Menu

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > VĂN XUÔI MỸ KỂ TỪ 1945: CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ SỰ THỂ NGHIỆM (kỳ 1)

VĂN XUÔI MỸ KỂ TỪ 1945: CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ SỰ THỂ NGHIỆM (kỳ 1)

Thứ Năm 24, Tháng Năm 2007

Văn chương tự sự từ Thế chiến thứ hai chống lại sự khái quát hóa bởi vì nó cực kỳ phong phú và đa diện. Nó được hồi sinh bởi các trào lưu văn học thế giới, như là chủ nghĩa hiện sinh châu Âu và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo châu Mỹ Latin, trong lúc kỷ nguyên điện tử đã biến thế giới rộng lớn thành một ngôi nhà chung. Ngôn ngữ nói trên truyền hình đã mang cuộc sống mới đến cho truyền thống văn học nói. Những thể loại truyền miệng, phương tiện thông tin đại chúng và văn hóa phổ thông ngày càng ảnh hưởng tới văn chương tự sự.

Trong quá khứ, nền văn hóa bác học đã ảnh hưởng đến văn hóa bình dân qua vị thế và mẫu mực của nó; điều ngược lại có vẻ đúng với nước Mỹ ngày nay. Những nhà văn nghiêm túc như Thomas Pynchon, Joyce Carol Oates, Kurt Vonnegut, Jr., Alice Walker và E. L. Dotorow đã vay mượn và bình luận về truyện bằng tranh trên báo, những cuốn phim, thời trang, những ca khúc và lịch sử.

Nói lên điều này không nhằm tầm thường hóa nền văn học đương đại: Các nhà văn ở Mỹ đang đặt nhiều câu hỏi nghiêm túc, nhiều câu trong đó có bản chất siêu hình. Họ có tinh thần đổi mới và tự nhận thức mình, hay “phản tỉnh”, rất cao. Thông thường họ thấy những kiểu cách truyền thống không mấy hiệu quả. Họ tìm kiếm sức sống trong chất liệu thông thường, rộng lớn hơn. Nói một cách khác: nhà văn Mỹ, trong những thập kỷ gần đây đã phát triển một cảm thức hậu - hiện đại. Việc điều chỉnh lại các quan điểm của các nhà văn theo chủ nghĩa hiện đại không còn phù hợp đối với họ; cái chính là điều kiện cho những quan điểm mới ra đời.

DI SẢN KẾ THỪA CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ NHỮNG NĂM CUỐI CỦA THẬP NIÊN 1940

Giống như tiểu thuyết trong nửa đầu thế kỷ 20, tiểu thuyết ở nửa sau của thế kỷ phản ánh đặc điểm của mỗi thập kỷ. Những năm cuối thập kỷ 40 đã chứng kiến hậu quả của Thế chiến II và sự bắt đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh.

Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã cung cấp những chất liệu cơ bản cho nhiều tác phẩm. Norman Mailer trong tác phẩm The Naked and the Dead (Kẻ trần truồng và người chết-1948) và James Jones trong From Here to Eternity (Từ đây đến vô tận-1951) là hai nhà văn đã sử dụng những chất liệu sống tốt nhất. Cả hai đều khai thác chủ nghĩa hiện thực rất gần với chủ nghĩa tự nhiên trần trụi; cả hai đều cố hết sức để không tôn vinh cuộc chiến. Điều này cũng xảy ra với The Young Lions (Sư tử non-1948) của Irwin Shaw. Herman Wouk trong The Caine Mutiny (Cuộc tạo phản ở Caine-1951), cũng cho thấy những nhược điểm của con người hiện rõ trong thời chiến cũng như trong cuộc sống dân sự. Về sau, Joseph Heller mô tả Chiến tranh Thế giới Thứ hai bằng những từ ngữ có tính cách châm biếm và phi lý, chẳng hạn như Catch-22[1] (Cạm bẫy-1961), lập luận rằng chiến tranh luôn kết hợp với sự điên loạn. Thomas Pynchon trình bày một tình huống nổi bật, phức tạp nhại theo và thay thế những tình huống khác nhau trong thực tế trong cuốn Gravity’s Rainbow (Cầu vồng của trọng lực-1973). Kurt Vonnegut, Jr., đã trở thành một trong những ngọn hải đăng của trào lưu phản văn hóa trong những năm đầu thập niên 70 sau khi xuất bản cuốn Slaughterhouse - Five: or, The Children’s Crusade (Lò sát sinh số 5 hoặc cuộc thập tự chinh của trẻ con-1969). Cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh của ông nói về cuộc đánh bom ở Dresden (Đức) của lực lượng Đồng minh trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai (cuộc ném bom mà ông đã chứng kiến từ dưới mặt đất khi là tù binh).

Thập niên 40 cũng chứng kiến sự lên ngôi của đội ngũ tài năng trẻ, bao gồm nhà thơ - tiểu thuyết gia - nhà viết tiểu luận Robert Penn Warren, hai nhà soạn kịch Arthur Miller và Tennessee Williams, những nhà văn viết truyện ngắn Katherine Anne Porte và Endora Welty. Tất cả đều là những nhà văn người miền Nam trừ Miller. Tất cả đều khám phá thân phận cá nhân trong gia đình hay cộng đồng và xoáy vào sự cân bằng giữa sự phát triển cá nhân và trách nhiệm đối với cộng đồng.

Robert Penn Warren (1905-1989)

Robert Penn Warren, một trong những nhà văn nhóm Fugutive ở miền Nam, gặt hái được thành công mỹ mãn hầu như trong suốt thế kỷ 20. Suốt cuộc đời mình, ông quan tâm đến những giá trị dân chủ khi chúng xuất hiện trong các bối cảnh lịch sử khác nhau. Cuốn tiểu thuyết ngự trị lâu dài nhất của ông là All the King’s Men (Tất cả thần dân của vua-1946), xoáy sâu vào những khía cạnh đen tối của giấc mơ Mỹ - được bộc lộ trong câu chuyện về con đường tiến thân đầy những uẩn khúc của một thượng nghị sĩ miền Nam khoe khoang và ranh mãnh - Huey Long.

Arthur Miller (1915-2005)

Nhà soạn kịch, viết tiểu thuyết, viết tiểu luận và viết tiểu sử người New York - Arthur Miller - đạt đến đỉnh cao vào năm 1940, với cuốn Death of a Salesman (Cái chết của người chào hàng). Cuốn sách là một công trình nghiên cứu của một con người trong cuộc tìm kiếm danh dự và giá trị của anh ta trong cuộc sống và sự nhận thức rằng thất bại luôn chờ phía trước một cách chắc chắn. Chuyện xảy ra trong gia đình Loman, xoay quanh những mối quan hệ khập khiễng giữa người cha và những đứa con trai, giữa chồng và vợ. Nó là tấm gương phản chiếu tình hình văn học vào thập niên 40 - một sự kết hợp phong phú giữa chủ nghĩa hiện thực với hơi hướng của chủ nghĩa tự nhiên: các nhân vật được khắc họa cẩn thận, tròn trịa; và nhấn mạnh vào giá trị của mỗi cá nhân, mặc cho những thất bại và lỗi lầm. Death of a Salesman là một bài ca chiến thắng thật cảm động cho những con người bình thường - như bà góa phụ Willy Loman ca ngợi, “phải chú ý đến họ”. Thương tâm và ảm đạm, nó cũng là câu chuyện về những giấc mơ. Như một nhân vật ghi nhận một cách mỉa mai, “một người chào hàng cũng phải mơ ước, bé ạ. Nó đến cùng với đất đai”.

Death of a Salesman, một tác phẩm đặc sắc, vẫn chỉ là một trong nhiều vở kịch Miller viết qua nhiều thập kỷ, gồm All My Sons[2] (Tất cả đều là con tôi-1947) và The Crucible[3] (Thử thách cam go-1953). Cả hai đều mang tính chính trị - một vở về thời hiện đại, vở kia lấy bối cảnh thời thuộc địa. All My Sons nói về một nhà sản xuất dù biết rõ vẫn cho phép những phụ tùng không đạt yêu cầu được lắp ráp ở những công ty máy bay trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, dẫn đến cái chết của chính đứa con trai của ông và những người khác. The Crucible khắc họa những phiên tòa xử phù thủy ở Salem (Massachusetts) vào thế kỷ 17 trong đó một số người định cư Thanh giáo đã chết oan vì bị cho là phù thủy. Tuy nhiên, thông điệp của nó - rằng “cuộc thanh trừng phù thủy” nhắm vào những người dân vô tội là con ghẻ của nền dân chủ - lại có liên quan đến giai đoạn trong đó vở kịch được dàn dựng, đó là những năm đầu thập niên 50, khi một chiến dịch chống cộng do thượng nghị sĩ Joseph Mc Carthy và những người khác lãnh đạo đã hủy hoại mạng sống của bao người dân vô tội.

Tennessee Williams (1911-1983)

Tennessee Williams, người vùng Mississippi, là một trong những nhà văn khá phức tạp trên văn đàn nước Mỹ vào giữa thế kỷ 20. Tác phẩm của ông tập trung vào những xúc cảm xáo trộn, rối rắm và vấn đề tính dục chưa được giải quyết ổn thỏa trong đời sống gia đình - hầu hết là ở miền Nam. Ông nổi tiếng về những câu nói lặp đi lặp lại như thần chú, một cách diễn đạt đầy chất thơ của miền Nam, về những bối cảnh Gothic kỳ lạ, và những khám phá về những khát khao tình dục theo Freud. Là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên công khai sống như một người đồng tính luyến ái, Williams giải thích rằng đời sống tính dục của các nhân vật bị đọa đầy của ông diễn đạt sự cô đơn của họ. Những nhân vật của ông sống và chịu đau khổ một cách sâu xa.

Williams viết hơn 20 vở kịch dài, nhiều vở mang tính chất tiểu sử tự thuật. Ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp tương đối sớm - vào thập niên 40 - với The Glass Menagerie (Bầy thú bằng thủy tinh -1944) và A Streetcar Named Desire (Chiếc xe điện mang tên Dục vọng -1947). Không một tác phẩm nào trong suốt hơn 2 thập kỷ sau đó đạt được mức độ thành công và phong phú như hai vở kịch này.

Katherine Anne Porter (1890-1980)

Cuộc đời và sự nghiệp dài lâu của Katherine Anne Porter trải qua nhiều mốc lịch sử. Tác phẩm thành công đầu tiên của bà, câu chuyện “Flowering Judas” (Judas Hoàn thiện-1929), lấy bối cảnh ở Mexico trong thời kỳ cách mạng. Những truyện ngắn trau chuốt tuyệt vời mang lại danh tiếng cho bà qua những mảng đời được bộc bạch một cách tinh tế: “The Jilting of Granny Weatherall” (Người tình phụ bạc của bà ngoại Weatherall) chẳng hạn, đã chuyển tải những cảm xúc lớn lao một cách chính xác, ngắn gọn. Bà thường mô tả đời sống nội tâm của phụ nữ và sự lệ thuộc của họ vào đàn ông.

Những sắc thái biểu cảm của Porter chịu ảnh hưởng nhiều từ những câu chuyện của nhà văn sinh ở New Zealand, Katherine Mansfield. Những tập truyện của Porter bao gồm Flowering Judas (1930), Noon Wine (Rượu trưa-1937), Pale Horse, Pale Rider (Ngựa còi, nài cọc-1939), The Leaning Tower (Tháp nghiêng-1944) và Collected Stories (Truyện ngắn chọn lọc-1965). Vào đầu những năm 60, bà sáng tác một tiểu thuyết dài mang tính chất phúng dụ với một đề tài phi thời gian về trách nhiệm giữa người với người. Câu chuyện có tựa đề Ship of Fools (Con tàu của những người ngu-1962) xảy ra trên boong một con tàu chở khách mang những con người thuộc xã hội thượng lưu Đức và những người dân tị nạn của Đức trốn chạy bọn phát xít Đức vào cuối những năm 30.

Tuy không viết nhiều, sáng tác của Porter vẫn ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nhà văn, trong số họ có những bạn văn miền Nam của bà là Eudora Welty và Flannery O’Connor.

Eudora Welty (1909-2001)

Sinh ở Mississippi trong một gia đình khá giả sau này chuyển lên sống ở miền Bắc, Eudora Welty được Warren và Porter dẫn dắt vào nghề. Thật ra, Porter đã viết lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của Welty, A Curtain of Green (Màn cửa xanh lá cây-1941). Welty nương theo khuôn mẫu của Porter để viết các tác phẩm của mình nhưng nữ văn sĩ trẻ quan tâm hơn đến những điều khôi hài và lập dị. Cũng như với Flannery O’Connor sau này, các nhân vật trung tâm của bà thường bất thường, quái dị hay ở những trường hợp ngoại lệ.

Mặc dù tác phẩm của bà có nhiều yếu tố bạo lực, trí thông minh của Welty tự bản chất mang tính nhân bản và lạc quan, ví dụ như trong câu chuyện thường được đưa vào các tuyển tập chính của bà: Why I Work at the P.O. (Tại sao tôi làm việc ở Bưu điện), nói về một đứa con gái bướng bỉnh và độc lập bỏ nhà đến sống trong một bưu điện nhỏ xíu. Những tập truyện của bà bao gồm The Wide Net (Mạng rộng-1943), The Golden Apples (Những trái táo vàng-1949), The Bride of the Innisfallen (Cô dâu của Innisfallen-1955), và Moon Lake (Hồ Trăng-1980). Welty cũng viết những cuốn tiểu thuyết như Delta Wedding (Đám cưới Delta-1946), kể chuyện một gia đình ở một trang trại trong thời hiện đại và The Optimist’s Daughter (Con gái người lạc quan-1972).

(còn tiếp: kỳ 2)


Xem online : TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI VÀ THỂ NGHIỆM THỜI KỲ 1914-1945