Menu

Trang nhà > Quan niệm > Đối thoại > Bản đồ Trung Quốc năm 1904

Bản đồ Trung Quốc năm 1904

Thứ Hai 6, Tháng Tám 2012

  • Ông có thể kể lại việc sưu tầm và lưu giữ cuốn bản đồ của Trung Quốc năm 1904?

Hôm đó, ông cụ chuyên mua bán sách cũ cho Viện Hán Nôm tên là Nguyễn Văn Công (ở Phú Xuyên) đem cuốn bản đồ đến cho tôi và bảo cụ đi cả môt tuần chỉ có mỗi cái này, giá 70-80 đồng. Nhưng ngặt nỗi, Viện Hán Nôm chỉ sưu tầm sách cổ thôi chứ không sưu tầm bản đồ mà giá tiền lại cao, có thể mua được cả gánh sách. Nghĩ đến cụ còn đi lại bán sách cho mình nhiều, nhất là cái nhân tình, công lao cụ phơi sương phơi gió khắp trần gian cả tuần nên tôi rút tiền túi biếu cụ cả 100 đồng. Tiền lương tháng của tôi lúc đó có 70 đồng, số tiền mua sách gần bằng tháng rưỡi lương của tôi nên sau khi mua, tôi lén mang về nhà, giấu biệt đi, trước tiên là giấu vợ. Do đó, từ lúc nhận từ tay ông cụ bán sách, tấm bản đồ này nằm im lìm hơn 30 năm trong cái hòm chuyên để đựng sách cổ và những tài liệu tôi ít dùng dựng ở góc nhà.

  • Con đường nào đưa tấm bản đồ Trung Quốc 1904 sang Việt Nam và sau đó đến tay ông?

Cái này tôi cũng không thể đoán được. Tuy nhiên, ngày xưa, việc làm và in ấn bản đồ chỉ để cho triều đình biết thôi chứ không công bố rộng rãi hay làm công cụ dạy học như bây giờ. Nó thường được cất kín trong cung cấm hoặc lưu hành nội bộ trong phạm vi quan triều. Do đó, tôi cho rằng người đưa được tấm bảm đồ này về Việt Nam có thể là người đi sứ hoặc quý tộc có máu mặt, quan hệ với Trung Quốc.

Còn tấm bản đồ đến tay tôi là một cái duyên. Ông bạn tôi ở dưới quê biết tin tôi có tấm bản đồ cổ quý này thì gọi điện lên bảo: “hồn thiêng sông núi nó đẩy vào tay cậu”.

  • Ngoài những chú thích cho thấy cực Nam của Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam, còn có phần chữ Hán. Phần đó viết gì thưa ông?

Tấm bản đồ có tên chữ Hán là: Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, dịch nghĩa là: địa dư toàn đồ tới các tỉnh của triều nhà Thanh.

Phần chữ Hán phía trên bản đồ là một bài thuật về sử dụng bản đồ và đội ngũ giáo sĩ, trí thức làm bản đồ. Theo lời thuật, tấm bản đồ này được làm trong gần 200 năm. Bắt đầu từ năm Mậu Tý Khang Hy 47 (1708), đời vua Thanh Thánh Tổ Nhân Hoàng tuyển phái các giáo sĩ Bạch Tấn Lôi Hiểu, Tư Đỗ Đức Mỹ chế tác Vạn lý thành đồ. Sau hơn 1 năm (1710) công trình này hoàn thành, vua vui mừng lại xuống chiếu cho giáo sĩ Phan Như Lôi Hiểu, Tư Đỗ Đức Mỹ vẽ bản đồ Mạch đại thành đưa Mông Cổ, Mãn Châu hợp thành bản đồ của hai tỉnh Trực Lệ và Sơn Đông. Đến năm Tân Mão Khang Hy 50 (1711) vua tiếp tục sai các giáo sĩ đi khắp 13 tỉnh đo lường đất đai, tạo bản đồ Mạch đại. Những năm sau đó, đội ngũ giáo sĩ tiếp tục tục biên tục bổ và đến năm Giáp Thìn Quang Tự (1904), tấm “địa dư toàn đồ tới các tỉnh của triều nhà Thanh” hoàn chỉnh.

  • Lúc bỏ tiền khá lớn để mua cuốn bản đồ đó, ông có nghĩ nó giá trị và ý nghĩa với người dân Việt Nam như hiện nay không?

Không, lúc đó tôi mua chỉ đơn giản là nghĩ đến cái nhân tình với ông cụ bán sách thôi nên ngay từ khi mua tôi cất ngay vào tủ và không bao giờ nhấc ra. Chỉ đến đầu tháng 5 vừa rồi, qua báo đài nói nhiều đến vấn đề tranh chấp biển Đông nên tôi mới lôi ra đọc, mà chỉ dám đọc trộm vợ con thôi. Số tiền mua cuốn sách bây giờ thì chả là gì nữa nhưng một người biết có thể nhiều người sẽ biết, sẽ gây mất an toàn với việc lưu giữ tấm bản đồ và tính mạng những người trong gia đình.

  • Khi trao tặng tấm bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử, ông có mong muốn gì?

Tôi không cần chế độ đãi ngộ gì cả. Với tôi, tổ quốc là trên hết. Tôi quyết định trao tấm bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử là để bảo lưu được tốt hơn vì sau khi thông tin đã lên báo, đài mà vẫn giữ trong nhà thì không an toàn.

Tôi chỉ có mong muốn công bố tấm bản đồ rộng rãi trên tất cả mặt báo (báo viết, báo điện tử), các kênh truyền hình một cách rõ ràng cho toàn dân Việt Nam, Trung Quốc, giới khoa học hai nước và toàn thế giới biết.

Chúng ta phải truyền thông thật nhanh để bản gốc đó không phải là độc bản nữa. Tôi đã đề nghị giám đốc Bảo tàng lịch sử sao thật nhiều bản, đặt ở các bảo tàng khác, các thư viện lớn như thư viện Quốc gia để mọi người đến các nơi đó đều có thể biết. Trung Quốc không thể đòi lại, trấn lột nữa khi cả thế giới đều biết sự thật.

  • Vậy theo ông, bằng cách nào để người dân trên cả nước cũng như khắp thế giới đặc biệt là người dân và giới tri thức Trung Quốc biết tấm bản đồ đó và tác động đến dư luận Trung Quốc thế nào để họ nhận thức được sự thật không thể chối cãi về địa phận của đất nước họ?

Tôi cho rằng có rất nhiều cách nhưng nhanh và hiệu quả nhất là truyền thông. Mạng internet bây giờ rất phổ biến nên ta có thể đăng bản đồ cùng các tin bài liên quan lên các báo điện tử, các trang mạng xã hội. Tuy nhiên, vẫn chú trọng đến báo in. Ngoài ra, ta có thể đưa ra trong các cuộc hội thảo của giới tri thức.

Mà con đường để tấm bản đồ tiếp cận với người dân Trung Quốc, tác động đến dư luận Trung Quốc nhanh nhất là chúng ta tác động đến thế giới trước sau đó mới quay về tác động trực tiếp đến Trung Quốc. Một khi cả thế giới đều biết, đều thừa nhận sự thật thì Trung Quốc không thể không biết và phủ nhận được. Hơn nữa, dân số Trung Quốc rất đông, người Trung Quốc có mặt trên khắp thế giới. Hãy để họ tự đưa về và truyền bá cho người dân trong nước.

  • Với những nghiên cứu khoa học và tin tức thời sự, ông có thể đưa ra những phán đoán của cá nhân về diễn biến biển Đông trong thời gian tới?

Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” hoàn toàn đủ cơ sở pháp lý để chúng ta kiện Trung Quốc xâm phạm Trường Sa – Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nếu Trung Quốc không chấp nhận bằng chứng này tức là phản lại tổ tiên họ.

  • Xin cảm ơn ông!

NGỌC ANH (DVO)