Menu

Trang nhà > Văn chương > Nghiên cứu > Góp ý với ông Nguyễn Văn Dân

Góp ý với ông Nguyễn Văn Dân

Thứ Ba 20, Tháng Bảy 2010

Hôm nay (19/07/2010), nhân đọc ý kiến của một độc giả dưới bài “Ngô Tự Lập không chỉ ‘kín đáo’ đạo văn của Brent Hayes Edwards, mà còn công khai đoạt văn của Alain Guillemin!” của tôi, tôi mới biết là ông Nguyễn Văn Dân có viết một bài liên quan đến vụ tranh luận này. Bài viết của ông Nguyễn Văn Dân có nhan đề “Thông tin thêm về truyện viễn tưởng (hay huyễn tưởng) của Nguyễn Ái Quốc” đăng trên trang Viet-studies của Trần Hữu Dũng.

Ở đoạn nhập đề, Nguyễn Văn Dân viết:

“Đọc mấy bài tranh luận giữa hai ông Ngô Tự Lập và Nguyễn Tôn Hiệt trên mạng phongdiep.net và viet-studies, tôi xin phép được cung cấp mấy thông tin để mọi người tham khảo.

Tôi xin nhắc lại ngay từ đầu: Tôi không tham gia tranh luận với hai người, mà chỉ đơn giản là cung cấp thêm thông tin.”

Đọc cái nhập đề này, tôi khá ngạc nhiên. Tôi chưa từng gửi bất cứ bài nào cho mạng phongdiep.net và Viet-studies, thì cớ sao lại có bài tranh luận giữa tôi và Ngô Tự Lập trên hai trang web đó! Tôi dạo quanh để quan sát thì mới bìết rằng mạng phongdiep.net đã đăng lại 3 bài lấy từ Tiền Vệ (có ghi rõ xuất xứ), và Viet-studies đã đặt 3 cái links của 3 bài ấy từ Tiền Vệ: Đạo văn: lý thuyết và thực hành của Ngô Tự Lập (TV 15-7-10) - Ngô Tự Lập: Lần thứ ba và lần cuối với ông Nguyễn Tôn Hiệt (TV 16-7-10) — Nguyễn Tôn Hiệt: Ngô Tự Lập không thể tự bào chữa về việc đạo văn (TV 16-7-10).

Đúng ra, ông Nguyễn Văn Dân nên theo những cái links đó để dò tới tận ngọn nguồn, đọc cho đầy đủ các bài của cuộc tranh luận, thay vì chỉ đọc 3 bài như vậy. Và đúng ra, ông Nguyễn Văn Dân cũng nên gửi bài “Thông tin thêm...” của ông đến Tiền Vệ (là nơi xuất phát và chứa đầy đủ các bài tranh luận), và Talawas (là nơi đã gom đầy đủ các bài ấy thành một hồ sơ về cuộc tranh luận), để rộng đường dư luận, thay vì chỉ gửi đến hai trang web kia. Làm việc như vậy là bất cập, mặc dù ông Nguyễn Văn Dân lại nhắn nhủ trong bài của ông rằng:

“Tôi chỉ muốn đưa ra một lời nhắn nhủ rằng: nghiên cứu vấn đề gì cũng cần phải cố đi cho đến ngọn nguồn của nó, nếu không ta sẽ sa vào căn bệnh “phát hiện lại châu Mỹ”!

Dẫu sao tôi cũng cảm ơn lời nhắn nhủ của ông.

Sau đây, tôi sẽ bàn về những “thông tin” mà ông Nguyễn Văn Dân cung cấp.

1/ Ông Nguyễn Văn Dân viết:

Ở đây trước tiên có một vấn đề cần làm sáng rõ. Trong các cuốn sách tra cứu về lý luận văn học ở Việt Nam, ví dụ như cuốn sách Từ điển thuật ngữ văn học (nhiều tác giả; Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), Nxb. Giáo dục, 1992; hay cuốn sách 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân biên soạn), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, có một mục từ “Văn học viễn tưởng”. Lại Nguyên Ân cũng là một trong những tác giả biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học nói trên, cho nên tôi đoán ông cũng là người biên soạn mục từ “Văn học viễn tưởng” của cuốn từ điển đó.

Theo định nghĩa của hai cuốn sách này thì “Văn học viễn tưởng” là những tác phẩm văn học “lấy viễn tưởng làm phương thức xây dựng hình tượng và tổ chức cốt truyện. Viễn tưởng là một phương pháp miêu tả đặc thù, sử dụng những dạng hình tượng (...) trong đó những yếu tố của thực tại được kết hợp với nhau theo lối siêu tự nhiên, kỳ lạ, khó tin” (Từ điển thuật ngữ văn học, tr. 288). Còn trong cuốn sách của Lại Nguyên Ân, ông còn chua thêm cho thuật ngữ “Viễn tưởng” bằng hai từ nước ngoài: “fantasy” (tiếng Anh) và “fantastique” (tiếng Pháp).

Cái định nghĩa về thuật ngữ “Văn học viễn tưởng” của hai cuốn sách này (như ông Nguyễn Văn Dân đã trích không đầy đủ trên đây) là cái định nghĩa sai từ căn bản ngữ nghĩa.

VIỄN 遠 là xa (như trong “viễn du”, “viễn chinh”...), là cái chưa xảy ra, thuộc về tương lai (như trong “viễn dụng”, “viễn hiệu”...).

Trong tiếng Anh, “truyện viễn tưởng” là “futuristic fiction”, hay “futuristic speculative fiction” (như thuật ngữ mà Brent Hayes Edwards đã dùng để nói về truyện “Con người biết mùi hun khói” của Nguyễn Ái Quốc.

Trong Encyclopedia of Time, thuật ngữ “futuristic fiction” (truyện viễn tưởng) được giải thích như sau:

Futuristic fiction is most precisely defined as any narrative explicitly set in future time. It was to such writing that Félix Bodin first applied the term littérature futuriste in 1834. [1]

Trong văn học quốc tế, một trong những tác phẩm văn học viễn tưởng nổi tiếng nhất là cuốn tiểu thuyết Paris au XXe Scièle của Jules Verne. Cuốn này được sáng tác vào năm 1863, kể những chuyện sẽ xảy ra trong những năm 1960, tức là một thế kỷ sau! Và bây giờ so sánh với thực tế thì người ta thấy rất nhiều điều đã được Jules Verne tiên đoán chính xác trong cuốn ấy! Nhà văn Pháp Albert Robida (1848-1926) cũng nổi tiếng với bộ tiểu thuyết ba cuốn, Le Vingtième Sciècle (1883), La Guerre au Vingtième Sciècle (1887), và Le Vingtième siècle: La vie électrique (1890). Nhà văn Anh Herbert George Wells (1866-1946) cũng là tác giả của cuốn tiểu thuyết viễn tưởng nổi tiếng, Anticipations (1901), vẽ ra hình ảnh thế giới sẽ như thế nào vào năm 2000, tức là một thế kỷ sau! Vân vân và vân vân...

HUYỄN 眩 theo nghĩa gốc của hình chữ tiểu triện là “lừa dối”, vì nó có bộ “dữ” viết ngược, tức là hình ảnh đảo ngược trong gương của chữ “dữ” (“dữ” là “đưa cho ai một vật gì”). “Huyễn” vì thế có nghĩa là “gạt gẫm”, “giả vờ đưa cho, nhưng không có vật gì cả”. Vì thế trong sách Lục thao có viết: “Bất tường chi ngôn, huyễn hoặc lương dân” (Lời nói ba hoa, lừa dối dân lành). [2] Về sau, chữ “huyễn” bao hàm thêm các nghĩa “hoa mắt”, “chóng mặt”, “mê loạn”, “ảo hoặc”.

Trong tiếng Anh, “fantasy” (truyện huyễn tưởng) mang nội hàm khác với “futuristic fiction” (truyện viễn tưởng). Theo Literary Dictionary, “fantasy” được định nghĩa như sau:

fantasy, a general term for any kind of fictional work that is not primarily devoted to realistic representation of the known world. The category includes several literary genres (e.g. dream vision, fable, fairy tale, romance, science fiction) describing imagined worlds in which magical powers and other impossibilities are accepted. Recent theorists of fantasy have attempted to distinguish more precisely between the self-contained magical realms of the marvellous, the psychologically explicable delusions of the uncanny, and the inexplicable meeting of both in the fantastic.

Như thế hai cuốn sách mà ông Nguyễn Văn Dân dẫn ra đã định nghĩa sai về thuật ngữ “văn học viễn tưởng”. Với nội hàm “siêu tự nhiên, kỳ lạ, khó tin” thì phải dùng chữ “huyễn tưởng” mới đúng. Chữ “viễn tưởng” chỉ nên dành cho những tác phẩm văn chương kể ra những hình ảnh trong TƯƠNG LAI, chưa xảy ra, nhưng không hề mang tính “huyễn ảo” hay “huyễn hoặc”.

2/ Ông Nguyễn Văn Dân viết:

Song, trước đó mười năm, từ năm 1982, trong bài “Huyễn tưởng văn học - một hình thái nhận thức thẩm mỹ” (đăng trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 10 năm 1982), tôi - Nguyễn Văn Dân - đã viết về phạm trù mỹ học “le fantastique” trong tiếng Pháp (tương đương với “phantastikos” trong t. Hy Lạp, “phantasticus” trong t. Latin, “the fantastic” trong t. Anh, “fantastika” trong t. Nga). Và, sau khi phân tích những hạn chế của nhiều cách dịch, tôi đã đề xuất cách dịch sang tiếng Việt là “cái huyễn tưởng”. Cái huyễn tưởng này sẽ bao gồm nhiều sắc thái, trong đó có sắc thái huyễn tưởng khoa học - bao gồm thể loại giả tưởng khoa học và viễn tưởng khoa học.

Tôi không chắc tôi là người đầu tiên viết về chủ đề này, nhưng quả thực tôi chưa phát hiện thấy có bài nào viết trước tôi. Nhưng có một điều tôi có thể khẳng định rằng tôi là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “huyễn tưởng”. Hiện tại cũng có nhiều người đồng ý với cách gọi của tôi. Nhưng cũng có người dùng thuật ngữ khác, đó có thể vì họ không được đọc bài viết của tôi (hoặc cũng có thể họ không đồng ý).

Cảm ơn ông Nguyễn Văn Dân. Ông đã viết rất đúng về khái niệm “huyễn tưởng” trong văn học. “Cái huyễn tưởng” (le fantastique) ấy là nội hàm thẩm mỹ của loại truyện huyễn tưởng (fantasy), chứ không phải là nội hàm của loại truyện viễn tưởng (futuristic fiction).

3/ Ông Nguyễn Văn Dân viết tiếp:

Ở đây, nội dung của khái niệm “viễn tưởng” của một số người ở Việt Nam về sau cũng giống với nội dung của khái niệm “huyễn tưởng” trước đó của tôi, khác nhau chỉ là tên gọi. Và trong bài viết nói trên, tôi đã khẳng định rằng thủ pháp huyễn tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại có nguồn gốc từ cái huyễn tưởng trong loại truyện truyền thuyết bình dân phi thần thánh như các truyện được sưu tập trong bộ Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh và Kiều Phú từ thế kỷ XV. Cái thủ pháp đó về sau đã được thể hiện trong truyện ngắn cổ điển Việt Nam như các truyện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ở thế kỷ XVI.

Đến năm 1984, trong bài viết của tôi nhan đề: “Triển vọng của thể loại huyễn tưởng khoa học” (đăng trên tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 9-1984), tôi lại khẳng định rõ thêm rằng thủ pháp huyễn tưởng đã được sử dụng trong
truyện ngắn những năm 20 của Nguyễn Ái Quốc.

Thưa ông Nguyễn Văn Dân, nội dung của khái niệm “viễn tưởng” của một số người ở Việt Nam về sau giống với nội dung của khái niệm “huyễn tưởng” trước đó của ông, VÌ HỌ HIỂU SAI VÀ DÙNG TỪ SAI. Phần ông, ông đã hiểu đúng.

Nhưng khi ông nói “thủ pháp huyễn tưởng đã được sử dụng trong truyện ngắn những năm 20 của Nguyễn Ái Quốc”, thì ông có đúng, nhưng cũng có sai.

Ông đúng, nếu ông gọi truyện (“Les lamentations de Trung-Trac”) của Nguyễn Ái Quốc là truyện “huyễn tưởng”, vì theo như Brent Hayes Edwards nhận xét, truyện ấy kể những điều mộng mị, ma quái, huyễn hoặc.

Ông sai, nếu ông gọi truyện “L’Enfumé” của của Nguyễn Ái Quốc là truyện “huyễn tưởng”. Vì trong truyện “L’Enfumé” không hề có “huyễn tưởng” mà chỉ có “viễn tưởng”. Trong truyện ấy Nguyễn Ái Quốc đã hướng về TƯƠNG LAI, mơ về TƯƠNG LAI, và hư cấu ra những gì sẽ xảy ra một cách hiện thực ở châu Phi trong TƯƠNG LAI. (Có người cho rằng đó là “tính tiên tri”. Tôi thì cho rằng đó là một dạng ước mơ về một tương lai thành công. Nhưng ở đây ta không cần tranh cãi về điểm này.)

4/ Ông Nguyễn Văn Dân viết tiếp:

Như vậy, thứ nhất: tuy tôi không dùng thuật ngữ “văn học viễn tưởng” mà dùng thuật ngữ “văn học huyễn tưởng” vì thấy thuật ngữ này chính xác hơn và hay hơn, nhưng nội dung của sự việc đã cho thấy rõ rằng trước khi có bài viết của Hayes Edwards về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc rất lâu, tôi đã khẳng định rằng trong số các truyện của Nguyễn Ái Quốc, đã có những truyện thuộc loại “văn học huyễn tưởng” [hay “viễn tưởng” theo cách nói của những người khác]. Thứ hai: ngay từ năm 1984, tôi đã cho thấy cái huyễn/viễn tưởng đã tồn tại trong văn học cổ điển Việt Nam, còn đến văn học Việt Nam hiện đại thì người đầu tiên sử dụng nó là Nguyễn Ái Quốc.

Đến đây tôi muốn nói rằng: Tôi hoàn toàn không muốn kể công để tự nhận rằng mình là người đầu tiên phát hiện ra Nguyễn Ái Quốc là cha đẻ của văn học huyễn/viễn tưởng Việt Nam hiện đại. Bởi lẽ tôi không cho rằng đây là một phát hiện ghê gớm, vì tôi tin rằng ngoài tôi ra rất có thể đã có nhiều người cũng đã “phát hiện” ra cái điều quá ư hiển nhiên này. Vì điều này không phải là khó nhận ra, bất cứ một người làm văn học sử nào cũng có thể nhìn thấy, chẳng cần đến mức phải sang tận Hoa Kỳ mới phát hiện ra.

Rất tiếc, ở đây ông Nguyễn Văn Dân đột nhiên lại từ bỏ cái kiến giải đúng đắn của ông về “cái huyễn tưởng”! Ở đây, ông bắt đầu nhùng nhằng, gượng gạo đồng hoá “huyễn tưởng” và “viễn tưởng”. Ông cố tình ghép hai nội hàm khác nhau vào thành một thứ gọi là “huyễn/viễn tưởng”!!!

Ông nói ông “hoàn toàn không muốn kể công”, nhưng ông lại làm một điều rất đáng tiếc, vì nó làm hỏng cả cái kiến giải đúng đắn mà ông đã có từ năm 1982. Tôi không biết ông làm thế vì động cơ gì. Thật uổng.

5/ Ông Nguyễn Văn Dân kết luận:

Cuối cùng tôi muốn nói rằng ông Hiệt cũng không nên quá khắt khe với ông Lập. Ông Lập đã trích dẫn ý ông H. E., mặc dù không ghi chú ngay sau cân dẫn, nhưng có ghi ở đầu đoạn trích là “theo ông Hayes Edwards” và có đề tài liệu tham khảo ở cuối bài, thì cũng có thể chấp nhận được. Cách làm này quả thực là chưa chuẩn xác. Nhưng đây lại là một cách làm khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, kể cả các GS cũng mắc phải. Họ cho rằng chỉ cần làm như thế là đúng, chứ trong thâm tâm họ không nghĩ đó là “đạo văn”. Về điều này chính tôi cũng đã có lần viết bài phê phán (vào năm 2001) và cũng đã nhận được không ít những phản ứng không bằng lòng.

Thưa ông Nguyễn Văn Dân, tôi không hề “khắt khe” để làm gì cả. Nếu Ngô Tự Lập là một nhà báo vớ vẩn thì tôi đâu có mất thì giờ để phê phán. Ngô Tự Lập cũng không phải là một người chỉ được đào tạo ở Việt Nam. Anh ta đã từng được đào tạo trong những trường đại học lớn ở Pháp và Mỹ. Nếu Ngô Tự Lập không sành sõi các nguyên tắc chính quy để viết essay, thì anh ta đã không thể tốt nghiệp từ những trường đại học ấy. Đáng lẽ anh ta phải làm gương cho học giới ở Việt Nam, chứ sao lại vi phạm những lỗi lầm giống như họ! Nên nhớ rằng Ngô Tự Lập đã viết “Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ” dưới dạng bài essay nghiên cứu học thuật, có đánh số chú thích ở trong bài và có bản chú thích ở cuối bài. Ở những trường đại học của Pháp và Mỹ, nếu một sinh viên năm thứ nhất nộp hai bài essays như hai bài của Ngô Tự Lập, thì chắc chắn sẽ bị giáo sư khiển trách nặng nề hay đem ra hội đồng kỷ luật về tội plagiarism (đạo văn).

Thưa ông Nguyễn Văn Dân, tôi kính trọng sự thẳng thắn của ông khi ông viết bài phê phán những hiện tượng sai trái trong học thuật. Tôi mong rằng: không vì “những phản ứng không bằng lòng” của “không ít” những người ấy mà ông phải từ bỏ sự thẳng thắn cần thiết của một nhà nghiên cứu khoa học.

Nguyễn Tôn Hiệt

19/07/2010


Xem online : http://tienve.org/home/activities/v...


[1Encyclopedia of time, ed. Samuel L. Macey (London: Taylor & Francis, 1994), trang 235.

[2Xem Tìm về cội nguồn chữ Hán / In Search of the Origins of Chinese Characters Relevant to Vietnamese, tác giả Lý Lạc Nghị, biên soạn: Jim Waters, dịch giả: Nguyễn Văn Đổng (Hà Nội: Thế Giới, 1997), trang 299.