đó còn có những phần thiếu sót mà Hegel tự đảm nhận trách nhiệm sửa chữa và hoàn thành.

Nhưng dù sao, với cách sử dụng biện chứng pháp đó Hegel cũng có nắm được những phạm trù phổ cập nhất của thực tại biển chuyến, và chính những phạm trù đó lộn lại sẽ thành cái tiền đề cho phương pháp biện chứng duy vật. Marx và Engels đã có công trình rút kinh nghiệm của biện chứng pháp duy tâm và bộc lộ phần chân chính của nó, phát triển biện chứng pháp duy vật.

Trần Đức Thảo 12-6-1956


Xem online : Kỳ 3 (Phần ghi chú)