Menu

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI VÀ THỂ NGHIỆM THỜI KỲ 1914-1945 (kỳ 1)

TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI VÀ THỂ NGHIỆM THỜI KỲ 1914-1945 (kỳ 1)

Thứ Tư 23, Tháng Năm 2007

Nhiều sử gia nêu rõ đặc điểm của nước Mỹ trong khoảng thời gian giữa hai thế chiến như là một sự khủng hoảng tâm lý, mặc dù thời gian Mỹ dính líu trực tiếp đến chiến tranh tương đối ngắn (1917-1918) và thiệt hại của nó ít hơn nhiều so với những đồng minh châu Âu và những kẻ thù của nó. John Dos Passos đã diễn tả cái ảo tưởng tan vỡ của Mỹ sau chiến tranh trong cuốn tiểu thuyết Three Soldiers (Ba người lính -1921), trong đó ông cho rằng nền văn minh là một “công trình khổng lồ của sự giả dối và chiến tranh, thay vì là đống tro tàn của nó, lại là sự diễn đạt sau cùng và đầy đủ nhất của cái gọi là văn minh”. Bị chấn động và đã vĩnh viễn thay đổi, người lính Mỹ trở về nhà nhưng không bao giờ lấy lại được sự ngây thơ trong sáng của mình.

John Dos Passos (trái), Theodore Dreiser (giữa), Samuel Ornitz (phải)

Cả những người lính ra đi từ những miền quê của nước Mỹ cũng không dễ dàng trở về với cái trước đây đã là cội rễ trong cuộc sống của họ. Sau khi bôn ba khắp thế giới, nhiều người trong số họ giờ đây ước ao có được một cuộc sống tiện nghi hiện đại nơi thị thành. Những máy móc mới dùng trong nông nghiệp như máy trồng lúa, máy gặt, và máy bó đã giảm thiểu đáng kể nhu cầu về lao động nông nghiệp, tuy vậy dù sản phẩm gia tăng, nông dân vẫn nghèo. Giá nông sản, cũng như lương công nhân, tùy thuộc vào sức mạnh thị trường tự do chịu ảnh hưởng nặng nề của các tập đoàn kinh doanh: trợ cấp của chính phủ cho nông dân và những nghiệp đoàn công nhân thực sự chưa được thiết lập. “Công việc chủ yếu của người dân Mỹ là kinh doanh”, tổng thống Calvin Coolidge tuyên bố vào năm 1925, và hầu hết mọi người đã đồng ý với ông.

Trong thời kỳ “bùng nổ lớn” sau chiến tranh, thương mại nở rộ, các nhà đầu tư gặt hái những thành công và tiền bạc còn vượt xa giấc mơ hoang đường nhất của họ. Lần đầu tiên, nhiều người dân Mỹ đăng ký học đại học, vào những năm 20, sinh viên đại học tăng gấp dôi. Tầng lớp trung lưu phát đạt; người dân Mỹ bắt đầu được hưởng lợi tức trung bình quốc gia cao nhất thế giới vào thời kỳ đó. Và nhiều người đã mua cho được vật tượng trưng cho địa vị xã hội cao nhất: chiếc xe hơi. Ngôi nhà của các gia đình Mỹ bậc trung điển hình ở thành phố đã sáng ánh điện và họ huênh hoang về chiếc radio đã nối nhà mình với thế giới bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có thể có một cái điện thoại, một máy ảnh, một máy đánh chữ, hay một cái máy may. Giống như nhân vật thương gia trong cuốn Babbitt (1922) của Sinclair Lewis, các công dân Mỹ tán thưởng những cái máy này bởi vì chúng tân tiến và bởi vì hầu hết chúng là phát minh của người Mỹ và được sản xuất ở Mỹ.

Người dân Mỹ của “thập niên 20 sôi nổi” say mê các phương tiện giải trí hiện đại. Hầu như tất cả mọi người đều đi xem phim mỗi tuần một lần. Mặc dù có luật cấm sản xuất, vận chuyển và bán rượu được ban hành qua tu chính án thứ 18 - có hiệu lực vào đầu năm 1919, các quán rượu lậu và hộp đêm nơi trình diễn nhạc Jazz, bán cocktail, trình diễn các mốt quần áo táo bạo và những vũ điệu bốc lửa vẫn mọc lên như nấm. Xem phim, lái xe du ngoạn, khiêu vũ và máy thu thanh là những say mê điên cuồng của cả nước. Đặc biệt phụ nữ ở Mỹ cảm thấy được tự do. Nhiều người đã rời trang trại, làng quê làm nhiệm vụ cho tiền tuyến ở những thành phố lớn ở Mỹ trong Thế chiến I và đã lột xác hoàn toàn. Họ cắt tóc ngắn, mặc váy ngắn “phất phơ”, và hân hoan được quyền bỏ phiếu nhờ vào tu chính Hiến pháp thứ 19 được thông qua vào năm 1920. Họ mạnh dạn phát biểu những gì mình nghĩ và tham gia những công việc chung của xã hội.

Trong khi đó, thế hệ trẻ phương Tây thì nổi loạn, giận dữ và vỡ mộng với cuộc chiến tàn khốc, với thế hệ đi trước có trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này, và với những điều kiện kinh tế khó khăn sau chiến tranh mà oái ăm thay lại cho phép người dân Mỹ với một ít đô la - như các nhà văn F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, Gertrude Stein, và Ezra Pound sống ở nước ngoài một cách phong lưu, vương giả. Những trào lưu tri thức, đặc biệt là phân tâm học của Freud và ở một chừng mực ít hơn chủ nghĩa Mác (giống như thuyết tiến hóa thời kỳ đầu của Darwin), hướng tới một thế giới quan “vô thần” đã góp phần vào cuộc lật đổ những giá trị truyền thống. Người Mỹ ở hải ngoại tiếp thu những quan điểm này, đem chúng về Mỹ, nơi chôn rau cắt rốn của họ, kích thích trí tưởng tượng của các nhà văn và nghệ sĩ trẻ. Chẳng hạn William Faulkner, một tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 20 đã sử dụng những yếu tố phân tâm học của Freud trong tất cả những tác phẩm của mình, cũng như hầu hết những nhà văn Mỹ nghiêm túc sau Thế chiến thứ I. Mặc dù có một vẻ bên ngoài sôi động, hiện đại và một cuộc sống vật chất dồi dào chưa từng có, giới trẻ Mỹ thập niên 20 vẫn thuộc về một “thế hệ lạc lõng” như Gertrude Stein - một người chuyên viết chân dung văn học - đã đặt tên. Thiếu một cơ cấu truyền thống, bền vững về giá trị làm người, người ta đánh mất luôn cái ý thức về bản thân. Một chỗ dựa của tổ ấm gia đình; một môi trường xã hội thân thuộc, ổn định; thiên nhiên và cái nhịp điệu vĩnh cửu của nó đã hướng dẫn việc gieo trồng và gặt hái trong các nông trại; ý thức yêu nước được bồi dưỡng thường xuyên; những giá trị đạo đức được nhấn mạnh bởi niềm tin tôn giáo và sự chiêm nghiệm cá nhân -tất cả những điều đó dường như đã bị Chiến tranh thế giới thứ I và hậu quả của nó làm băng hoại.

Nhiều cuốn tiểu thuyết, đáng chú ý là The Sun Also Rises (Rồi mặt trời cũng mọc -1925) của Hemingway và This Side of Paradise (Phía bên này thiên đường -1920) của Fitzgerald vẽ ra sự phí phạm và những ảo mộng tan tành của thế hệ lạc lõng. Trong bài thơ dài gây nhiều ảnh hưởng của T. S. Eliot, The Waste Land (Cõi hoang tàn -1922), một sa mạc trơ trụi cầu mưa trong tuyệt vọng (sự phục sinh tâm linh) là biểu tượng của nền văn minh phương Tây.

Cuộc khủng hoảng thế giới vào thập niên 30 đã tác động đến hầu hết dân chúng Mỹ. Công nhân mất việc làm, nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp và ngân hàng vỡ nợ; nhà nông không thể gặt hái, vận chuyển, hay bán được nông sản, đã không thể trả nợ và đành để mất trang trại của mình. Hạn hán ở miền Trung Tây biến “vựa lúa” này của nước Mỹ thành một vùng sa mạc khổng lồ. Nhiều nông dân bỏ xứ đến California kiếm việc, như John Steinbeck mô tả một cách sống động trong The Grapes of Wrath (Chùm nho uất hận -1939). Ở đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế, một phần ba người Mỹ bị mất việc. Cơm bố thí, những khu ổ chuột và những đoàn quân tìm việc - những người thất nghiệp đi lậu theo những chuyến tàu chở hàng để kiếm việc làm - trở thành một mảng trong đời sống đất nước. Nhiều người cho rằng cuộc khủng hoảng là sự trừng phạt cho tội sùng bái vật chất thái quá và lối sống buông thả. Họ tin rằng những cơn bão làm đen tối bầu trời miền Trung Tây tạo nên ngày phán xét trong Cựu ước: “Những cơn xoáy lốc giữa ban ngày và bóng đêm bao phủ giữa ban trưa”.

Cuộc đại khủng hoảng làm đảo điên cả thế giới. Nước Mỹ đã rao truyền một kiểu Kinh thánh kinh doanh vào thập niên 20. Giờ đây nhiều người Mỹ ủng hộ một vai trò tích cực hơn của chính phủ thể hiện trong chương trình Biện pháp mới của Tổng thống Franklin Roosevelt. Tiền của liên bang tạo nên công việc ở các công trình công cộng, việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và điện khí hóa nông thôn. Nghệ sĩ và trí thức được trả lương để sáng tác những bích họa, và những cẩm nang cho các bang. Những biện pháp này đã có hiệu quả, nhưng chỉ có sự gia tăng đều đặn các ngành công nghiệp của Chiến tranh Thế giới Thứ hai mới làm sống lại sự thịnh vượng. Sau khi Nhật tấn công Mỹ ở Trân Châu cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, những xưởng đóng tàu và nhà máy trước đó đã phải đóng cửa lại sống dậy nhộn nhịp sản xuất hàng loạt tàu chiến, máy bay, xe Jeep và quân trang, quân dụng. Sản xuất và thử nghiệm phục vụ chiến tranh dẫn đến những kỹ thuật mới, gồm cả bom nguyên tử. Chứng kiến vụ thử nổ bom nguyên tử đầu tiên, Ropert Oppenheimer, người lãnh đạo nhóm các nhà khoa học nguyên tử quốc tế trích dẫn một bài thơ tiếng Hindi một cách đầy tiên tri: “Tôi đang biến thành Tử thần, kẻ đập tan tành thế giới”.

TRÀO LƯU HIỆN ĐẠI

Làn sóng văn hóa lớn của trào lưu Hiện đại diễn đạt ý thức về cuộc sống hiện đại qua các loại hình nghệ thuật như là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với quá khứ cũng như là với các truyền thống cổ điển của nền văn minh phương Tây, đã từ từ trỗi dậy ở châu Âu và Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Cuộc sống hiện đại hình như khác biệt một cách cơ bản với lối sống truyền thống - khoa học hơn, tốc độ hơn, kỹ thuật hơn và máy móc hơn. Chủ nghĩa hiện đại bao gồm luôn cả những thay đổi này.

Tranh Picasso: G. Stein

Trong văn học, Gertrude Stein (1874-1946) đã phát triển một sự tương đồng với nghệ thuật hiện đại. Là một cư dân Paris và một nhà sưu tập nghệ thuật (bà và người em trai Leo đã mua các tác phẩm của Paul Cézanne, Paul Gauguin, Pierre August Renoir, Pablo Picasso, và nhiều họa sĩ khác), Stein đã từng giải thích rằng bà và Picasso đang làm một công việc giống nhau, ông ta trong lĩnh vực hội họa và bà trong văn học. Sử dụng từ vựng cụ thể, đơn giản thay thế, bà phát triển một loại thơ văn xuôi thử nghiệm, trừu tượng. Tính chất trẻ thơ trong từ vựng đơn giản của Stein gợi nhớ những màu nguyên, tươi sáng trong hội họa hiện đại, còn sự lặp lại của bà âm vang những hình thể được lặp đi, lặp lại của những bố cục tạo hình trừu tượng. Bằng cách bố trí sai ngữ pháp và dấu chấm câu, bà đạt được những ý nghĩa “trừu tượng” mới như trong tập thơ gây nhiều ảnh hưởng của bà là Tender Buttons (Những chiếc cúc áo dịu dàng -1914), nhìn sự vật từ các góc độ khác nhau, như trong một bức tranh lập thể:

Một cái bàn một cái bàn không phải của tôi
trìu mến nó nghĩa là tất cả sự đều đặn
Nó giống như một sự đổi thay. Một cái bàn.
có ý nghĩa nhiều hơn một cái ly
hơn cả một tấm gương soi cao vòi vọi

Ý nghĩa, trong tác phẩm của Stein, thường lệ thuộc vào kỹ thuật, cũng như chủ đề thì ít quan trọng hơn cái hình thức trong nghệ thuật tạo hình trừu tượng. Chủ đề và kỹ thuật trở nên không thể tách rời nhau trong nghệ thuật tạo hình lẫn văn học thời đó. Luận điểm cho rằng hình thức như là một cái gì tương đương với nội dung là một hòn đá tảng đặt nền móng cho văn học và nghệ thuật sau Thế chiến II, được kết tinh trong chính thời kỳ này.

Sự cải tiến kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp và cơ giới đã khơi gợi cảm hứng cho sự quan tâm mới đến kỹ thuật trong nhiều ngành nghệ thuật. Một thí dụ: Ánh sáng và đặc biệt là ánh sáng điện đã lôi cuốn nhiều nghệ sĩ và nhà văn hiện đại.

Bích chương quảng cáo thời kỳ này tràn ngập những hình ảnh về các ngôi nhà chọc trời rực rỡ ánh đèn và những chùm tia sáng chiếu ra từ đèn xe ô tô, rạp chiếu bóng, và những tháp canh để rọi sáng một không gian tối tăm bị cấm đoán bên ngoài, ám chỉ sự ngu dốt và truyền thống lỗi thời.

Nhiếp ảnh bắt đầu có được vị trí của một ngành nghệ thuật đi liền với những phát triển khoa học mới nhất. Nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz mở một phòng triển lãm ở New York. Và khoảng trước 1908 ông trưng bày các tác phẩm châu Âu mới nhất, bao gồm tranh của Picasso và những người bạn châu Âu khác của Gertrude Stein. Phòng triển lãm của Stieglitz tác động đến nhiều nhà văn và nghệ sĩ trong đó có William Carlos Williams, một trong những nhà thơ Mỹ nổi tiếng của thế kỷ 20. Williams đã tiếp nhận và phát triển độ trong sáng của nghệ thuật nhiếp ảnh trong hình tượng. Châm ngôn nghệ thuật của ông là “không có tư tưởng trừ phi là trong sự vật”.

Tầm nhìn và quan điểm cũng đã trở thành một khía cạnh thiết yếu của tiểu thuyết theo trào lưu hiện đại. Không còn phù hợp nữa cái lối kể thẳng tuột một câu chuyện dùng nhân vật ngôi thứ ba (hoặc tệ hơn) người kể chuyện can thiệp một cách vô nghĩa lý vào mọi chuyện. Cách kể chuyện trở nên cũng quan trọng như chính câu chuyện vậy.

Henry James, William Faulkner và nhiều nhà văn Mỹ khác thử nghiệm những quan điểm hư cấu (nhiều người vẫn còn đang làm như vậy). James thường hạn chế thông tin trong cuốn tiểu thuyết vào những gì mà một nhân vật riêng lẻ có lẽ đã biết. Cuốn tiểu thuyết The Sound and the Fury (Âm thanh và cuồng nộ-1929) của Faulkner phân chia câu chuyện thành 4 phần, mỗi phần đưa ra cái nhìn của một nhân vật khác nhau (trong đó có một cậu bé tâm thần chậm phát triển).

Để phân tích tiểu thuyết và thơ ca trào lưu hiện đại, một trường phái “phê bình mới” xuất hiện ở Mỹ. Với cách sử dụng ngôn ngữ phê bình mới, các nhà phê bình này săn lùng “sự chứng ngộ” (một khoảnh khắc trong đó một nhân vật đột nhiên ngộ ra chân lý siêu phàm của một tình huống, “sự chứng ngộ” (epiphany) là một từ xuất phát từ sự xuất hiện của một vị thánh trước mắt những kẻ phàm trần); họ “nghiên cứu” và “làm sáng tỏ” một tác phẩm, hi vọng “soi sáng “ nó qua khả năng “thấu thị” của họ.

THƠ CA THỜI KỲ 1914-1945 NHỮNG THỂ NGHIỆM HÌNH THỨC

Ezra Pound (1885-1972)

Ezra Pound là một trong những nhà thơ Mỹ có nhiều ảnh hưởng nhất trong thế kỷ này. Từ năm 1908 đến 1920, ông sống ở London, giao du với nhiều văn sĩ, trong đó có William Butler Yeats - nhà thơ Anh nổi tiếng mà ông từng làm thư ký và T. S. Eliot, tác giả của cuốn The Waste Land mà ông biên tập và hiệu đính một cách nghiêm túc. Ông là cầu nối giữa nước Mỹ và nước Anh với tư cách là một chủ bút cộng tác cho tờ tạp chí Poetry quan trọng ở Chicago của Harriet Monroe. Ông cũng là con chim đầu đàn của một trường phái mới trong thơ ca được biết đến dưới tên gọi Chủ nghĩa hình tượng ủng hộ một lối biểu đạt rõ ràng, sinh động có tính hình tượng cao. Sau Chủ nghĩa hình tượng, ông là người đi đầu ở nhiều lối tiếp cận thơ ca khác nhau. Cuối cùng ông sang Ý sống, rồi bị mắc kẹt dưới chế độ Phát xít Ý.

Pound phát triển lý luận về chủ nghĩa hình tượng trong thư từ, tiểu luận, và trong một tuyển tập. Trong lá thơ gửi cho Monroe vào năm 1915, ông tranh luận cho một trường phái thơ có âm hưởng hiện đại, giàu chất tạo hình, tránh “rập khuôn và sáo ngữ” (1913). Trong “A Few Don’ts of an Imagiste” (Một số điều không nên làm đối với một tác giả theo chủ nghĩa hình tượng-1913), ông định nghĩa “hình tượng” như một cái gì đó diễn đạt sự phức hợp tri thức và xúc cảm trong một khoảnh khắc thời gian. Tuyển tập năm 1914 tựa đề Des Imagistes (Các nhà thơ theo trường phái Hình tượng) của Pound về 10 nhà thơ đã giới thiệu những ví dụ về thơ hình tượng của những nhà thơ nổi tiếng như William Carlos Williams, H. D. (Hilda Doolittle) và Amy Lowell.

Mối quan tâm và tầm hiểu biết của Pound hết sức rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực. Các tác phẩm phóng tác, các bản dịch xuất sắc của ông dù đôi chỗ còn sai sót, đã giới thiệu tiềm năng văn học mới từ các nền văn hóa cho các nhà văn trẻ. Tác phẩm mà ông dành trọn đời mình để viết và xuất bản cho đến tận ngày chết là The Cantos (Những bài ca). Cuốn sách có những đoạn xuất sắc, nhưng những điển tích văn chương và nghệ thuật của nhiều thời kỳ và nhiều nền văn hóa đã khiến tác phẩm trở nên rối rắm, khó hiểu. Thơ của Pound nổi tiếng về những hình tượng sống động rõ ràng, có tính chất tạo hình cao, tiết tấu mới mẻ, và những dòng thơ bất thường, thông minh và mạnh mẽ, chẳng hạn như câu sau đây trong bài “Canto LXXXI”, “Con kiến là một quái vật nhân mã đầu trong thế giới rồng của nó”, hoặc trong những bài thơ lấy cảm hứng từ thơ haiku, Nhật Bản, như là “In a Station of the Metro” (Ở một ga điện ngầm -1916):

Sự xuất hiện những khuôn mặt này trong đám đông;
Tựa những cánh hoa trên một cành cây đen, ẩm ướt.

T.S. Eliot T.S. Eliot (1888-1965)

Thomas Stearn Eliot sinh ở St. Louis bang Missouri trong một gia đình danh gia vọng tộc ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Ông được hưởng một nền giáo dục tốt nhất so với bất cứ nhà văn lớn nào cùng thời. Ông học ở ĐH Harvard, Sorbonne và trường Merton của ĐH Oxford. Ông còn học tiếng Phạn và triết học phương Đông, một hệ tư tưởng ảnh hưởng nhiều đến thơ ông. Giống như Pound, một người bạn của mình, ông đến London rất sớm và trở thành chủ soái của Tao đàn văn chương ở đây. Ông là một trong những nhà thơ được trọng vọng nhất lúc sinh thời. Thơ ông hiện đại, có vẻ như phi lý và trừu tượng, thực sự là một dòng thơ dấn thân, lật đổ mọi khuôn vàng thước ngọc và có tác động cách mạng trong thơ ca. Ông cũng viết tiểu luận và kịch gây nhiều ảnh hưởng. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các truyền thống xã hội và văn học đối với nhà thơ hiện đại.

Với tư cách là một nhà phê bình, Eliot nổi tiếng với công thức của ông về “mối liên hệ khách quan” mà ông đã mô tả trong cuốn The Sacred Wood (Rừng thiêng) như là một phương tiện diễn đạt cảm xúc thông qua “một tập hợp các sự vật, một tình huống và một chuỗi các sự kiện”, có thể trở thành công thức cho cảm xúc đặc biệt đó. Những bài thơ như “The Love Song of J. Alfred Prufrock” (Bản tình ca của J. Anfred Prufrock -1915), thể hiện cách tiếp cận này. Lúc Prufrock già nua, vô dụng, ông cho rằng ông đã “đong lượng cuộc đời mình bằng những chiếc muỗng café”. Vậy đấy, người ta có thể dùng muỗng café để phản ánh sự tồn tại hẩm hiu, ảm đạm về một đời người lãng phí như thế đấy.

Trong đoạn mở đầu nổi tiếng của bài thơ “Prufrock”, Eliot đưa độc giả vào các lối ngõ hào nhoáng, cũng giống như cuộc sống hiện đại, không có câu trả lời cho những vấn đề mà chính cuộc đời đặt ra.

Nào chúng ta đi, anh và tôi.
Khi bóng chiều lan tỏa khắp bầu trời
Như một bệnh nhân bị gây mê trên bàn mổ,
Nào chúng ta đi, qua những con đường gần như hoang vắng,
Những nơi ẩn cư lặng lẽ
Của những đêm không ngủ trôi qua trong những khách sạn rẻ tiền
chỉ trọ một đêm
Và những quán ăn đầy mùn cưa với những vỏ sò;
Những con đường chạy như một cuộc tranh luận dài buồn tẻ
Có ý định xảo quyệt
Đưa anh đến một vấn đề nan giải
Ồ, đừng hỏi, “Cái gì đấy?”
Nào chúng ta hãy đi thăm!

Những hình tượng tương tự như vậy cũng tràn ngập trong The Waste Land (Cõi hoang tàn [1]-1922) vọng lại cái âm hưởng địa ngục của Dante ám chỉ những con đường đông đúc của London trong khoảng thời gian Thế chiến I:

Thành phố không có thật,
Dưới màn sương nâu một bình minh mùa đông
Đám đông tràn qua cầu London, sao nhiều thế
Tôi đã không nghĩ rằng cái chết đã tàn hủy nhiều đến thế...

(I, 60-63)

Cái nhìn của The Waste Land thực chất có tính cách tiên tri và tầm bao quát khắp thế giới:

Những rạn nứt, những cải tổ và bùng nổ
trong không gian tím nhạt
Đổ sụp những tháp cao
Ở Jerusalem, Athens và Alexandria
Vienna, London.
Đâu có thật

(V, 373 -377)

Những bài thơ quan trọng khác của Eliot gồm có “Gerontion” (Cảnh già -1920), dùng hình ảnh một ông lão làm biểu tượng cho sự cằn cỗi, già nua của xã hội châu Âu. “The Hollow Men” (Những con người rỗng -1925) là một bài ca truy điệu hết sức cảm động về cái chết tinh thần của nhân loại đương thời. Ash-Wednesday (Ngày thứ tư lễ tro-1930) thể hiện tư tưởng của ông dứt khoát hướng về Giáo hội Anh giáo để tìm ý nghĩa trong cuộc sống con người. Và Four Quartets (Bốn khúc tứ tấu -1943) là một suy ngẫm thử nghiệm phức tạp và chủ quan cao độ về những chủ đề muôn thuở như thời gian, bản chất của cái tôi và nhận thức tâm linh. Thơ của ông, đặc biệt là những tác phẩm táo bạo, cách tân thời kỳ đầu đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau đó.

Robert Frost (1874-1963)

Robert Lee Frost sinh ở California nhưng lớn lên ở một trang trại vùng Đông Bắc Hoa Kỳ cho đến năm 10 tuổi. Cũng như Eliot và Pound, ông sang Anh, bị lôi cuốn bởi các phong trào mới mẻ trong làng thơ ở đó. Là một nhà thơ đọc thơ trước công chúng có tài năng bẩm sinh, ông gặt hái nhiều thành công qua những chuyến đi của mình. Ông đã đọc một bài thơ độc đáo trong lễ nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào năm 1961 góp phần làm bùng lên sự quan tâm đến thi ca trong cả nước. Sự nổi danh của ông cũng dễ giải thích, ông viết về đời sống trang trại truyền thống, khêu gợi hoài niệm về những gì đã qua. Thơ của ông quan tâm đến mọi tạo vật trong đời sống –hái táo, những bức tường đá, hàng rào, những con đường quê. Thi pháp của Frost trong sáng và biểu cảm: ông hiếm khi dùng những ám chỉ bóng gió rởm đời hay sự tỉnh lược. Thơ ca có vần điệu của ông cũng là một yếu tố lôi cuốn được độc giả đại chúng.

Tác phẩm của Frost thường có vẻ bề ngoài rất đơn giản. Nhiều bài thơ gợi lên ý nghĩa sâu xa. Ví dụ, bằng một sự phối hợp vần gần như thôi miên trong mô tả về một chiều tối đầy tuyết rơi, yên tĩnh, Frost đã gợi nên bước đi hoàn toàn không phải là không được chờ đợi của cái chết. Đây là một đoạn trong “Stopping by Woods on a Snowy Evening” (Dừng chân bên cánh rừng một chiều tuyết rơi -1923):

Cánh rừng này của ai mà ta nghĩ rằng mình đã biết.
Dù cho nhà của ông ta ở giữa làng;
Ông sẽ chẳng thấy ta nghỉ lại nơi đây
Để nhìn cánh rừng ông tuyết phủ đầy
Con ngựa nhỏ của ta chắc nghĩ rằng ta thật lạ
Dừng chân nơi đây không thấy bóng một ngôi nhà
Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá
Vào một buổi chiều đen tối nhất trong năm.
Nó rung những cái chuông trong bộ yên cương
Như muốn hỏi xem có sự bất thường
Chỉ có một âm thanh nhẹ lướt
Của ngọn gió chiều và những đóa tuyết rơi
Cánh rừng sao mà đáng yêu, thẳm sâu dần sẫm lại
Nhưng ta còn nhiều lời hứa phải giữ mãi
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại
Còn nhiều dặm đường phải đi, trước khi ta ngủ lại.

Wallace Stevens (1879-1955)

Sinh ra ở Pennsylvania, Wallace Stevens được đào tạo ở ĐH Harvard và trường Luật, ĐH New York. Ông hành nghề luật sư ở New York từ năm 1904 đến 1916, cũng là khoảng thời gian ông tham gia các hoạt động nghệ thuật và thi ca ở đó. Khi dời đến Hartford bang Connecticut, để làm một nhà điều hành bảo hiểm ở đây vào năm 1916, ông lại tiếp tục làm thơ. Cuộc đời của ông quả là khác thường vì sự phân thân của nó: Đồng sự của ông trong công ty bảo hiểm không hề biết ông là một nhà thơ lớn. Trong đời sống riêng tư, ông tiếp tục phát triển những tư tưởng cực kỳ phức tạp về một trật tự thẩm mỹ, một công việc ông đã tiến hành suốt cuộc đời được thể hiện trong những cuốn sách được đặt tên một cách thích hợp như Harmonium (Đàn đạp hơi, ấn bản năm 1931 được bổ sung thêm), Ideas of Order (Ý tưởng của trật tự -1935), và Parts of a World (Các phần của thế giới -1942). Những bài thơ hay nhất của ông là “Sunday Morning” (Sáng chủ nhật), “Peter Quince at the Clavier” (Peter Quince [2] bên phím đàn), “The Emperor of Icecream” (Hoàng đế kem), “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách ngắm nhìn một con chim đen) và “The Idea of Order at Key West” (Ý tưởng về trật tự ở Key West [3]).

Thơ của Stevens đào sâu những chủ đề của trí tưởng tượng, sự cần thiết của hình thức thẩm mỹ và niềm tin rằng trật tự của nghệ thuật tương hợp với một trật tự trong tự nhiên. Từ ngữ của ông phong phú và đa dạng: bút pháp của ông vẽ được những cảnh sắc nhiệt đới rực rỡ trăm hoa khoe sắc nhưng cũng tạo ra được những hình trang trí nhỏ khô khan, khôi hài và mai mỉa.

Một số bài thơ của ông sử dụng văn hóa dân gian, trong khi những bài thơ khác chế giễu giới quý phái hoặc bay thẳng lên thiên đường trí thức. Ông nổi tiếng bởi lối chơi chữ vui nhộn của mình. “Rồi, với âm thanh như của cái trống lục lạc, đám dân Byzantine tùy tùng của cô xuất hiện”.

Thơ của Stevens dồi dào những chiêm nghiệm nội tâm, sâu sắc một cách đáng kinh ngạc. Đôi lúc ông còn trêu đùa độc giả, như trong “Disillusionment of Ten O’Clock” (Vỡ mộng lúc 10 giờ-1931):

Những ngôi nhà ma ám
Bởi những chiếc áo ngủ trắng
Không có cái nào màu xanh lá cây
Hay màu tím với những vòng tròn xanh
Hay màu xanh với những vòng tròn vàng
Hay màu vàng với những vòng tròn xanh da trời
Chúng chẳng xa lạ gì
Với những chiếc vớ ren
Những dây lưng tua rủ
Người ta sẽ không
Mơ về những con khỉ chó và đóa hoa nhạn lai hồng
Chỉ có đây kia một thủy thủ già
Say xỉn và ngủ vùi trong khoang hành lý
Bắt những con cọp to
Trong tiết trời rực đỏ

Bài thơ này có vẻ như than phiền về những cuộc đời quá trần tục thiếu hẳn tính bay bổng tưởng tượng (những chiếc áo ngủ trắng trơn), nhưng lại khơi dậy những hình ảnh sinh động trong đầu độc giả. Cuối cùng anh chàng thủy thủ say, chẳng biết gì đến phép tắc lại “bắt được những con hổ” - ít nhất thì cũng trong giấc mơ của anh. Bài thơ cho thấy óc tưởng tượng của con người - của độc giả hay thủy thủ - sẽ luôn tìm được một lối đi đầy sáng tạo.

W.Carlos Williams

William Carlos Williams (1883-1963)

William Carlos Williams là một bác sĩ nhi khoa hành nghề trong suốt cuộc đời. Ông giúp hơn 2000 đứa trẻ chào đời và làm thơ trên giấy kê đơn thuốc. Williams là bạn học của nhà thơ Ezra Pound và Hilda Doolittle, và những bài thơ đầu tay của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Hình tượng. Sau này ông tiếp tục đi đầu trong việc sử dụng ngôn ngữ nói trong thi ca. Khả năng thẩm âm tuyệt vời của ông đối với nhịp điệu tự nhiên của tiếng Anh-Mỹ đã giúp thơ ca Mỹ thoát khỏi nhịp iambic [4] thống trị thơ ca tiếng Anh kể từ thời Phục hưng. Sự cảm thông của ông đối với người lao động bình thường, trẻ con và những chuyện đời thường trong những khung cảnh đô thị hiện đại khiến cho thơ của ông đặc biệt lôi cuốn và dễ cảm thụ. Bài thơ The Red Wheelbarrow (Chiếc xe đẩy màu đỏ -1923), giống như một bức tranh tĩnh vật Hà Lan, tìm thấy sự thú vị và vẻ đẹp trong những đồ vật bình dị hàng ngày:

Quá nhiều phụ thuộc
vào
chiếc xe đẩy
màu đỏ
phủ một lớp nước
mưa
bên cạnh con gà
trắng

Williams phát triển phong cách thơ tự nhiên, nhẹ nhàng như hơi thở. Dưới ngòi bút của ông, thơ ca không trở thành một tác phẩm nghệ thuật toàn bích như trong thơ Stevens, hay cẩn thận tái tạo lại những biến cố theo phong cách Wordsworth như trong thơ Frost. Đối với ông, mỗi bài thơ sẽ nắm bắt một khoảnh khắc trong đời như một tấm hình chụp ngẫu hứng - một khái niệm ông có từ những nhiếp ảnh gia và họa sĩ ông đã gặp ở những phòng tranh như của Stieglitz ở New York. Cũng như tác phẩm nhiếp ảnh, những bài thơ của ông thường gợi ý tới những khả năng và sự quyến rũ tiềm ẩn của cuộc sống, như trong bài “The Young Housewife” (Bà nội trợ trẻ -1917).

Mười giờ sáng, người vợ trẻ đi qua lại trong
tấm áo ngày thường sau bức vách gỗ
trong ngôi nhà của đấng phu quân
Tôi lướt qua trong chiếc xe hơi, nghe lòng cô đơn lạ.
Rồi nàng ta ra phố
gọi một anh bán kem, một người bán cá
lại đứng chờ
Rụt rè, không áo nịt, tay cố giữ những lọn tóc rối bay
và tôi ngầm so nàng
với một chiếc lá rơi.
Xe tôi lao đi không tiếng động làm vỡ
một chiếc lá khô khi tôi cúi chào
nàng và lướt đi
với một nụ cười.

Ông cho rằng thơ mình hết sức “khách quan” nhằm đề cao tầm quan trọng của những vật thể sinh động, cụ thể. Thơ ông thành công trong nắm bắt và thể hiện những sự kiện gây xúc cảm, tác động tức thời và tạo ảnh hưởng đến phong cách “Beat” vào đầu thập niên 50.

Cũng như Eliot và Pound, Williams cũng thử viết sử thi, nhưng trong lúc sử thi của họ sử dụng nhuần nhuyễn các điển tích hướng đến một số ít độc giả có học vấn cao, thì Williams lại ưa viết cho độc giả phổ thông hơn. Dù từng học tập ở nước ngoài, ông đã quyết định sống ở Mỹ. Thiên sử thi Paterson (5 tập, 1946-1958) ca ngợi thành phố quê hương Paterson, bang New Jersey của ông, được xem như tiểu sử tự thuật của “bác sĩ Parteson”. Trong tác phẩm, Williams xếp đặt cạnh nhau những đoạn tình ca, văn xuôi, thư từ, tiểu sử tự thuật, những bài báo và những sự kiện lịch sử. Lối trình bày với nhiều khoảng trống để giấy trắng, gợi nên chủ đề về con đường rộng mở của văn học Mỹ và một ý niệm về những viễn cảnh mới mở rộng ngay cả với những người nghèo đi dạo chơi trong công viên vào ngày chủ nhật.

Cũng như nhân vật hóa thân của Whitman trong Leaves of Grass, bác sĩ Paterson cảm thấy hoàn toàn thoải mái giữa những người lao động:

· mùa xuân muộn
một chiều chủ nhật!
theo lối mòn đến bờ vách đá
chính anh ta giữa những người xa lạ
· dẫm lên đây cũng những tảng đá này
và trên đó, họ trượt chân khi bước
168 169
những con chó của họ đuổi theo!
cười la, gọi nhau í ới
Chờ tôi với!

(II, i, 14 - 23)

Kathryn VanSpanckeren


Xem online : Kỳ sau


[1Theo các nhà nghiên cứu, tựa đề và tư tưởng của bài thơ ngụ ý đến nền văn minh hiện đại và bài thơ đã nắm bắt một cách chính xác thực trạng nền văn minh và xã hội Phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ 1. Chiến tranh, được giả thiết là để cứu vãn châu Âu lại là một cái gì có sức tàn phá và hủy diệt nhất trong lịch sử, vậy thì sau nó loại văn minh nào diễn ra trên thế giới? Đó là vấn đề được đặt ra trong bài thơ. The Waste Land chứa đựng nhiều những cách tân táo bạo và nó đánh dấu một sự thay đổi lớn lao trong nghệ thuật thi ca của nhân loại.

[2Leter Quince là người dàn cảnh cho các nghệ sĩ mộc mạc trong vở hài kịch Giấc mộng đêm hè của Shakespear, một cái tên gợi lên hình ảnh về những niềm vui và sự thơ ngây nơi thôn dã.

[3Key West: tên một thành phố trung tâm của quận Monroe, tây nam bang Florida.

[4iambic: một đặc trưng về vần nhịp của các từ trong câu thơ, bao gồm một âm dài tiếp theo một âm ngắn.