Menu

Trang nhà > Quan niệm > Đối thoại > "CHÚNG TA TIN Ở CHÚA" (kỳ 1)

"CHÚNG TA TIN Ở CHÚA" (kỳ 1)

Thứ Tư 8, Tháng Tám 2007

Indonesia, còn gọi là Nam Dương, có 228 triệu dân, khoảng 91% theo đạo Hồi và khoảng 9% (tức 20 triệu dân) theo đạo Công giáo La Mã. Đầu thế kỷ XVI, song song với người Tây Ban Nha vào giảng đạo ở Việt Nam thì người Bồ Đào Nha vào giảng đạo ở Nam Dương. Đa số tín đồ Công giáo định cư ở phía đông đảo Timor. Sau khi Nam Dương trở thành một nước độc lập vào năm 1945, những người Công giáo ở Đông Timor bắt đầu nổi dậy và phát động một cuộc nội chiến đẫm máu chống chính quyền trung ương Hồi giáo. Sau hơn 40 năm chiến tranh gây thiệt mạng cho trên một triệu binh sĩ và dân lành, cuối cùng chính phủ Nam Dương đã phải chấp thuận cho Đông Timor tách rời để trở thành một nước độc lập từ tháng 8/99. Cho đến nay tình hình ở Đông Timor vẫn chưa ổn định.

Trường hợp của Philippines thì ngược lại: Philippines có 74 triệu dân. Khoảng 92% theo đạo Công giáo La Mã, khoảng 6 triệu dân theo đạo Hồi, qui tụ tại đảo Mindanao và đảo Basilan. Những người Phi này có tổ tiên theo đạo Hồi từ thế kỷ XIV, tức hai thế kỷ trước khi đạo Công giáo xâm nhập nước này. Trải qua nhiều thế kỷ bị đàn áp tàn bạo bởi chính quyền thuộc địa Tây Ban Nha và giáo quyền Công giáo La Mã, những người Phi Hồi giáo đã kiên cường bảo vệ tôn giáo của họ cho tới ngày nay. Cuộc chiến tranh đòi tự trị của những người Phi Hồi giáo chống chính phủ đã khởi đầu từ nhiều chục năm qua đến nay vẫn tiếp diễn. Để đạt những mục tiêu chính trị, những người Phi Hồi giáo đã áp dụng chiến thuật du kích, phá hoại và khủng bố, đặc biệt là họ thường bắt cóc con tin.

Tôn giáo là một sản phẩm văn hóa. Khi xâm nhập một lãnh thổ nào đó nó thường bước vào bằng những bước đi nhẹ nhàng êm ái. Nhưng khi số tín đồ của tôn giáo đạt tới mức có thể tạo thành một lực lượng chính trị áp đảo thì hậu quả của nó thật khó lường.

Chỉ với mấy cuốn sách Thánh Kinh, Vatican đã trải rộng đế quốc của nó gần khắp thế giới với hơn một tỷ tín đồ và đã duy trì đế quốc của nó gần 2000 năm.

Với cuốn Thánh Kinh Koran, những đoàn quân Hồi giáo Ả Rập đã chiếm toàn bộ bán đảo Ả Rập rộng lớn, chiếm Irag, Syria, Palestine, Ai Cập và Iran vỏn vẹn trong vòng 10 năm. Một thế kỷ sau khi giáo chủ Mohamét qua đời, Hồi giáo trở thành một đế quốc trải dài từ Bắc Phi, qua Cận Đông, miền Nam châu Âu qua Trung Á đến Bắc Ấn.

Đầu thế kỷ IV, đế quốc La Mã có tham vọng dùng Công giáo để chinh phục toàn cầu. Đế quốc La Mã không ngờ đạo Hồi xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ VII với Thánh Kinh Koran đã phá tan tham vọng toàn cầu của họ. Số tín đồ đạo Hồi ngày nay lên tới 1 tỷ 200 triệu, vượt trội số tín đồ Công giáo La Mã (khoảng 1 tỷ).

Mặc dầu Hồi giáo và Ki-tô giáo đều có chung cội nguồn là Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái, cùng chung ông tổ Abraham và cùng thờ một Thiên Chúa (God) nhưng hai đạo này đã quan niệm về Thiên Chúa hoàn toàn khác nhau.

Ki-tô giáo tin Thiên Chúa có ba ngôi. Thiên Chúa Cha sinh ra Thiên Chúa Con (Jesus). Jesus là người thường lại được Ki-tô giáo suy tôn làm Thiên Chúa. Bà Maria, mẹ của Jesus, được Ki-tô giáo tôn lên làm Mẹ Thiên Chúa!

Tất cả các giáo lý nói trên đều bị kinh Koran thẳng thừng bác bỏ.

Kinh Koran ghi rõ: “Bà Maria chẳng bao giờ nhận rằng bà ta là Mẹ Thiên Chúa hoặc con của bà ta là Chúa”. (She never claimed she was Mother of God or her son was God – Koran 5:75). Kinh Koran kết án những người Ki-tô giáo là nhục mạ Thiên Chúa khi nói Thiên Chúa chỉ là một trong ba ngôi. (They do blaspheme who say God is one of three – Koran 5:75) “Thiên Chúa là một ngôi duy nhất. Thiên Chúa chẳng sinh ra đứa con nào và cũng chẳng do ai sinh ra”. (God is one. He begot none nor was he begotten – Koran 112:1-4). Khi trình bày những điều nói trên, tôi không có ý bài bác những giáo lý Ki-tô giáo. Tôi chỉ có ý làm sáng tỏ một sự thật lịch sử: không phải sức mạnh quân sự của Hồi giáo đã chận đứng khả năng bành trướng của Ki-tô giáo mà chính sức mạnh văn hóa của Hồi giáo đã phá tan mộng ước toàn cầu hóa của đạo Ki-tô. Một bài học lịch sử khác đã chứng tỏ rằng: Sức mạnh quân sự thuần túy nếu không kèm theo sức mạnh văn hóa hỗ trợ thì sớm muộn sẽ bị tiêu diệt. Đó là trường hợp Mông Cổ.

Đầu thế kỷ XIII, Genghis Khan thống nhất các bộ lạc Mông Cổ rồi xua quân đi chinh phục thế giới. Chỉ trong mấy năm, quân Mông Cổ đã tạo nên một đế quốc rộng lớn bao gồm Trung Quốc, qua Trung Á và phía Nam nước Nga, qua Thổ Nhĩ Kỳ tới các nước Cận Đông. Nhưng quân Mông Cổ hoàn toàn chỉ có sức mạnh quân sự chứ không có một sản phẩm văn hóa nào. Kết quả là chỉ sau vài thế hệ, đoàn quân chiến thắng Mông Cổ ở Trung Quốc đã bị Hán hóa. Cuối thế kỷ XIII, những vua chúa Mông Cổ ở Bắc Ấn đã theo đạo Hồi và tạo nên các triều đại Hồi giáo Mughul (do chữ Mongol mà ra). Dần dần, các người Mông Cổ đã bị hoàn toàn đồng hóa vào dân địa phương.

Trước kia, những người Tây-phương trước đây đã hiểu rõ sức mạnh của văn hóa nên họ đã xâm lăng nước khác bằng văn hóa Ki-tô trước rồi mới xâm lăng bằng súng đạn sau.

Ngày nay, một số những giáo phái Tin Lành lớn tại Mỹ đang muốn trở thành những thế lực của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (spiritual imperialism). Những nhóm này hoạt động ráo riết từ giữa thế kỷ XX đến nay trên phạm vi toàn thế giới. Giáo phái Baptist đã tung ra trên 3000 nhân viên truyền giáo hoạt động trong 94 quốc gia. Tổ Chức Thanh Niên Tin Lành (International Youth for a Mission) hiện có trên 12.000 nhân viên giảng đạo trên khắp thế giới. Tổ Chức Thập Tự Quân Tin Lành (The Giant Campus Crusade) có nhiều ngàn nhân viên truyền giáo hoạt động trên 130 quốc gia từ 1960. Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều bị các toán quân truyền đạo Tin Lành xâm nhập từ lâu. Riêng nước Nga, sau khi mở cửa tự do năm 1991, chẳng những bị xâm nhập bởi nhiều đoàn truyền giáo Tin Lành mà còn tiếp nhận 232 tấn sách Thánh Kinh Tin Lành bằng Nga ngữ in tại Hoa Kỳ! Trên đây chỉ là hoạt động truyền giáo của một số ít giáo phái Tin Lành tiêu biểu, ngoài ra còn nhiều giáo phái khác cũng rất lưu tâm đến việc truyền giáo để bành trướng thế lực của họ.

Qua những hiện tượng tôn giáo ở Đông Timor và Mindanao (Philippines) chúng ta nhận thấy ở những vùng đảo này có nhiều sắc dân và nhiều thổ ngữ khác nhau, nhưng cuối cùng họ đã liên kết với nhau thành một khối duy nhất rất chặt chẽ trong niềm tin tôn giáo. Vậy chúng ta hãy thử tìm hiểu xem những nhà truyền giáo đã dùng cách nào để dụ dỗ những thổ dân theo đạo Tin Lành?

Thông thường, họ luôn luôn tuyên truyền rằng nước Mỹ giàu mạnh nhất thế giới và Tin Lành là quốc giáo của nước Mỹ. Do đó, ai chịu cải đạo theo Tin Lành chắc chắn sẽ được giúp đỡ về mọi mặt, tinh thần cũng như vật chất, nhất là sẽ được dễ dàng nhập cư Hoa Kỳ để sống một cuộc đời giàu sang hạnh phúc...! Nhiều người nhẹ dạ và hám lợi dễ dàng nghe lời dụ dỗ đã trở thành những tín đồ Tin Lành. Một số không lo làm ăn mà chỉ ngóng trông các đồng đạo Tin Lành Hoa Kỳ đến bốc họ sang Mỹ!

Thật ra, tất cả các luận điệu tuyên truyền nói trên đều là lừa dối bịp bợm vì từ xưa đến nay Hoa Kỳ chưa từng có quốc giáo (national religion). Nhất là Tin Lành lại càng không thể là một quốc giáo vì Tin Lành không phải là một tôn giáo thuần nhất. Hiện nay tại Mỹ khoảng 200 giáo phái Tin Lành lớn nhỏ không đều nhau. Vậy chẳng lẽ Hoa Kỳ có 200 quốc giáo Tin Lành sao?

Ngoài 200 giáo phái Tin Lành, Hoa Kỳ hiện có khoảng 53 triệu người Công giáo, 7 triệu người Hồi giáo, 5 triệu người Do Thái giáo, vài triệu người Anh giáo. Xét theo danh xưng thì có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng thực ra đều là các đạo độc thần, tức thờ cúng chỉ một vị thần (monotheistic religions) và có cùng chung ông tổ Abraham (Abrahamic religions). Do đó, mặc dầu khác tôn giáo về danh xưng nhưng tất cả đều đồng ý tôn vinh Thượng đế (hoặc Thiên Chúa) mà họ gọi là God. Bài ca phổ thông nhất là “God bless America”. Tòa án Tối Cao Pháp Viện khai mạc phiên họp với lời cầu nguyện “Xin Chúa cứu nước Mỹ và tòa án này” (God saves the United States and the honorable court). Từ năm 1950, do nhu cầu chống lại chủ thuyết vô thần của Cộng sản, nước Mỹ có thêm lời Tuyên Thệ Trung Thành với Quốc Gia, trong đó có cụm từ “một quốc gia dưới sự che chở của Chúa” (a nation under God). Mặc dù cùng nói đến God nhưng mỗi tôn giáo nghĩ về God theo một cách khác nhau, chẳng ai giống ai.

Một điều rất cần phải nêu lên ở đây là những người Việt Nam ở Mỹ - Công giáo cũng như Tin Lành - cứ tưởng rằng chữ “God” mà người Mỹ thường nhắc tới là Thiên Chúa của Ki-tô giáo (Christian God). Sự thật không phải như vậy. Chúng ta hãy lấy tờ One Dollar ra coi sẽ thấy: Kim tự tháp tượng trưng cho Trật Tự Thế Tục Mới (Novus Ordo Seclorum). Trên đỉnh Kim tự tháp là Con Mắt Thượng đế (All-seeing Deity) tượng trưng cho Đấng Toàn Năng của Lý Trí (God of Reason) hoặc còn được gọi là Thượng Đế của Tự Nhiên (Nature’s God). Bên phải huy hiệu Kim tự tháp là hàng chữ IN GOD WE TRUST biểu lộ lòng tin tưởng của giới lãnh đạo Hoa Kỳ vào Lý Trí để xây dựng một trật tự xã hội thế tục. Trong xã hội thế tục, con người là trung tâm phục vụ chứ không phải là Thiên Chúa. Con người không có bổn phận phải tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự. Lòng sùng tín tôn giáo là sự mộ đạo riêng tư (Religion is private devotion) không thể được coi là khuôn vàng thước ngọc để áp đặt lên cả quốc gia được.

Một số trí thức Công giáo thuộc xu hướng “Khôi phục tinh thần Ngô Đình Diệm” thường hay giảng thuyết trên báo chí hay trên đài phát thanh luận điệu tuyên truyền rằng: Sở dĩ người Mỹ trở nên văn minh giàu có là nhờ họ biết đặt lòng tin nơi Thiên Chúa (Ý muốn nói Thiên Chúa Ba Ngôi của Công giáo). Phần lớn người Mỹ đặt nền tảng đời sống đạo đức của họ trên Kinh Thánh Tân Ước và Cựu Ước. Điều này có thể đúng về phương diện biểu kiến, vì quả thực đại đa số dân Mỹ là những người Ki-tô hữu (Christians). Tuy nhiên, hoàn cảnh của nước Mỹ rất đặc biệt là ngay từ những ngày đầu lập quốc đến nay, những vị lập quốc và những vị thật sự lãnh đạo nước Mỹ lại không hẳn là những người Ki-tô hữu. Trái lại, họ là những người có tinh thần khai sáng và thuần lý (enlightened and reasonable men), hậu duệ của John Locke, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, Thomas Paine... Đó là những người công khai phủ nhận giáo lý Ki-tô giáo. Dưới sự lãnh đạo khôn khéo và kín đáo của họ, Ki-tô giáo chẳng những không bao giờ trở thành quốc giáo mà trái lại đang đi vào con đường mỗi ngày một suy thoái. Bề ngoài có vẻ như hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa thay đổi nhau lên nắm chính quyền cai trị đất nước. Trong thực tế, luôn luôn có một siêu-quyền-lực bao trùm trên cả hai đảng. Siêu-quyền-lực này làm trọng tài cho mọi tranh chấp chính trị và giữ cho đường lối chính sách của Hoa Kỳ có tính nhất quán trải qua các giai đoạn lịch sử.

Cũng trên phương diện hình thức, nước Mỹ theo đuổi chính sách đa văn hóa (multicultural) nhưng trên thực tế thì chủ nghĩa nhân đạo thế tục (secular humanism) mới thật sự chi phối đời sống văn hóa chính trị của mọi người dân Hoa Kỳ.

Trên khắp nước Mỹ, đi đâu chúng ta cũng thấy san sát những giáo đường lớn nhỏ và ở mọi nơi mọi lúc người ta thường nói nhiều đến Thượng Đế (God). Nhưng vấn đề quan trọng không phải ở số đông. Vấn đề chủ yếu là những người lãnh đạo ở thượng tầng nước Mỹ quan niệm thế nào về Thượng Đế. Đó là những vấn đề chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây:

I. Là một quốc gia đa-văn-hóa (multicultural) Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận một quốc giáo.

Đầu thế kỷ XVI, những người đầu tiên đến Mỹ là những kẻ có óc phiêu lưu làm giầu. Sau đó là những làn sóng người tỵ nạn tôn giáo: Những người Puritains (Thanh giáo) và Quakers bị ngược đãi tại Anh quốc, những người Tin Lành như Lutherans, Calvinists bị Công giáo bách hại tại Âu châu. Cho đến khi Hoa Kỳ tuyên bố độc lập năm 1776, dân số Mỹ là 2 triệu rưỡi, 60% là người Anh – đa số theo Tin Lành, còn lại là Anh giáo – 12% là những người Tô Cách Lan, Hòa Lan và Đức, đa số cũng theo Tin Lành – 28% còn lại là những người nô lệ da đen, không có quyền công dân. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều làn sóng di dân từ Đông và Nam Âu Châu sang Mỹ, đa số là Công giáo và Do Thái. Dân Mỹ Tin Lành phản đối bằng cách lập ra đảng khủng bố Ku-Klux-Klan nhắm vào Do Thái, Công giáo và người da đen. Nhiều nhà thờ Công giáo và Do Thái bị đốt, nhiều người da đen bị sát hại. Chính quyền trung ương chủ trương theo đuổi chính sách đa văn hóa nên đã áp dụng chính sách trấn áp đảng khủng bố Ku-Klux-Klan. Trong thập niên 1870, chính phủ Mỹ cho nhập cư rất nhiều dân các nước Ả Rập theo đạo Hồi và trong thập niên 1960 cho nhập cư ồ ạt các di dân thuộc Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, đa số theo đạo Hồi. Hiện nay, số tín đồ Hồi giáo tại Mỹ lên tới 7 triệu người.

Trước đây, người Mỹ thường tự nhận nền văn minh của họ có truyền thống Do Thái–Ki-tô (Judeo–Christian tradition). Trong dịp lễ nhậm chức của tân tổng thống Bush vào đầu năm 2001, giáo sư Stephen Prothero thuộc Đại Học Boston đã đề nghị sửa lại cho đúng với thực tế là “Judeo-Christian–Islamic tradition” vì công dân Mỹ theo đạo Hồi hiện nay đông hơn người Mỹ Do Thái giáo! Ngoài ra, nước Mỹ hiện có đủ các sắc dân trên thế giới với đủ mọi tôn giáo thuộc mọi nguồn gốc văn hóa. Do đặc tính đa chủng và đa văn hóa, xã hội Mỹ không thể có một sự đồng thuận để chấp nhận bất cứ một tôn giáo nào là tôn giáo chính thức của quốc gia. Các giáo phái Tin Lành, mặc dầu đã chiếm đa số từ ngày lập quốc đến nay, vẫn chưa bao giờ và sẽ không bao giờ trở thành quốc giáo tại Hoa Kỳ.

II. Chủ nghĩa nhân đạo thế tục (Secular Humanism) luôn luôn thống lãnh đời sống văn hóa chính trị Hoa Kỳ.

Các nhà lập quốc Hoa Kỳ là những bộ óc sáng suốt thấu triệt những hậu quả tai hại của tôn giáo tại Âu châu. Do đó, ngay từ đầu họ đã theo đuổi chủ nghĩa nhân đạo thế tục mà yếu tố chủ chốt là sự phân chia rõ rệt giữa tôn giáo và nhà nước (Strict separation of religion and government). Đó chính là nguyên tắc bảo đảm không cho phép bất cứ một tôn giáo nào có thể áp đặt giáo điều của mình lên đời sống toàn dân. Đó cũng là nguyên tắc chiến đấu cho con người được tự do sử dụng lý trí của mình để hướng dẫn cuộc sống của chính mình và chống lại bọn cuồng tín làm công cụ cho các thế lực thần quyền đen tối.

Chính vì vậy, Hiến pháp Hoa Kỳ và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền đã minh thị ngăn cấm chính quyền thiết lập một quốc giáo và ngăn cấm tôn giáo xen vào chính trị. Từ ngày lập quốc đến nay đã hơn hai thế kỷ, nước Mỹ vẫn luôn luôn trung thành với chủ nghĩa Nhân Đạo Thế Tục. Đó là chủ nghĩa coi trọng những lợi ích, ước vọng và giá trị của con người hơn là niềm tin tôn giáo. (Secular humanism = A philosophy that elevates human interests, desires and values over religious beliefs). Trong ý nghĩa đó, quyền tự do ngôn luận (Freedom of speech) và quyền tự do báo chí (Freedom of Press) được coi trọng hơn tự do tín ngưỡng (Religious Freedom) như ta thấy trong vụ phim The last Temptation of Christ (Cơn cám dỗ cuối cùng của chúa Ki-tô). Cuốn phim này được mô phỏng theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzaki, xuất bản năm 1951. Nhà đạo diễn Mỹ Martin Scorsese dựng thành phim năm 1988. Theo giáo lý Ki-tô thì Jesus có hai bản tính: bản tính con người và bản tính Thiên Chúa. Tác giả cốt truyện cũng như nhà làm phim bỏ qua tính Thiên Chúa của Jesus để chỉ mô tả về tính “người” của Jesus mà thôi. Tất nhiên, với tư cách là con người, Jesus cũng có những đau khổ, những thèm muốn và cũng bị cám dỗ như mọi người chúng ta. Đó cũng là lẽ thường trong đời sống thật của Jesus. Tuy nhiên, những người cuồng tín Công giáo cũng như Tin Lành đều không muốn nhìn thấy sự thật vì nó làm giảm đi sự kính trọng của họ đối với Jesus vốn đã được thần thánh hóa quá mức. Tài tử Willem Dafoe đóng vai Jesus. Cuốn phim đã làm cho những người Ki-tô giáo tức giận vì đã mô tả giấc mơ của Jesus khi Ngài bị treo trên thập giá. Trong cơn đau đớn cùng cực, Jesus ước muốn được làm một người bình thường chứ không muốn làm đấng cứu thế. Jesus muốn trở về đời thường, cưới Mary Magdelene làm vợ và có con với nàng. Magdelene nguyên là một cô gái điếm nhưng đã tha thiết yêu Jesus từ lâu. Hầu như Jesus đi đâu cũng có mặt nàng ở đó. Nàng luôn luôn chăm sóc Jesus như một người vợ đảm đang yêu chồng. Trong cơn hấp hối, Jesus cảm thấy yêu nàng vô cùng. Jesus chẳng tha thiết gì với cái trò cứu chuộc và cũng chẳng màng tới việc trở về với Đức Chúa Cha như người ta gán ép. Niềm khát khao lớn nhất của Jesus là làm tình với Magdelene. Cuốn phim trình bày cảnh Jesus làm tình với Magdelene như một cặp vợ chồng bình thường.

Nhiều người Ki-tô giáo bảo thủ kịch liệt kết án cuốn phim là nhục mạ Thiên Chúa của họ. Các rạp chiếu bóng trên khắp nước Mỹ bị những người biểu tình bao vây ngăn chặn không cho khán giả vào rạp coi phim “The last Temptation of Christ”. Nhiều tổ chức Ki-tô giáo vận động với chính quyền tiểu bang hay thành phố ra lệnh cấm lưu hành cuốn phim này. Nội vụ được đưa lên Tối Cao Pháp Viện. Kết quả, Tối Cao Pháp Viện xác định quyền làm phim là quyền tự do phát biểu tư tưởng (freedom of expression), do đó mọi việc ngăn cản chiếu phim nói trên đều vi hiến.

Tu chính án 14 còn đi xa hơn nữa: chính sách của chính phủ phải theo đuổi mục tiêu thế tục hoặc vô tôn giáo (a government policy must have a secular or non – religious purpose). Do đó, trong thập niên 1960, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã cấm các trường công lập không được tổ chức đọc kinh cầu nguyện và không được đọc Thánh kinh trong trường. Ngoài ra, Tu Chính án 14 còn ngăn cấm các cơ quan chính quyền không được hỗ trợ một tôn giáo nào (A government policy must neither inhibit nor advance religion to any significant degree). Do những qui định của luật pháp và hiến pháp Hoa Kỳ rất chặt chẽ nhằm ngăn chặn mọi sự lạm dụng của tôn giáo, những hoạt động truyền giáo Tin Lành hiện nay chỉ là những hoạt động tư nhân mà thôi. Nếu phát hiện có một cơ quan nào của chính phủ hỗ trợ cho các việc truyền giáo nói trên thì cơ quan đó có thể bị truy tố vì họ đã vi phạm Hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ.

III. Ý nghĩa đích thực của phương châm “IN GOD WE TRUST”

Năm 1814, Francis Scott Key sáng tác bài thơ “The Star-sprangled Banner”. Câu thứ tư của bài thơ này là: “In God is our trust”. Năm 1864, Bộ Trưởng Ngân Khố Salmon P. Chase sửa lại thành IN GOD WE TRUST và xin chính phủ cho phép in câu này trên các đồng coins (tiền kẽm). Chính phủ chấp thuận nên câu này được in trên các đồng coins từ đó. Năm 1956, Quốc hội Mỹ công nhận câu “IN GOD WE TRUST” là phương châm chính thức của nước Mỹ (the US Motto) và phương châm này được in trên các đồng tiền giấy cũng như các đồng coins của Mỹ.

Nhân tiện cũng xin nói thêm về tiền giấy của Mỹ: Mặc dầu gọi là tiền giấy (paper money) nhưng thực sự là vải, vì nó gồm có: 75% bông, 20% nylon-polyester và 5% hóa chất. Công ty CRANE độc quyền chế tạo mực có nam châm (magnetic ink) được chế tạo theo một công thức bí mật của Bureau of Engraving and Printing ở Washington D.C. Hình thức và khuôn khổ của tờ giấy bạc Mỹ như ta thấy hiện nay đã bắt đầu từ 1862.

Như ta đã biết, trên tờ giấy bạc và đồng coins nào cũng có phương châm IN GOD WE TRUST, nhưng chỉ trên tờ ONE DOLLAR mới có sự giải thích ý nghĩa của nó mà thôi.

Kim Tự Tháp là biểu tượng cho nền tảng vững chắc của sự phát triển nước Mỹ trong tương lai (the strong base of future growth). Kim tự tháp chưa có đỉnh hàm ý sự kiến tạo chưa hoàn thành. Chân kim tự tháp có hàng số La mã MDCCLXXBVI (1776) mang ý nghĩa đời sống chính trị văn hóa và sự phát triển nước Mỹ đặt trên căn bản là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776. Jefferson là người soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và đóng vai trò trọng yếu trong thời kỳ Cách Mạng Hoa Kỳ. Quan điểm triết học và chính trị của Jefferson chịu ảnh hưởng sâu đậm tác phẩm Law of Nature (Luật Thiên Nhiên) của triết gia Anh Quốc John Locke (1632-1704), tư tưởng của Locke đã đi vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và đã trở thành yếu tố quan trọng trong truyền thống trí thức (the intellectual tradition) của giới lãnh đạo Mỹ. Locke quan niệm Thượng Đế là Thiên Nhiên (God is Nature’s God). Luật của Thiên Nhiên là luật của Thượng Đế. Trong tác phẩm Essays On The Law and Nature xuất bản năm 1663, Locke viết: “Trong trạng thái tự nhiên, tất cả mọi người đều tự do và bình đẳng” (In a state of Nature, all men are free and equal). Tư tưởng trên của Locke đã gợi ý cho Jefferson viết một câu nổi tiếng thế giới trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người sinh ra bình đẳng và được Tạo Hóa [1] phú cho những quyền không thể chuyển nhượng, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc” (All men are created equal that they are endowed by the creator (Nature) with certain inalienable rights, among these are life, liberty and the persuit of happiness).

Sau John Loke là các triết gia thuộc phong trào khai sáng ở Pháp như J.J. Rousseau, Voltaire và Montesquieu. Các triết gia này đều nổi tiếng là những người chống Ki-tô giáo và đều có ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng của Jefferson. Trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Jefferson viết: “Mọi người được tự do bày tỏ và bằng sự tranh luận để duy trì ý kiến của mình về tôn giáo” (All men shall be free to profess and by argument to maintain their opinions of religion). Riêng về Thánh Kinh Ki-tô giáo, Jefferson đã phê phán như sau: “Tôi đọc sách Khải Huyền của Tân Ước và tôi coi nó chỉ là những lời điên dại của kẻ mất trí” (I read the Apocalypse and I then considered it merely the ravings of a maniac). Sau hết, người có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến Jefferson cùng những nhà lập quốc Hoa Kỳ là Thomas Paine (1737-1809) với tác phẩm Common Sense xuất bản tháng 1/1776 với 120.000 bản. Đây cũng là một tác phẩm kịch liệt chống Ki-tô giáo.

Charlie Nguyễn


Xem online : Kỳ sau


[1chữ Tạo Hóa ở đây có nghĩa là Thiên Nhiên (Nature) chứ không có nghĩa là God (Thượng Đế) như bị lạm dụng.