Menu
Mục lục

Trang nhà > Bạn đọc > Nhàn đàm > Bao giờ từ thiện trở thành văn hoá Việt?

Bao giờ từ thiện trở thành văn hoá Việt?

Thứ Tư 1, Tháng Sáu 2011

Ý nghĩa của từ thiện

Theo định nghĩa, từ thiện là sự giúp đỡ người nghèo khổ xuất phát từ lòng đồng tình.
Sở dĩ phải làm từ thiện vì trong xã hội còn có người giàu kẻ nghèo. Nước Mỹ giàu nhất
thế giới cũng có hơn 10% dân có thu nhập dưới mức nghèo do nhà nước quy định. Thụy
Điển giàu và công bằng nhất thế giới cũng có hơn 6% dân thuộc diện nghèo, dĩ nhiên
theo chuẩn nghèo của họ.

Khác biệt giàu nghèo thể hiện sự bất công trong phân phối của cải, gây tâm lý bất mãn
trong dân nghèo và do đó là nguồn gốc gây mất ổn định xã hội. Làm từ thiện là để thu
hẹp khoảng cách giàu nghèo, tăng mức công bằng xã hội, do đó tăng sự đồng thuận
trong dân chúng, tăng ổn định xã hội. Chính vì thế làm từ thiện không những chỉ vì
người nghèo mà còn vì chính người giàu; bởi lẽ chẳng ai muốn sống trong một xã hội
rối ren, người giàu lại càng không muốn.

Nhưng xoá nghèo rất khó, vì trong xã hội luôn tồn tại quần thể người thiếu năng lực
lao động (trí óc, chân tay), ốm yếu già lão, không có cơ hội tìm được việc làm v.v...
Kinh tế kém phát triển thì càng lắm người nghèo. Các nước thường dùng cách đánh
thuế thu nhập để lấy tiền người giàu chia cho người nghèo dưới các hình thức trợ cấp,
cứu tế v.v...; ngoài ra còn động viên xã hội giúp người nghèo. Song điều cơ bản nhất
là phải giúp người nghèo tự thoát ra khỏi cảnh nghèo, “không phải chỉ cho họ con cá
mà tốt nhất mang cho họ cái cần câu cá”
– đây là cách làm từ thiện hiệu quả nhất, cần
được chú trọng nhất.

Từ thiện góp phần ổn định xã hội trong nước, vì thế nó là vấn đề có tầm quốc gia.
Trong thời đại toàn cầu hoá, nó trở thành một công việc quốc tế hệ trọng, được chính
phủ các nước và Liên Hợp Quốc quan tâm. Nước giàu cần giúp nước nghèo, không chỉ
vì nhân đạo mà còn vì để giữ yên ổn cho chính mình. Dân nước nghèo thường di cư
sang nước giàu, gây rắc rối, mất ổn định cho nước giàu. Nghèo đói còn là nguồn gốc
dịch bệnh và nạn khủng bố rất khó ngăn chặn.

Hơn thế nữa, từ thiện còn là một loại hình sức mạnh mềm – thứ sức mạnh cần nhất
cho mỗi quốc gia trong cuộc cạnh tranh khốc liệt toàn cầu ngày nay. Sức mạnh mềm
tức là sức thu hút; rõ ràng quốc gia nào giúp đỡ các nước nghèo càng nhiều thì quốc gia
đó càng có sức thu hút nhân loại.

Trong tác phẩm Sức mạnh mềm, Joseph Nye viết: Chính phủ và nhân dân các nước Bắc
Âu luôn luôn vui lòng giúp đỡ những người nghèo khổ trên toàn thế giới, nhờ thế các
nước này có sức mạnh mềm vượt xa các nước khác.

Các nước Bắc Âu đều rất giàu và nhiệt tình giúp các nước nghèo. Thụy Điển là nước
phương Tây đầu tiên viện trợ Việt Nam ngay từ thời chiến tranh chống Mỹ với dự án
nhà máy giấy trị giá trên 1 tỷ USD. Đan Mạch với 5 triệu dân hàng chục năm nay kiên
trì giúp nước ta cải tiến hoàn thiện ngành thủy sản.

Năm 2008, trong lần đầu tiên về thăm tổ quốc sau ngày nhậm chức Tổng Thư ký Liên
Hợp Quốc, ông Ban Ki-moon đã khuyến cáo đồng bào ông: Để trở thành một quốc gia
vĩ đại hơn, Hàn Quốc nên nhiệt tình làm công việc từ thiện giúp đỡ các nước nghèo
khổ.

Từ thiện là tiêu chí đánh giá trình độ văn minh của một dân tộc. Nó không chỉ là việc
của các tổ chức phi chính phủ, tôn giáo, đoàn thể dân chúng và cá nhân, mà còn được
chính quyền coi trọng. Một đất nước phân hoá giàu nghèo rõ rệt thì không thể có hình
ảnh quốc tế đẹp. Chỉ khi nào nhận thức đúng tầm mức quan trọng của từ thiện thì mới
có thể làm tốt công tác này.

Truyền thống từ thiện của người Việt

Thương người là một trong các phẩm chất quý giá của người Việt. Từ xưa dân ta
đã có câu “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau
cùng”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Dẫu rằng khác giống nhưng chung một giàn” “Lá
lành đùm lá rách”
... nói lên truyền thống từ thiện của người Việt. Truyền thống đó gắn
liền với quá khứ đau thương của dân tộc: kinh tế rất lạc hậu kéo dài hàng nghìn năm,
lại thêm thiên tai địch hoạ không ngừng, đời sống đa số dân ta rất thấp, số người giàu
cực ít. Trong chế độ thực dân, phong kiến, kẻ thống trị chỉ lo vơ vét, không lo cứu giúp
dân nghèo. Nhưng nhiều cá nhân và tổ chức từ thiện xuất phát từ tình thương đồng
bào tự đứng ra tổ chức công tác quyên góp cứu giúp dân nghèo và nạn nhân của các
thiên tai. Lịch sử mãi mãi ghi nhận tấm gương xả thân làm từ thiện của cư sĩ Phật Giáo
Thiều Chửu-Nguyễn Hữu Kha và bà Cả Mọc (bà Hoàng Thị Uyển) trong hai đợt cứu
tế nạn lụt năm Đinh Sửu và nạn đói năm 1945. Các tôn giáo, nhất là Phật Giáo, đã có
nhiều đóng góp trong công việc từ thiện.

Thời gian qua, nhiều nhà chùa tổ chức trao tận tay hàng tỷ đồng hàng cứu trợ cho nạn
nhân các đợt lũ lụt. Đó chủ yếu là những đồng tiền do các thiện nam tín nữ biếu tặng
nhà chùa hoặc trả công cho một dịch vụ tôn giáo nào đó, thực chất là tiền của dân
chúng, nhà chùa đem giúp người nghèo là rất đúng hợp lý. Đồng bào cả nước đã tự
nguyện quyên góp hàng trăm tỷ đồng cho các quỹ từ thiện. Báo chí và các đài truyền
hình tổ chức nhiều hình thức quyên góp, như Quỹ Tấm Lòng Vàng. Mặt khác, Nhà
nước tiến hành nhiều dự án xoá đói giảm nghèo có hiệu quả.

Nhìn chung công tác từ thiện ở ta chủ yếu mới dựa vào sự quyên góp từ nhân dân, trong
khi đa số dân ta còn chưa giàu; phần đóng góp của giới người giàu chưa đáng kể, chưa

thành phong trào; cá biệt còn có người giàu hứa mà không làm. Quy mô công tác từ
thiện ở ta còn rất nhỏ, chủ yếu rộ lên khi có thiên tai, còn bình thường ít có biểu hiện.
Khi ấy từ thiện chỉ nặng tính chất “phát chẩn” chứ chưa giải quyết được vấn đề gốc rễ
của sự nghèo. Nói cách khác, ta còn chưa có văn hoá từ thiện.

Khi từ thiện trở thành văn hoá

Trong xã hội văn minh, từ thiện trở thành một thứ văn hoá; người ta quyên góp từ thiện
như một thói quen không cần suy tính, nhưng mặt khác lại có những tổ chức (thí dụ các
quỹ từ thiện) chuyên trách nghiên cứu sử dụng tiền từ thiện một cách có hiệu quả nhất.
Đây là sự thể hiện độ chín của xã hội công dân, tức xã hội trong đó người dân thông
qua hoạt động tự nguyện trong các Nhóm công dân (như tổ chức từ thiện, think tank ...)
để cùng chính quyền quản lý xã hội một cách hợp lý nhất.

Người phương Tây, đặc biệt người Mỹ, có truyền thống làm từ thiện quy mô lớn, nhất
là những người giàu. Truyền thống này bắt nguồn từ nguyện vọng sâu xa của tổ tiên
người Mỹ – những người châu Âu đầu tiên vượt đại dương di cư tới Bắc châu Mỹ để
tìm kiếm cuộc sống dân chủ tự do bình đẳng, – và từ đạo Tin Lành dạy mọi người phải
thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Ở nước Mỹ tồn tại một nền kinh tế không kiếm lời (non-profit economy) chuyên làm
từ thiện, có giá trị khoảng 8% GDP, sử dụng hơn 10 triệu người, tức gần 7% lực lượng
lao động, hơn cả tổng số công chức Mỹ. Năm 2009 Mỹ có 1.238.201 tổ chức từ thiện
hoạt động ở trong và ngoài nước. Tổng số vốn của 100 quỹ từ thiện lớn nhất lên tới
hơn 120 tỷ USD, một số quỹ trên 10 tỷ USD. Có quỹ còn lập các viện nghiên cứu y học,
môi trường để giúp nước nghèo. Nhiều tỷ phú lập quỹ từ thiện riêng để quản lý việc
đưa đồng tiền của mình đến tận tay người nghèo một cách hiệu quả nhất, và để quyên
góp từ xã hội.

Các tổ chức từ thiện dân lập xây dựng nhiều nhà ở hoặc nhà tạm trú và cung cấp bữa
ăn miễn phí cho người nghèo, người vô gia cư; mở cửa hiệu cung cấp thực phẩm hàng
hoá cho người nghèo, mở lớp dạy nghề miễn phí cho người thất nghiệp.

Viện trợ quốc tế do chính phủ Mỹ cung cấp tuy đứng đầu thế giới về số lượng (khoảng
20 tỷ USD/năm) song tỷ lệ so với GDP thì chưa đến 0,3%, mức thấp nhất trong các
nước phát triển. Bù lại, dân chúng Mỹ viện trợ rất nhiều cho các nước nghèo; năm 2007
họ đã giúp 115,9 tỷ USD (tương đương GDP Việt Nam hiện nay); nếu kể cả tiền góp
làm từ thiện trong nước thì rất lớn. Năm 2009 người Mỹ góp được 304 tỷ USD tiền từ
thiện (tương đương 2,1% GDP Mỹ), trong đó 75% do các cá nhân góp, 8% là tài sản do
những người già trước khi chết hiến tặng, 4% do các công ty góp. 65% các gia đình Mỹ góp
tiền từ thiện, mỗi gia đình mỗi năm bình quân góp 2213 USD.

Vua sắt thép Andrew Carnegie (1835-1919) từ 30 tuổi trở đi đã thực hiện lời hứa từ
thủa hàn vi là bao giờ kiếm được mỗi năm 50 nghìn đô-la thì phần thu nhập cao hơn sẽ
tặng hết cho xã hội. Vua dầu lửa J. D. Rockefeller Jr. (1874-1960) từng nói Chết trong
giàu sang là ô nhục.
Câu này được hiểu theo nghĩa người giàu trước khi chết phải biếu
hết tài sản cho xã hội, có như vậy chết mới thanh thản. Họ cho rằng để tài sản cho con
cháu hưởng chỉ làm hư chúng. Rất nhiều người Mỹ đã làm như vậy, kể cả người không
giàu.

Tháng 6/2010, hai người Mỹ giàu nhất Bill Gates và Warren Buffett phát động phong
trào Cam kết Hiến tặng (Giving Pledge campain) kêu gọi các nhà giàu cam kết trong
quãng đời còn lại, hoặc sau khi chết, sẽ hiến tặng một nửa tài sản cho xã hội. Riêng
Buffett đã hứa tặng 99%. Trước mắt họ kêu gọi 400 người Mỹ giàu nhất tham gia cam
kết và về sau sẽ mở rộng ra toàn thế giới. Hiện đã có 57 người ký cam kết này. Nếu
400 nhà giàu Mỹ đều làm như vậy thì tổng số tiền từ thiện của họ ít nhất sẽ là 600 tỷ
USD, tương đương GDP của Saudi Arabia, nước sản xuất nhiều dầu mỏ nhất thế giới .

Bao giờ ta sẽ có văn hoá từ thiện?

Cuối tháng 9/2010, Gates và Buffett đến tìm hiểu tình hình từ thiện ở Trung Quốc, là
nước hiện có nhiều tỷ phú đô-la nhất thế giới (189). Một tháng trước đó họ gửi thiếp
mời 50 nhà giàu Trung Quốc dự bữa tiệc gặp mặt thân mật họ sẽ tổ chức tại Bắc Kinh.
Nhưng một số người đã gửi trả thiếp mời, hoặc gọi điện hỏi xem đây có phải là dịp sẽ
bị mời tham gia phong trào cam kết hiến tặng hay không.

Tin ấy làm dư
luận Trung Quốc dấy lên một đợt bàn cãi sôi nổi về vấn đề công tác từ
thiện nước này còn lạc hậu nghiêm trọng so với nhu cầu phát triển của chính mình, tới
mức phải để nhà từ thiện nước ngoài đến “lên lớp”. Dư luận nhấn mạnh: để chứng tỏ
là một cường quốc, Trung Quốc không những phải trở thành nền kinh tế lớn mà còn
phải chủ động giúp các nước nghèo, nếu không thì chỉ chuốc lấy tiếng “Vi phú bất
nhân” (Giàu mà không thương người).

Khi bàn luận nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, đa số cho rằng đó là do tư duy
người phương Đông nói chung còn hẹp hòi thiển cận, người giàu chỉ nghĩ tới mình,
chưa nghĩ tới lợi ích quốc gia hoặc quốc tế. Tâm lý trọng gia đình khiến họ còn lo để tài
sản thừa kế cho con cháu, vì thế giàu bao nhiêu vẫn chưa đủ, chết đến nơi vẫn lo làm
giàu, và ngại giúp kẻ nghèo.

Thực ra người giàu Trung Quốc vẫn có làm từ thiện, song ít người nói ra, có lẽ vì họ
muốn giấu địa vị nhà giàu của mình. “Nhà từ thiện số một Trung Quốc” là ông Trần
Quang Tiêu Chủ tịch công ty Tận dụng tài nguyên tái sinh Hoàng Phố, từ năm 1998 tới
nay đã góp 1,34 tỷ Nhân Dân Tệ (1Tệ = 0,15 USD) cho xã hội, hơn 700 nghìn người
được hưởng lợi từ sự quyên góp ấy. Hôm 3/9/2010 ông công bố thư gửi hai tỷ phú
Gates và Buffett, trong có viết: “Hôm nay, khi hai ông đến Trung Quốc, đất nước nổi
tiếng thế giới bởi phẩm chất cần lao, trí tuệ và lương thiện này, tại đây tôi xin trịnh
trọng tuyên bố: tôi sẽ là doanh nhân Trung Quốc đầu tiên hưởng ứng và ủng hộ hành
động của hai ông. Khi rời thế giới này, tôi sẽ tặng xã hội toàn bộ tài sản của mình.”

Xã hội Việt Nam ngày nay khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng. Làm giàu
chân chính là một việc gian khổ, đòi hỏi nhiều phẩm chất quý. Ngày nay người giàu
được vinh danh, vì họ góp phần làm đất nước giàu mạnh. Nhưng họ chỉ thực sự được
tôn trọng nếu biết sử dụng đúng tài sản của mình, biết giúp đỡ đồng bào nghèo. Người
giàu chỉ lo ăn chơi thường bị gọi là trọc phú, tức người giàu kém hiểu biết.

Cần hiểu rằng tài sản xã hội là do toàn dân làm ra nhưng phân phối không đều; một số
ít người do có năng lực và có cơ hội nên chiếm phần hơn, trở thành người giàu, trong
khi đa số dân vẫn nghèo hơn. San sẻ tài sản của mình cho người nghèo là một nghĩa vụ
đạo đức. Con người khi chết thì thể xác về với đất, còn tài sản thì nên trở về với người
làm ra nó – nhân dân; đây là một hành động hợp “lẽ trời”. Để con cháu thừa kế tài sản
lớn là không hợp lẽ trời; vì không làm ra của cải nên chúng sẽ không biết sử dụng tài
sản đó, chỉ ăn chơi phung phí. Như vậy sẽ có hại cho chúng và cho đất nước.

Đáng mừng là nước ta hiện nay có khá nhiều người giàu, kể cả tỷ phú đô-la. Nhưng họ
đóng góp cho xã hội còn rất ít, kể cả đóng góp qua thuế và đóng góp từ thiện. Nhiều
người giàu giấu mặt. Tình trạng này có phần do nhà nước chưa thi hành chế độ công
khai tài sản cũng như chế độ thuế tài sản hợp lý. Nếu cứ để tình trạng “đi đêm” này
kéo dài thì chẳng những nhà nước mất nguồn thu mà phân hoá giàu nghèo sẽ ngày càng
sâu sắc, xã hội sớm muộn sẽ mất ổn định. Sự minh bạch hoá, công khai, trong suốt về
tài sản và thu nhập của mọi công dân, trước hết là công chức và doanh nhân, người
giàu, cần được nhà nước thể chế hoá bằng luật pháp, không được để các nhóm lợi ích
ngăn cản việc này.

Nhà nước và xã hội cần đẩy mạnh công tác từ thiện, đưa lên thành công việc hàng ngày
chứ không nên như hiện nay, chỉ rộ lên mỗi khi có thiên tai. Cần thành lập các quỹ từ
thiện, vận động quyên góp tiền thường xuyên từ các doanh nghiệp và doanh nhân, nhà
giàu, và tổ chức công tác này một cách quy mô, có chiến lược lâu dài nhằm đạt mục
tiêu “Không chỉ giúp người nghèo con cá mà quan trọng nhất phải giúp họ cái cần câu
cá”.

Bản thân người giàu cần thấy làm từ thiện không chỉ thể hiện đạo đức thương người
của mình mà còn là một công việc có tầm quan trọng quốc gia, có ý nghĩa với dân tộc;
vì thế phải lập kế hoạch làm từ thiện suốt đời và dành thời gian tiến hành công tác này
sao cho hiệu quả nhất, không phải chỉ góp một số tiền là xong.

Muốn làm tốt công tác từ thiện, cần tạo điều kiện để xã hội ta dần dần tiến lên thành
xã hội công dân, sao cho từng người dân thực sự làm chủ đất nước bằng hành động
tham gia cùng chính quyền tổ chức đời sống mọi mặt của xã hội. Chừng nào từ thiện
chưa trở thành một dạng văn hoá thì xã hội ta còn chưa thể được coi là xã hội văn
minh.

THẠCH GIẢN