Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Quan niệm > Nho giáo > NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

Thứ Sáu 7, Tháng Năm 2010

A - THỜI BẮC THUỘC (111 TCN - 938)

a - Sử chép rằng Hán Vũ Ðế thấy nước ta chưa biết văn hoá, sai các quan Thái thú sang cai trị phải dậy bảo. Trong số ấy có ba người nổi tiếng:
Tích Quang, Thái thú quận Giao-chỉ, mở trường học, dậy dân biết lễ nghĩa;
Nhâm Diên, Thái thú quận Cửu-chân, xây trường học, dậy dân luân lý, phép giá thú, sinh con biết họ và nòi giống; Sĩ Nhiếp, Thái thú Giao-châu, mở học đường, giảng Kinh truyện, được suy tôn là Nam bang học tổ.

Như vậy là nước ta bắt đầu học chữ Hán và Nho giáo từ thời Bắc thuộc.

b - Song có thuyết cho rằng "sử" đây là sử Trung quốc, có nhiều chỗ không ổn:

  • Bằng vào chuyện Lý Ông Trọng sang Trung quốc học rồi làm quan Tư Lệ Hiệu Úy với Tần Thủy Hoàng (thế kỷ 3 TCN) thì người Nam đã biết chữ Nho từ trước, thời Bắc thuộc chỉ đưa chữ Nho lên địa vị chính thức, truyền bá rộng rãi qua các học đường.
  • Triệu Ðà (207-137 TCN) gửi thư cho Hán Vũ Ðế, lời lẽ tỏ ra người có học. Triệu Ðà làm chúa tể phương Nam chẳng lẽ lại không nghĩ đến chuyện dậy dân học chữ Hán mà phải đợi đến các quan Thái thú ? Trong thư của Triệu Ðà có nhắc đến Phan Nội sử, "Nội sử" có nhiệm vụ ghi chép sử, tất phải biết chữ Hán (trừ phi người Việt cổ có thứ chữ riêng).
  • Năm 1007, Lê Ngoạ Triều sai em là Minh Sưởng sang nhà Tống xin Kinh Ðịa Tạng (kinh Phật) và Cửu kinh (6). Thế thì đến thời Lê Ngoạ Triều ta mới biết đủ 9 kinh của đạo Nho, có thể hiểu là Tích Quang, Nhâm Diên chỉ dựng nhà học cấp thấp, Sĩ Nhiếp chỉ dậy Thi, Thư chứ chưa dậy đầy đủ đạo Nho.

c - Có công truyền bá Hán học và đạo Nho, ngoài các Thái thú còn:

  • những người Trung Hoa sang tị nạn khi Vương Mãng tiếm ngôi (8-23) nhà Hán, hay sau khi Hán Linh Ðế (184-5) mất, Trung quốc bị rối loạn;
  • những kẻ có tội bị đầy sang phương Nam;
  • các nhà sư Trung Hoa, đều giỏi chữ Hán;
  • những du học sinh người Nam sang Trung quốc học rồi trở về dậy lại người mình.

Sĩ tử nhập trường Hà Nam, khoa Nhâm Tý (1912). Khoa ấy bão lụt to, có người chết cóng trong trường thi, tay còn nắm chặt quản bút

B - NHO GIÁO THỜI TỰ TRỊ

1 - Các triều Ngô, Ðinh, Tiền Lê, Trưng vương: Thời này tam giáo (Nho, Phật, Lão) đều được trọng nhưng thịnh hành nhất là Phật giáo. Các nhà sư nhân học đạo Phật mà thành giỏi chữ Hán, chính là từng lớp học thức, có uy tín, vì thế những người học chữ thường đến chùa để học.

Vì nền tự chủ chưa vững, nhà cầm quyền đặt trọng tâm vào tổ chức chống ngoại xâm nên việc học theo lối học huấn hỗ của nhà Ðường, chỉ cốt làm sáng tỏ nghĩa Kinh Truyện nhưng không phát minh điều gì mới lạ.

2 - Nhà Lý: Ðạo Phật vẫn được trọng nhất. Thời Lý sơ, hễ giao tiếp với Trung quốc đều dùng tăng lữ viết thư. Ðến Nhân Tông mới bắt đầu trọng đạo Nho: năm 1070, dựng Văn miếu; năm 1075, mở khoa thi đầu tiên; năm 1076, xây Quốc tử giám. Vẫn theo lối học nhà Ðường.

3 - Nhà Trần: Mặc dầu các vua Trần rất sùng đạo Phật nhưng Nho giáo tiếp tục bành trướng. Phật giáo không đắc sủng như thời nhà Lý, tăng lữ không còn được dự chính sự. Tuy bị Nho giáo lấn lướt, Phật giáo và Lão giáo vẫn còn được trọng, các Nho gia không thiên hẳn về cái học từ chương, tức là chỉ vụ lấy nhớ cho nhiều và mài rũa câu văn cho hoa mỹ chứ không tìm ý nghĩa sâu xa của đạo học (7).

4 - Nhà Hồ: Hồ Quý Ly chủ trương cải tổ giáo dục theo tinh thần độc lập bằng cách nâng cao địa vị chữ Nôm. Năm 1387, Thượng Hoàng Nghệ Tông cho Quý Ly làm Ðồng Bình Chương Sự (như Tể tướng), lại ban cho cờ biển đề chữ Văn võ toàn tài, Quân thần đồng đức, Quý Ly làm thơ bằng Nôm để tạ ơn. Năm 1395, Quý Ly dịch thiên "Vô Dật" trong sách Thượng Thư ra Nôm để dậy vua Thuận Tông, sách dâng lên được Thượng Hoàng khen nhưng bị Ðoàn Xuân Lôi, trợ giáo Quốc tử giám chê. Năm 1396, Quý Ly làm sách Quốc Ngữ Thi Nghĩa, chú thích Kinh Thi bằng quốc âm để cho nữ sư dậy các hậu phi và cung tần, bài Tựa phần nhiều theo ý kiến riêng chứ không theo chú thích của Chu Tử (Chu Hy). Ðặc biệt là năm 1393, làm sách Minh Ðạo, cho Chu Công Ðán mới là Tiên Thánh, Khổng Tử chỉ là Tiên Sư, trong Văn miếu đặt Chu Công ngồi chính giữa, ngoảnh mặt về Nam, Khổng Tử ngồi bên, ngoảnh mặt về phương Tây.

Quý Ly còn cho sách Luận Ngữ có 4 chỗ đáng ngờ:

a - Khổng Tử đến nước Vệ, nàng Nam tử (vợ Vệ Linh Công, có tiếng lẳng lơ) thỉnh đến thăm mình, Khổng Tử không từ tạ được phải đến, vì phong tục nước Vệ ai ra làm quan cũng phải đến ra mắt vợ vua. Tử Lộ, học trò Khổng Tử, không biết tục lệ ấy, trách Khổng Tử. Khổng Tử phải thề:"Ta có làm điều gì chẳng phải thì Trời hại ta". Chuyện không ổn ở chỗ tại sao lần đầu Khổng Tử đến nước Vệ nàng Nam tử không mời ? Tại sao phải thề độc, Tử Lộ học Khổng Tử lâu năm há lại không biết phẩm hạnh của Thầy hay sao mà ngờ có hành vi mờ ám ? (8)

b - Khi ở nước Trần, hết lương, Khổng Tử đặt câu hỏi:"Ta có nên về chăng ?" vì Khổng Tử đi khắp nơi truyền đạo, thấy chẳng ai thực hành, muốn trở về nước Lỗ, quê của Khổng Tử, còn có thể dậy học trò (9).

c - Công Sơn Phất Nhiễu, là gia thần họ Quý, cùng với Dương Hổ làm phản, chiếm quyền cai trị, mời Khổng Tử giúp. Khổng Tử muốn đến, Tử Lộ không bằng lòng, ngăn cản, nhưng Khổng Tử cho Phất Nhiễu chỉ phản họ Quý chứ không phản vua nước Lỗ. Lúc ấy chính quyền nước Lỗ do ba họ Mạnh, Thúc, Quý nắm giữ. Khổng Tử muốn giúp vua nước Lỗ giành lại chính quyền, phục hưng Ðạo ở nước Lỗ. Sau xét lại thấy không được nên không đến gập Phất Nhiễu (10). Lương Khải Siêu cũng cho thái độ Khổng Tử khó hiểu, đã cương quyết không hợp tác với Dương Hổ sao lại muốn giúp Phất Nhiễu ?

Có chỗ chép không phải là Phất Nhiễu mà là Phật Bật/Bột hay Bật Hật: Phật Bật là gia thần Phạm Trọng Hành, quan Ðại phu nước Tấn. Triệu Giản Tử cầm quyền nước Tấn đánh Phạm Trọng Hành, Bật Hật làm phản rồi phái người mời Khổng Tử giúp. Khổng Tử định nhận lời, Tử Lộ bất bình ngăn cản. Khổng Tử đáp:"Ta đâu phải trái bầu khô, treo mà không ăn được ?". Lương Khải Siêu cũng tỏ ý hoài nghi chuyện này (11).

d - Quý Ly chê các danh nho đời Ðường, Tống, học rộng mà viển vông, cái học bác tạp, chỉ "chuyên trộm cắp ý nghĩa của người xưa mà không quan thiết đến sự tình".

Quý Ly có những sáng kiến táo bạo, bị người đương thời và cả người đời sau chê bai. Ngô Thì Sĩ cho vì Quý Ly trước đỗ thi Hương, sau trúng khoa Hoành từ hoá sinh tự phụ, nên đã lên án Quý Ly nghiêm khắc:"Lại có kẻ truất Phu tử (Khổng Tử) xuống làm trung hiền, giáng làm tiên sư, thật là mù chê mặt trời, mặt trăng không ánh sáng, có làm tổn hại gì được các vì sáng đó ? Còn bảo Xương Lê (Hàn Dũ) là "đạo" nho, Liêm, Lạc (Chu Tử và Trình Tử) là "trộm cắp" đạo học thì các vị này khi ở Bắc đã bị khuất thời bấy giờ, sang đến Nam lại cũng bị đời sau bài bác, các ông thật gập ách vận (...) Quý Ly sính thông minh, đã biết thế nào được cái chí của thánh hiền, tự nghĩ ra Thi Nghĩa, bốn điều đáng ngờ trong Luận Ngữ, thật là con ếch ngồi trong giếng nước, không thể nói chuyện biển cả được".

Ngô Tất Tố cũng viết:"Ðến ở Trung quốc, trừ bọn Thanh nho sinh sau Quý Ly ba, bốn thế kỷ cũng chưa ai dám nói những điều trên" (12).

5 - Nội thuộc nhà Minh (1414-27): Ðể thi hành chính sách đồng hoá, Trương Phụ vâng lệnh Minh Thành Tổ, thu hết sách vở của ta đốt hoặc đem về Kim-lăng, rồi phát Kinh sách do Tống nho (tức Chu Tử, Trình Tử) chú giải bắt học. Từ đấy người mình mới theo cái học của Chu-Trình, thiên về phép tắc, khắc kỷ... Ðời sau nhiều người chê cái học của Tống nho chỉ là chê cái học câu nệ tiểu tiết, quá cẩn lễ, sự thực "thủ lễ" không biểu dương tất cả học thuyết của Chu-Trình, và hai vị này cũng không đại diện cho toàn thể Tống nho.

6 - Thời Hậu Lê: Nho giáo được tôn sùng triệt để: Lê Thánh Tông mở rộng Quốc tử giám, xây nhà cho sinh viên trọ học, lập kho Bí thư để chứa ván khắc Kinh sách. Tuy vẫn là cái học của Chu Trình nhưng chưa câu nệ như thời Trung Hưng.

7 - Ðàng Trong: Các chúa Nguyễn ở Ðàng Trong tuy có tổ chức thi Xuân Thiên Quận Thí, Thu Vi Hội Thí, Chính đồ vv. nhưng trình độ Nho học không được bằng Ðàng Ngoài.

8 - Nhà Tây Sơn là võ tướng xuất thân song cũng trọng Nho gia. Nguyễn Nhạc muốn đem theo mấy ông Nghè về Nam để dậy học, Quang-Trung thì trọng dụng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích v.v. khen Ngô Thì Nhậm biết dùng "ngọn bút thay giáp binh", nhờ văn tài khéo léo của nhà Nho mà lui được quân Thanh. Quang-Trung tuy trọng Nho học nhưng cũng giữ tinh thần độc lập bằng cách nâng cao địa vị chữ Nôm, thay thế chữ Nôm cho chữ Hán trong công văn cũng như Khoa cử.

9 - Nhà Nguyễn, ngược lại, tiếp tục trọng cái học Chu-Trình, và chữ Hán lại được đưa lên địa vị chính thức.

Xét chung thì các Việt nho có óc tự ty, tin rằng tất cả những gì đáng nói đều đã có trong Kinh Truyện, phải là bậc Thánh mới được viết sách cho nên chỉ nhai đi nhai lại Cửu Kinh, chỉ dám viết sách chú giải Kinh đìển là cùng chứ không tìm tòi, nghiền ngẫm, phát minh ra điều gì mới lạ. Hễ có ai lập luận khác thường, như Hồ Quý Ly, thì lập tức bị bài bác.

Khung lều làm bằng tre vót nhẵn, uốn cong, cắm xuống đất. Áo lều bằng lá tơi chằm hoặc là một tấm bìa lớn phất cậy. Khung và áo cuốn thành một bó mang đi cho tiện. Cũng có khi lếu chỉ gồm một cái chõng có bánh xe kéo đi, khung cắm vào những con cá bám hai bên thành chõng

PHÊ PHÁN

Trải qua mấy nghìn năm, Nho giáo được tôn sùng là "Chính đạo", song không phải là chưa từng bị chê bai. Những điểm thường bị nêu ra chỉ trích là:

a - Về chính trị:

  • "Tôn quân, ức dân": chế độ quân chủ của Nho giáo chỉ được áp dụng một chiều, sản xuất ra những ông vua ích kỷ chỉ biết hưởng thụ, lạm dụng uy quyền, độc tài. Sự thực Khổng
    giáo tuy trọng quân quyền nhưng còn có thuyết "thiên mệnh" kiềm chế vua. Hàn Dũ mới là người nói:"Vua không tròn trách nhiệm không có tội, dân không tròn bổn phận thì đáng giết".
  • Ðạo nhân nghĩa là lý tưởng, trên thực tế vô hiệu. Nghiêu, Thuấn cả đời sống khổ, mà Kiệt, Trụ thì thoả chí. Hàn Phi nói:"Ðạo nhân nghĩa thực hành mấy nghìn năm mà thiên hạ vẫn loạn".

Huống chi những gì Khổng giáo đề cao chưa chắc đã đúng sự thật:

  • Thời đại Hoàng kim: Khổng Tử đề cao thời đại Nghiêu, Thuấn, Tam Ðại là thời đại Hoàng kim, bình trị, dân chúng yên ổn, sung sướng. Nhưng Kinh Thi lại kể chuyện dân đời Thượng cổ bị hà hiếp, đi săn được con lợn nào to thì phải dâng địa chủ. Phải hái dâu, nhuộm vải, lấy da chồn may áo cho công tử, còn bản thân thì tháng chạp cũng không có manh áo che thân. Tháng 10, nông nghiệp xong là phải chuẩn bị lương tiền đi chữa nhà cho chủ, còn gia đình mình chui rúc trong lều tranh. Phụ nữ nào vừa mắt là công tử bắt lấy, dân dù mất vợ mất con cũng không dám nói... (13).
    - Chu công. Khổng giáo cho là Chu công đem lễ giáo dậy khiến cho dân sống hoà mục với nhau. Nguyên Vũ Vương diệt nhà Thương/Ân, con cháu nhà Thương/Ân mất ngôi nhưng vẫn được làm chúa đất cũ. Vũ Canh, dòng dõi nhà Thương, làm phản nên bị Chu công giết. Thành Vương phong cho hai người dòng dõi nhà Ân là Vi Tử, làm vua nước Tống, Cơ Tử làm vua nước Cao-ly, còn đất nhà Ân thì nhập vào đất nhà Chu. Nhượng Tống lên án Chu công:"Cái lối chia mà trị" ấy là một mánh khoé chính trị khôn ngoan mà giảo quyệt (...) Ta chẳng hiểu Khổng Tử thường chiêm bao thấy Chu công để làm gì? Nếu vì cái đạo đức của lão thì Thầy lầm to. Ở con người ấy có công, có danh, có đủ ngón xỏ xiên của những hạng chính khách gian hùng, nhưng đạo đức quyết là đánh bẩy ngày cũng không nẩy ra. Những câu "nhà vua nói" đều là của Chu công nói thay Thành Vương (con Vũ Vương) tuyên cáo khi cất quân đi đánh Vũ Canh, lợi dụng lòng tin Trời, tin mệnh của dân để "tuyên truyền" cho kẻ cầm quyền (...) cái khoé ấy đã có từ trên 2000 năm! Có điều lạ là khoé đó lại lừa nổi một người thông minh như Thầy Khổng!" (14).

b - Về giáo hoá:

  • Cẩn lễ: Học thuyết của Chu-Trình có khía cạnh khắc kỷ, câu nệ tiểu tiết, khiến người ta mất tinh thần tự do phát huy tư tưởng, làm ngăn trở sự tiến hoá, lại sinh ra hạng Ngụy nho, giả đạo đức, chỉ tôn trọng hình thức lễ giáo bên ngoài. Sang đến Việt-Nam còn trầm trọng hơn một bậc.
  • Lỗi thời: người xưa tin rằng Vạn sự xuất ư Nho và Sĩ khả bách vi, một khi đã hiểu rõ đạo Thánh, được chỉ đạo, thì lâm sự khắc biết cách ứng xử bởi đó chỉ là phần thực hành, sẽ có với thời gian và kinh nghiệm. Vì chỉ tôn một đạo Nho nên ít chú trọng đến những cái học chuyên môn. Tuy Kinh Dịch, Ðại Học (cách vật trí tri)... có những chỗ tương cận với khoa học, vật lý học v.v. nhưng khác với cái học của Tây phương nghiên cứu cái gì cũng đến nơi đến chốn, cái học của Ðông phương chỉ đặt trọng tâm ở thuật tu tâm dưỡng tính, thiên về đời sống nội tâm.

Công bình mà nói thì Nho giáo là một đạo trị nước khá thực tế và cao minh nên mới lưu truyền được trên mấy nghìn năm. Cái dở thật ra không ở đạo Nho, đạo Khổng, mà là ở những người áp dụng nó không biết theo Khổng Tử "thuật nhi bất tác" tức là tuy không lập ra một học thuyết nào hoàn toàn mới, nhưng tiếp tục phát triển cái cổ để cải tiến, hoàn thiện nó, biến hoá, thay đổi nó cho hợp thời. Kinh Lễ nói:"Những lễ cũ đã hết chỗ dùng mà vẫn dùng tất nhiên xẩy ra mối lo loạn lạc" (15).

Trước kia Nho gia nước ta coi đạo Nho là Chính đạo nên hết sức bài bác đạo Phật, đạo Lão. Ngô Thì Sĩ nhìn nhận các vua nhà Lý là những ông vua tốt, có độ lượng đế vương, "duy đáng tiếc là chưa tôn Chính học (...) đáng chê trách vì tôn sùng đạo Phật " (...) và chê "các danh nho thời cổ học rộng cả bách gia, xuất nhập cả Phật Lão, học vấn không thuần nhất, tâm đã tạp, không chuyên nhất thì có ích gì cho việc đời mà cũng được xuất thân ?" (16).

Khi thấy Chính đạo và thuật nhân nghĩa đều bất lực trước súng ống của Tây phương thì phần đông đổ lỗi cho Nho giáo ngăn trở tiến bộ, muốn vứt bỏ hết Hán học để hoàn toàn theo Âu học, nhưng ngày nay Âu châu lại bị chê là hủ lậu so với văn minh Mỹ... Sau này lác đác có những người nghiên cứu Nho học trở lại, đặc biệt khi Thủ tướng Lý Quang Diệu tuyên bố rằng Singapore phú cường chính là nhờ ở đạo Nho đào luyện ý chí thì một số người mới quay ra nghiêm chỉnh tìm hiểu Nho giáo.

Học thuật Ðông phương chú ý đến những hiện tượng trong vũ trụ để tìm hiểu huyền nghĩa của những hiện tượng ấy, đưa ra những thuyết như "thiên nhân tương quan", tin rằng hạnh phúc con người là sống hoà hợp với thiên nhiên nên không tìm cách khắc phục thiên nhiên, cho rằng dẫu thắng được ngoại vật, vị tất ngoại vật đã bị trị mà thân mình khổ cực, còn như khéo trị nội tâm thì ngoại vật vị tất đã loạn mà lòng mình thanh thản.

Tây phương ít thắc mắc đến những liên hệ siêu hình của các hiện tượng, lại chủ trương vũ trụ với người đối lập nên tìm cách khắc phục thiên nhiên để phụng sự con người. Tây phương lấy sự tiến bộ, mở mang trí tuệ, phát triển khoa học vv... làm trọng, tạo dựng được một đời sống vật chất đầy đủ tiện nghi, mỹ lệ, nhưng trọng trí dục hơn đức dục, quá tôn tự do cá nhân, người trong xã hội ngày càng trí xảo, thiên về tư lợi. Ðồi sống văn minh sung túc nhưng phải cạnh tranh vất vả, cách sinh hoạt phiền toái nên nhiều người lại quay về với văn minh Ðông phương tìm một đời sống tinh thần thanh thản. Song Ðông phương quá chú trọng đến đời sống tinh thần, khinh thường vật chất, để dân sống trong thiếu thốn, lầm than, cũng không tạo được cho dân một đời sống hạnh phúc thực sự.

Dung hoà, tùy nghi vẫn là giải pháp thích hợp nhất cho cả đôi bên.

CHÚ THÍCH

1 - Thượng Thư, tr. 9 - 10. Sách của các đế vương đời trước gồm: sách của Phục Hi, Hoàng Ðế, Thần Nông gọi là Tam Phần ("phần" = đạo Cả); sách của Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Cao Tân và Ðường, Ngu gọi là Ngũ Ðiển ("điển" = đạo Thường); Bát Sách ("sách" = tìm) thuyết minh về 8 quẻ, tìm ý nghĩa của nó; Cửu Khâu ghi chép về 9 châu của Trung quốc xưa.

2 - Thượng Thư, tr. 32-3, 55 - Phan Khoang, Trung Quốc Sử Cương, tr. 13.

3 - Thượng Thư, tr. 64-5, 91.

4 - Thượng Thư, tr. 72, 75-6.

5 - Trần Trọng Kim, Nho Giáo, I, tr. 75, 137.

6 - Cương Mục, III, tr. 33.

7 - Ngô Tất Tố, Văn Học Ðời Trần, tr. 16-8.

8 - Luận Ngữ, tr. 97 - Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, tr. 62.

9 - Luận Ngữ, tr. 79.

10 - Luận Ngữ, tr. 273.

11 - Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, tr. 66.

12 - Ngô Thì Sĩ,Việt Sử Tiêu Án, tr. 269-72 - Ngô Tất Tố, Văn Học Ðời Trần, tr. 7.

13 - Ðào Trinh Nhất, Trung Bắc Chủ Nhật, số 183, 14/11/1943.

14 - Nhượng Tống, Thượng Thư, tr. 151-2.

15 - N.H. Lê, Triết Học, I, 34 - Kinh Lễ, tr. 216.

16 - Ngô Thì Sĩ, Việt Sử Tiêu Án, tr. 106, 126-8, 158.