Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Abdel Fattah Rizk (1935-2003)

Văn học Ai Cập

Abdel Fattah Rizk (1935-2003)

Nhà văn Ai Cập

Thứ Hai 7, Tháng Mười 2013

Tiểu sử

Abdel Fattah Rizk (28/7/1935 - 17/2/2003) là nhà văn Ai Cập. Ông sinh ở Alexandria và mất ở Cairo, Ai Cập. Ông tốt nghiệp ngành Triết và Nghê thuật tại Đại học Alexandria năm 1958. Sau đó ông làm phóng viên và biên tập viên ở một số tòa báo. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng nước ngoài.

Tác phẩm

Chết trong tiếng cười

Đêm khuya. Tôi đang cuốc bộ về nhà dọc theo một đường hẻm tối tăm thì bỗng nghe phía sau có tiếng ai đó thều thào gọi. Tôi chậm bước, ngoái lại, căng mắt ra nhìn mới nhận ra một bà già đang đứng trong bóng tối lờ mờ. Tưởng ai, hóa ra là một bà lão ăn mày! Rõ thật chết đuối lại vớ phải rêu. Tôi nhấm nhẳn lầu bầu, định lờ bà lão đi. Nhưng bà lão hình như không nghe thấy tiếng tôi, cứ tất tả bước sát lại. Bộ mặt của bà làm tôi sợ sởn gai ốc. Tay bà xách một chiếc va-li da nhỏ, màu đen đen. Bằng một giọng nói lạ lùng, hơi the thé, bà lão hỏi tôi:
— Cầm lấy chiếc va-li này; trong đó có bốn ngàn bảng đấy!...

Chuyện gì mà kỳ quái vậy! Tôi tròn xoe mắt sợ hãi lùi lại.
— Cụ nói sao? Những bốn ngàn bảng cơ à? Cụ muốn gì nào? Cháu phải làm gì bây giờ?... Cụ định nói giỡn cháu đấy hả?...
— Đừng hỏi lôi thôi! Cầm lấy!... Lão chẳng có con trai cũng chẳng có con gái. Nhỡ chẳng may lão chết thì cái lũ họ hàng thân thuộc của lão sẽ cắn xé nhau ngay. Có khi còn giết người nữa ấy chứ. Vì vậy lão dứt khoát đem chiếc va-li này cho người nào lão gặp đầu tiên ở đây. Đấy, chuyện chỉ có vậy thôi, con ạ...
Nói tới đây giọng bà lão bỗng vang lên đầy vẻ hả hê.
— Chỉ có thế thôi ạ?
— Chỉ có thế!

Tôi dở khóc dở cười cầm lấy chiếc va-li và lần mò tìm cách mở nắp. Bà lão lập tức biến đâu mất. Hai tay tôi run lập cập; các ngón tay không còn chịu theo ý mình. Bỗng tôi đâm lo: "Nhỡ trong va-li chẳng có xu nào mà lại có một thứ gì đó thì nguy to!". Tôi loay hoay tìm đủ mọi cách mở chiếc va-li bằng được. Mùi tiền xộc vào ngay mũi tôi; cái mùi đặc biệt ấy thì còn lẫn vào đâu được - mùi mồ hôi, mùi linh hồn, mùi thuốc và còn một mùi gì gì nữa, có lẽ là mùi máu, mùi của những con người đã từng đau khổ vì tiền, đã từng ki ca ki cóp, đã từng vung tay quá trán và đã từng ăn trộm ăn cướp của nhau... Những đồng tiền giấy này cũng có cả một cuộc đời trọn vẹn, có lẽ chúng cũng biết hít thở, nói năng, than khóc và cười... Và cả tôi cũng đang cười. Tôi đứng một mình trong bóng tối và cười; có thế chứ! Số mình đỏ thật đấy! Mọi khó khăn bây giờ - nào có xá chi! Mấy chiếc áo dài mà bấy lâu vợ tôi hằng mơ ước — xin cứ việc may! Tôi sẽ mở tài khoản ngân hàng, sẽ mua ô tô, có thể còn mua cả biệt thự ấy chứ. Và cái chính là từ nay tôi sẽ vĩnh viễn thoát khỏi bệnh đau đầu; cái bệnh quái ác cứ bám đằng đẵng theo tôi suốt ngày đêm, giá có chườm bằng một chén rượu mạnh thì bệnh tình cũng thuyên giảm đôi chút, bằng không thì nó bắt tôi phải trằn trọc suốt đêm. Rồi tôi sẽ được ăn no ngủ yên... ngủ say bí tỉ là đằng khác...

Đã bao lần tôi than thở với ông bác sĩ ở bệnh viện đa khoa về cái bệnh đau đầu của mình; nhưng lần nào ông ấy cũng chỉ lặp đi lặp lại dăm ba câu hỏi chiếu lệ —"Thế nào, anh dễ thở chứ? Dạ dày co bóp có tốt không?" Sau đấy ông ta vỗ vai tôi an ủi:
— Tôi chịu không tài nào tìm được căn bệnh của anh đâu...
— Lẽ nào lại như vậy, thưa bác sĩ?

Ông ta cười hì hì, cứ như bảo thẳng vào mặt tôi rằng: thôi đừng giả ngây giả ngốc nữa, tôi đã nhìn thấu tận ruột gan anh rồi.
— Không, tôi chẳng cho anh nghỉ việc đâu! Cứ yên chí, tôi sẽ kê đơn...
— Chỉ có thế thôi à?
— Chỉ có thế!

Gần đây tôi ngạc nhiên thấy rằng những cơn đau đầu xuất hiện ở tôi một cách có chu kỳ mới chết chứ! Hàng tháng chúng xuất hiện vào đúng một số ngày nhất định. Bây giờ tôi đã có thể dự đoán được khi nào thì cơn bệnh sẽ tái phát; dự đoán một cách chính xác kia! Y như người ta bảo rằng, này nhé, sau chủ nhật sẽ là thứ hai, còn sau ngày thứ năm đúng là ngày thứ sáu. Cơn đau bắt đầu bằng những tín hiệu phát ra rất sớm - sự hao mòn trông thấy của hai khoản ngân sách; một khoản chi cho những nhu cầu cần thiết của cả gia đình; một khoản chi cho riêng tôi, bao gồm tiền thuốc lá, tiền nước và tiền tàu xe. Ấy thế là tôi đâm ra mất ngủ. Tôi nằm trong bóng tối, hai mắt mở thao láo, lẩm nhẩm trong óc những phép tính phức tạp nhất thuộc loại toán sơ cấp: cộng, trừ, nhân và chia. Đôi khi tôi cũng phải vận dụng cả căn số bậc hai nữa. Nhưng, nói chung tất cả đều vô hiệu...

Đêm khuya. Tôi đang cuốc bộ về nhà. Bỗng tiếng động cơ ô tô xé toang cái vẻ tĩnh mịch của trời đêm. Tôi quay lại; hai chiếc ô tô phóng như điên sát sạt bên tôi. Chiếc xe sau cắn đuôi chiếc xe trước. Từ cửa xe đầu có một chiếc va-li bị quẳng ra nằm ngay dưới chân tôi. Tôi chưa cần phải vội vàng còng lưng xuống xách nó lên, vì cách đó một quãng xa tiếng động cơ đã vừa tắt máy. Lại một chiếc va-li nhỏ màu đen nhờ nhờ. Lạ thật, không biết trong đó có gì nhỉ? Toàn thân run run, tôi bắt đầu mò mẫm tìm ổ khóa. Những ngón tay tôi không chịu sự điều khiển của tôi. Nhưng dầu sao tôi vẫn mở được. Cổ họng tôi bỗng thắt lại. Tôi đã nhìn thấy những tấm ngân phiếu mười bảng một, được xếp đặt gọn gàng. Năm ngàn bảng là cầm chắc, và có thể lên tới tám ngàn bảng cũng chưa biết chừng...

Chuyện thật lạ lùng! Hai cái ô tô ấy phóng đi đâu thế nhỉ? Bây giờ mình phải làm gì? Để quách chiếc va-li lại đây rồi một mình chuồn thẳng về nhà chăng? Nhưng trên đời này ai nỡ nhẫn tâm quẳng một tài sản kếch xù như thế ra giữa đường phố bao giờ! Làm thế là có tội đấy! Không, tôi nhất định phải giữ lại chiếc va-li này, không còn cách nào khác. À, mà tốt nhất hãy đợi một chút nữa xem sao: nhỡ chiếc xe thứ nhất quay lại thì nguy to. Nhưng làm thế nào mà dám đoán chắc rằng đấy chính là chiếc ô tô đã quẳng chiếc va-li xuống đường? Kìa, có hai xe đang quay lại. Liệu có đúng là hai xe khi nãy không? Mình dại quá, đã chẳng nhìn biển số, chẳng nhìn nhãn xe và thậm chí chẳng biết màu sắc của chúng ra sao nữa. Tôi tự nhủ đây là hai xe khác; chỉ có những người ngồi trong xe mới có thể nhìn thấy tôi mở chiếc va-li ra thế nào. Thôi hãy quên béng mọi chuyện trên đời này đi.

Phải, vấn đề chính là ở chỗ đó. Thời gian đang trôi qua, chiếc va-li đang cầm chắc trong tay; ai có quyền hỏi gì tôi nào?

Tự trong thâm tâm tôi có một tiếng nói khuyên tôi hãy đem quách chiếc va-li mà nộp cho cảnh sát. Nhưng giọng nói ấy yếu ớt quá và chẳng đáng tin cậy tí nào.... Chính tôi cũng hẳn sẽ bị tình nghi ngay tắp lự. Người ta sẽ bảo rằng tiền bạc này là của một băng găngxtơ đã ăn cắp được, và tôi là một tên trong bọn kẻ cướp đó. Thế là cảnh sát sẽ gông cổ tôi lại để lĩnh thưởng... Tôi vận dụng hết sức mạnh của ý chí xách chiếc va-li thẳng hướng nhà mình tiến bước. Năm ngàn bảng là cầm chắc; biết đâu còn có thể lên tới tám ngàn, mười ngàn... Bây giờ tôi sẽ không thèm dùng các phép tính trừ và tính chia nữa, sẽ chỉ dùng tính cộng và tính nhân thôi. Và dứt khoát sau từng cặp ba con số không tính từ phải sang trái sẽ phải đặt một cái chấm con con xinh xinh rồi. Tôi không còn phải nằm trằn trọc thâu đêm, vắt tay lên trán, mắt mở thao láo nhìn xoáy vào bóng tối nữa. Với món tiền khổng lồ này, đã có thể ngồi rung đùi trong chiếc ghế bành êm ái để ngắm cái ánh sáng dìu dịu phát ra từ chiếc lò sưởi điện kiểu Anh; dưới chiếc lò sưởi điện là bức tranh sơn dầu khổ lớn và sau đó là cái cửa con con của chiếc két sắt mở bằng một loại khóa đặc biệt... Thế còn bệnh đau đầu? Làm gì còn nữa!... Cuộc đời chỉ còn là một chuỗi ngày thanh thản và mộng mơ... Mộng mơ và thanh thản...

Nhưng đúng rằng tất cả chỉ là mộng mơ. Buổi sáng, bằng một giọng khóc dở mếu dở, vợ tôi lay tôi dậy:
— Còn những bảy ngày nữa mới tới kỳ lương, thế mà bây giờ cả nhà chỉ vỏn vẹn có nửa bảng thôi.
— Chỉ có thế thôi à?
— Chỉ có thế!

Tôi thu hết mọi sức lực đứng dậy, mặc vội bộ quần áo rồi đi khám bệnh. Đầu tôi cứ muốn vỡ tung ra, như có người nào đang dùng cái cuốc chim nhọn để khai mương trong vùng đá nham thạch. Tôi chưa kịp bước tới cửa thì đã có tiếng chuông réo gọi. Tôi liền đẩy vợ tôi về phía trước để cô ấy ra mở cửa. Vài phút sau vợ tôi quay lại, mặt xám xanh, giọng nói run run:
— Phải trả tiền điện.

Tôi hỏi lại vợ, cố gắng đứng cho vững:
— Bao nhiêu?
— Một bảng và chín mươi tư hào.
— Chỉ có thế thôi à?
— Chỉ có thế!

Thế là tôi cười lên sặc sụa, cười chảy nước mắt. Suýt nữa thì tôi chết sặc trong tiếng cười!...

Đoàn Chấn dịch

Nguồn: Bàn tay người da đen (tập truyện Châu Phi), NXB Tác phẩm mới, 1982