Menu

Trang nhà > Lịch sử > Cổ đại > Những phát minh của người Sumer

First Discoveries of Sumerians

Những phát minh của người Sumer

Thứ Sáu 30, Tháng Ba 2007

Nhà bác học Mỹ gốc Do Thái Samuel Noah Kramer (1897–1990) đặc biệt chú ý đến nền văn hóa cổ ở Babylon và bỏ ra gần cả cuộc đời nghiên cứu chữ viết hình góc (cuneiform) của người Sumer. Ông trở thành giáo sư dạy môn khảo cổ học tại ĐH Pennsylvania, và đã cùng các đồng nghiệp hoàn thành bộ tự điển 18 tập về ngôn ngữ Sumer. Năm 1956, giáo sư Kramer cho xuất bản lần đầu tác phẩm "Lịch sử bắt đầu từ Sumer" (History begins at Sumer). Từ đó cho đến 1980, với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan văn hóa Hoa Kỳ, ông đã đi đến nhiều viện bảo tàng trên thế giới sao chép các di vật thâu lượm được ở Babylon để nghiên cứu và bổ túc cho tác phẩm của ông. Tới nay, tác phẩm trên đã được tu chính và tái bản lần thứ tư (1994).

Theo tác giả, người ta có thể liệt kê tới 39 phát minh đầu tiên của nhân loại là do dân Sumer tìm ra. Ngoài những phát minh nổi tiếng trong thế giới cổ mà người ta đã biết từ lâu là xuất phát từ Babylon như : bánh xe, vòng tròn có 360 độ, một giờ có 60 phút, hợp kim đồng pha thiếc, dẫn thủy nhập điền... dân tộc Sumer còn là tác giả của nhiều sản phẩm văn hóa và những phát kiến đầu tiên thuộc nhiều lãnh vực:

- Về giáo dục, người Sumer đã mở trường dạy học sau khi phát minh ra chữ viết vào cuối thiên niên kỷ thứ tư trước Công Nguyên (khoảng 3150 TCN). Họ gọi trường học là "nhà của những tấm đất sét", gọi thầy giáo là cha, học trò là con và phụ giảng là anh cả. Học trò bị phạt kỷ luật bằng roi hay bằng gậy. Năm 1934, một nhà khảo cổ Pháp đã khai quật tại TP Mari một ngôi trường học có nhiều hàng ghế bằng đất sét, mỗi ghế ngồi được một, hai hoặc ba người. Tới nay, người ta đã phát hiện thêm nhiều ngôi trường học tại Nippur, Snippa và Ur.

- Về khoa học, những di vật đáng chú ý là bộ tự điển Sumer - Akkadi (ngôn ngữ của một dân tộc Ả Rập lai Do Thái) và sách lịch sử kể chuyện các đời vua tại Ur và Nanshe từ thượng cổ đến vua Sargon (2600 TCN). Năm 1895, các nhà khảo cổ tìm thấy hai cột hình trụ lớn bằng đất sét. Hai cột này được đưa về trường ĐH Yale để nghiên cứu. Sau hơn hai mươi năm làm việc cần mẫn, công cuộc nghiên cứu về dịch thuật mới hoàn tất. Theo giáo sư François Thureau-Dargin thì hai cột trụ này là hai cuốn sử ghi chép các trận chiến và nhiều sử liệu về các vua chúa tướng lãnh dưới triều đại Entemena (3000 TCN). Ngoài ra, người chép sử cũng mô tả các sinh hoạt kinh tế-xã hội trong đời sống dân chúng, trong đó có cả việc nhà vua đặc miễn cho dân Lagash không phải đóng thuế trong 30 năm. Ta có thể coi đây là những cuốn sử đầu tiên của loài người.

- Về tư tưởng, năm 1951 các nhà khảo cổ tìm thấy 19 tấm đất sét tại Nippur, được xác định niên đại vào khoảng 2400 TCN. Đáng chú ý là những tấm đất sét này đã ghi lại tư tưởng của dân tộc Sumer về con người và cuộc đời. Theo họ, con người đã được sinh ra từ đất sét và sống để phục vụ các vị thần, tức là con người phải phục vụ tôn giáo chứ không phải tôn giáo phục vụ con người (Sumerian thinkers firmly convinced that man was fashioned of clay and created for one purpose only: to serve gods by supplying them with food, drink or shelter so that they might have leisure for their divine activities - sách dẫn chiếu, tr. 101). Quan niệm này đã ăn sâu vào đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi. Tín đồ các đạo này đều tin rằng Thiên Chúa đã tạo ra con người từ đất sét để con người thờ phụng kính Chúa trên hết mọi sự. Có lẽ từ quan niệm đó, những tín đồ Ki Tô Giáo trước đây đã coi rẻ mạng người như cục đất và gây nhiều cuộc thánh chiến đẫm máu để bảo vệ tôn giáo của mình .

- Về văn học, trước khi tìm ra những di vật tại Babylon, mọi người vẫn tin rằng Sách Cách Ngôn trong kinh Thánh Cựu Ước Do Thái (Biblical Book of Proverb) là sách cách ngôn cổ nhất. Sau đó đã tìm ra nhiều sách cách ngôn của Ai Cập và xác nhận chúng có niên đại trước Biblical Book of Proverb nhiều thế kỷ. Tới khi các tấm đất sét ghi cách ngôn của Sumer được phát giác, mọi người mới vỡ lẽ ra là các sách cách ngôn nói trên đều vay mượn từ Babylon. Năm 1934, giáo sư Edward Chierra thuộc đại học Pensylvania cho biết bản dịch sách cách ngôn từ các tấm đất sét thu lượm tại Nippur được xác định niên đại là thế kỷ 18 TCN.

Năm 1937, hàng trăm bản đất sét ghi cách ngôn Sumer lưu trữ tại Viện Bảo tàng Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) đã được nhiều nhà Sumer học nghiên cứu, các bản dịch được công bố trong 2 năm 1951-1952 tạo thành một bộ sưu tập lớn về cách ngôn cổ của Babylon. Ta có thể đơn cử một số câu cách ngôn tiêu biểu của dân tộc Sumer :

Người nghèo chết sướng hơn sống vì khi có muối thì không có bánh mì, khi có bánh mì lại không có muối.

Tiêu xài hoang phí ta sẽ chết, biết tiết kiệm sẽ sống lâu.

Giấc ngủ của người siêng năng làm việc rất ngon lành.

Càng có nhiều tiền của càng lo nghĩ nhiều...

Nhiều tấm đất sét khác kể chuyện ngụ ngôn tương tự như chuyện ngụ ngôn của Ezop (Aesop). Thí dụ như chuyện cãi nhau giữa Mùa Đông và Mùa Hè. Cuộc tranh luận giữa hạt lúa, cây cối và cánh đồng... Qua các chuyện ngụ ngôn này, các nhà khảo cổ nhận thấy người Sumer đã biết sắp xếp mọi vật thành từng cặp đối lập (tương tự như Dịch lý) nhất là trong lãnh vực nông nghiệp: Chim đối với cá, mùa hè đối với mùa đông, nhà nông đối với người chăn cừu (văn hóa nông nghiệp đối lập với văn hóa du mục), cái cuốc đối với cái cày, cây lớn đối với cây sậy... (sách dẫn chiếu tr. 132-133). Điều thích thú hơn nữa là các nhà khảo cổ phát giác những chuyện kể trong các tấm đất sét này có nhiều chuyện tương tự như trong sách Sáng Thế Ký (Genesis) là cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái. Chẳng hạn như chuyện phân rẽ giữa trời và đất, chuyện con người được nặn ra từ đất sét, chuyện anh em giết nhau (như chuyện Cain và Abel trong Cựu Ước) quan niệm về Nước Chúa.

Chuyện thần thoại "Enki và Ninhursag" là một chuyện thơ dài 278 dòng được ghi trên tấm đất sét có 6 cột, hiện lưu trữ tại Viện Bảo tàng ĐH Pennsylvania (bản sao lưu tại Viện Bảo tàng Louvre, Paris) được công bố năm 1945 trong Thông báo về Nghiên cứu Đông phương của Mỹ số 1 (Bulletin of the American Oriental Research).

Chuyện kể rằng: Dilmun là đất của sự sống rất sạch và sáng, ở đó không có bệnh tật và cái chết. Đó là khu vườn thiêng liêng của hai người Enki và Ninhursag. Enki là thủy thần, Ninhursag là thổ thần. Họ là cha mẹ đầu tiên của dân tộc Sumer. Trong khu vườn thiêng này, tám vị thần ở trên trời trồng 8 cây đặc biệt và cấm không ai được phép ăn. Một hôm, do sự cám dỗ của một vị thần hai mặt là Isimud, Enki đã vi phạm luật trời ăn luôn cả tám cây cấm. Sau đó, Enki bị đau tám bộ phận trong người. Vợ chàng là Ninhursag tức giận, nguyền rủa chồng sẽ phải chết vì tội vi phạm luật của các vị thần và nàng bỏ nhà ra đi. Một con chồn đến gặp Enki và hứa sẽ đi tìm Ninhursag về cho chàng. Con chồn tìm được Ninhursag và dẫn nàng về nhà đoàn tụ lại với chồng. Nàng Ninhurag ngồi bên cạnh chồng khấn vái tám vị thần để chữa tám bộ phận của chồng bị đau. Vị thần chữa xương sườn đau có tên là Ninti. Theo ngôn ngữ Sumer chữ Nin là bà, chữ Ti là xương sườn và cũng có nghĩa là sinh sản. Do đó, Ninti vừa là "bà xương sườn" vừa là "bà sinh sản".

Người Do Thái vay mượn chuyện này để sáng tác chuyện Adam và Eva ăn trái cấm trong vườn địa đàng và chuyện Chúa Trời lấy xương sườn của Adam để tạo ra Eva. Trong ngôn ngữ Do Thái thì xương sườn và sinh sản là hai từ biệt lập. Tuy nhiên, ý nghĩa của chuyện huyền thoại Sumer nhấn mạnh đến điểm: trước khi vi phạm luật cấm của các vị thần, con người sống hạnh phúc không biết đau khổ, bệnh tật và không phải chết (trường sinh bất tử). Chính sự vi phạm luật trời của hai vị tổ tiên đã khiến tất cả con cháu muôn đời phải đau khổ, phải chết và đặc biệt là các bà mẹ phải đau đớn khi sinh con. (Sách dẫn chiếu, tr. 141- 147).

- Ngoài những sáng kiến đầu tiên về giáo dục, toán học và nhất là về tín ngưỡng, người Sumer là dân tộc đầu tiên đã sáng chế ra lưỡi cày kim loại đúc bằng hợp kim đồng pha thiếc (10%). Họ cũng là những người đầu tiên lập bể nuôi cá cảnh trong nhà, tìm cách trồng rau quả, hoa trái dưới bóng râm của các cây cọ để tránh ánh nắng chói chang và các cơn bão cát sa mạc.

- Về chính trị và luật pháp, họ đã biết cách tổ chức các định chế dân chủ tương tự như lưỡng viện quốc hội: những tấm đất sét có niên đại 3000 TCN ghi cuộc tranh luận trong buổi họp của những người đàn ông võ trang quyết định việc nên hòa hay chiến, tương tự như Hạ viện. Quyết định của buổi họp này phải được đưa lên Hội đồng các trưởng lão, trong đó ý kiến của vua là tối hậu, tương tự như Thượng viện. Họ tổ chức việc xét xử tội phạm thiếu nhi riêng rẽ với việc xét xử người lớn.

Qua trên một thế kỷ sưu tầm, hiện nay các nhà khảo cổ đã thâu lượm được nhiều chục ngàn tấm đất sét của dân tộc Sumer, với đủ loại văn kiện luật pháp như khế ước, di chúc, biên lai, quyết định của tòa án. Trong đó có nhiều bản ghi chép cùng một chuyện phạm pháp và quyết định của tòa án đã được thâu lượm từ nhiều địa điểm khác nhau. Người ta ước đoán đó có thể là những án lệ đầu tiên được phổ biến trong giới luật pháp để làm khuôn mẫu cho các việc xét xử tội phạm trong hệ thống luật pháp quốc gia.

Các đạo thờ Chúa đều là những tôn giáo xây dựng giáo lý trên căn bản là những huyền thoại của Babylon. Riêng Công Giáo La Mã là đạo đã được sao chép gần như nguyên bản tôn giáo của Babylon. Vì vậy, Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow California đã rất có lý khi gọi Công Giáo La Mã là "tôn giáo kỳ bí của Babylon hiện đại" (THE MODERN BABYLON MYSTERY RELIGION.

Phúc Âm Khải Huyền của Thánh Gioan có lời chép bằng chữ lớn rằng : "TÔN GIÁO HUYỀN THOẠI BABYLON VĨ ĐẠI LÀ MẸ CỦA LŨ ĐIẾM THỐI VÀ CỦA NHỮNG CHUYỆN KHỦNG KHIẾP TRÊN TRÁI ĐẤT NÀY " (MYSTERY BABYLON THE GREAT, MOTHER OF HARLOTS AND ABOMINATIONS OF THE EARTH - Revelation 17: 1 - 6 ).

Theo C. Nguyễn