Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Luis Felipe Rodríguez (1888-1947)

Văn học Cuba

Luis Felipe Rodríguez (1888-1947)

Nhà văn Cuba

Thứ Hai 21, Tháng Mười 2013

Tiểu sử

Luis Felipe Rodríguez (30.7.1888 - 5.8.1947) là nhà văn Cuba. Ông sinh ở Manzanillo, Oriente và mất ở La Habana, Cuba. Ông xuất thân trong một gia đình bần nông. Từ nhỏ đã bắt đầu làm thơ. Cuốn sách đầu tay viết về hiện thực Cuba "Ảo tưởng cuộc đời" (1913). Sau đó in các cuốn tiểu thuyết "Đêmian Parêđét có ý định như thế" (1916), "Chiếc ly cạn" (1926); tuyển tập truyện ngắn "Lễ phục sinh của quê hương" (1923), Máccốt Antilia (1932). và nhiều tác phẩm khác nữa. Luis Felipe Rodríguez là một trong những nhà văn lớn của văn học hiện thực phê phán Cuba.

Tác phẩm

Đêm giáng sinh

Anh hãy thắp sáng ngọn đèn trí tưởng tượng của mình và hãy hình dung những điều tôi sẽ kể. Tôi muốn anh một lần nữa cũng dưới ánh sáng đó, ghé nhìn qua một khe nhỏ, để thấy người cố nông Cuba đang sống như thế nào. Tôi, Marcos Attilia, một đứa con của Tổ quốc tôi, mang tất cả những ưu điểm và nhược điểm của dòng giống Créol thuần khiết, có ý định kể anh nghe một câu chuyện nhỏ về những đồn điền mía Cuba. Anh muốn biết những đồn điền đó là cái gì phải không? Tôi xin giải thích anh nghe bây giờ. Dù các nhà bác học có nói gì đi nữa, thì trong quan niệm của tôi, các đồn điền mía cũng gắn chặt với sự chiếm hữu thuộc đại, với việc buôn bán nô lệ, với lao động rẻ mạt, với mặt trời đỏ lửa và với tư bản nước ngoài... Ấy, anh bạn trẻ, đừng nhìn tôi với vẻ thiểu não như thế. Tôi chưa mở miệng, thì anh cũng đã buồn chán rồi: dù sao thì câu chuyện của tôi chẳng qua cũng chỉ là một trong số những câu chuyện mua vui dọc đường mà thôi.

Đây, câu chuyện thế này: Một hôm, tôi bảo người bạn:
— Đêm nay là đêm Chúa Jésu Cristo giáng sinh để cứu vớt chúng ta. Người sinh ra trong một gia đình mục phu, giữa những bụi mía, nơi còn tối tăm hơn cả túp lều của chúng ta. Theo ý Chúa, chúng ta sẽ ăn mừng Chúa giáng sinh trên đất chúng ta. Thay vì ngôi sao Viplem, chúng ta sẽ treo cây đèn lên cái xà cao nhất, và thay cho các thánh, — tôi nói đùa, — chúng ta sẽ mời mấy người khách danh dự là ngài quản lý Norton, thư ký của ngài Rojelio Rivasa Soto de Casamaio, và bác tá điền danh tiếng của chúng ta, Fico Lacrasea, chúng ta sẽ hát:
Đêm nay ở Víplem
Giáng sinh Chúa Jésu Cristo..
.

Trong lán của chúng tôi trú ngụ hai mươi lăm chàng trai. Một người quê ở Puerto Rico, hai người ở Cộng hòa Dominica, hai người nữa ở Jamaica, còn lại là người Cuba. Trong số dân Cuba chúng tôi, có một anh chàng ở Pinar del Río, nổi tiếng về tài biết kiếm ra và quay dê, heo. Anh ta khéo đến nỗi, không những chủ của đàn gia súc không hay biết mà đến cả tay trái của anh ta cũng không biết tay phải làm gì. Cũng cần phải nói thêm với anh một điều là người gần tôi nhất về hai phương diện: chỗ nằm và chính kiến, là một người Tây Ban Nha. Trước đây, anh ta làm ở khu mỏ Biscai, sau đó, như một cọng cỏ bị gió thổi đến các đồn điền mía ở các đảo Đại Antilles. Cái cọng cỏ ấy là Manuel Erdos, và nếu như không tâm niệm rằng cần phải chấn chỉnh trật tự ở cả Tây Ban Nha lẫn toàn thế giới, thì có thể bây giờ anh ta đã làm thị trưởng ở Bilbao rồi cũng nên. Đó là vài nét sơ lược về tiểu sử và tư tưởng người đồng nghiệp của tôi.

Ngày hôm đó, như bao ngày khác, những cây mía xanh từ sau các túp lều ngó ra biển xem có những con tàu từ Bắc Mỹ chạy sang không. Mặt trời dội lửa xuống chúng tôi, lưng nóng bỏng không sao chịu được, trán vã mồ hôi hột, lưỡi dao chặt mía sáng lóe lên như những tia chớp và trên mặt biển Antilles xanh màu ngọc bích lấp loáng bao ánh phản chiếu. Công việc đòi hỏi vừa nhanh lại vừa thuần thục. Giống như khi tiến hành một nghi lễ thiêng liêng tế một vị hung thần, hai mươi lăm cánh tay, như theo khẩu lệnh, nhất tề nắm lấy những thân mía mềm, mọng nước, tước những áo mía trinh bạch bao quanh thân cây, rồi chém một nhát chính xác vào gốc, thế là chúng chết một cách ngoan ngoãn và không chút vẻ vang. Sau đó, chúng tôi còn bồi cho chúng ba nhát nữa, rồi xếp các đoạn vào một đống.

Sau cùng, những tia nắng cuối cùng của mặt trời trên đồng mía cũng tắt. Năm chục cánh tay mệt mỏi buông thõng ném hai mươi lăm con dao lớn xuống đất. Hết cả hăng máu, chỉ thấy bải hoải rã rời. Nhưng chúng tôi sực nhớ ra hôm nay là ngày áp lễ Giáng sinh và thế là tươi tỉnh lại được và trở về lán.

Cái đêm, theo truyền thuyết, Chúa Jésu Cristo hài đồng ra đời, đã bắt đầu. Hằng hà sa số các vì sao mọc trên trời, ngó qua cửa sổ nhìn bàn tiệc của chúng tôi.

Trong lán, cây đèn đỏ độc nhất sáng lấp lánh dưới cái xà cao nhất.

Anh chàng người Pinar del Río đã hoàn thành nhiệm vụ. Của đáng tội, thịt heo thì lần này anh ta không kiếm được, nhưng lại có một chú dê con, theo lời anh ta, cũng khá. Những cư dân Haiti nghèo khổ! Sano Gabano sáng mắt lên và cánh mũi phập phồng. Hai anh chàng Jamaica thèm thuồng nhìn bàn ăn không rời mắt, nhưng cũng không quyết định công khai bày tỏ sự hân hoan trước những chiến công nội trợ của người đầu bếp của chúng tôi: họ chưa hiểu đối với việc này chính quyền Anh quốc sẽ tỏ thái độ thế nào.

Như những tín đồ Thiên Chúa giáo thực sự, chúng tôi bắt đầu ăn uống, cười đùa. Dù chỉ được một đêm quên đi những đồn điền mía cũng là một hạnh phúc vĩ đại làm sao! Trong đêm nay, một người con của nhân loại đã ra đời. Ponti Pilat đã đóng đinh câu rút Người, vì Người muốn mỗi một con người đều có chỗ của mình trong ngày hội của cuộc đời. Và chúng tôi ăn mừng ngày sinh của Người không phải vì lý tưởng công bằng của Người đã được thực hiện trên thế gian mà là vì bọn chúng tôi còn chưa chết đói, cả về phần xác lẫn phần hồn; vì chúng tôi vẫn còn là những tên cùng khổ mà máu của chúng tôi sẽ để cho bọn chủ đồn điền uống. Và chúng tôi tin rằng Đức Chúa trời sẽ đến với chúng tôi, nhưng không phải để nói: "Nước Chúa của ta không tách rời thế giới này". mà là để mang lại cho chúng tôi ngay tại đây, trên mảnh đất này, cái thiên đường đã hứa.

— Hoan hô! — Anh chàng người Pinar del Río kêu to, sau khi suýt nữa chết nghẹn vì một miếng thịt lớn.
— Đừng có gào lên thế, thằng ngu! — Anh chàng người Puerto Rico sợ hãi quát.

Một trong số hai người Jamaica sợ những câu to tiếng như thế có thể làm đức hoàng đế Anh quốc của anh ta nổi giận liền quay sang Manuel Ercos, bảo:
— Khóa cái mõm lại, anh Tây Ban Nha ơi! Nếu không ngài Norton và Fico Lacrasea sẽ cho anh biết tay đấy!

Cái nhìn của những người Haiti đang cần mẫn cử động những chiếc quai hàm dường như muốn nói thế này: điều anh chàng Tây Ban Nha kia nói có thể cũng thích hợp cả với những người Haiti, nhưng hãy để chúng tôi bình tĩnh ăn uống cho ngon, vì thịt dê có phải ngày nào cũng được ăn đâu.

Còn tôi, Marcos Antilia, thì không kiềm chế được nữa, tôi cất tiếng hát. Quả tình, đêm Giáng sinh này làm tôi xúc động mạnh, đến nỗi cho đến lúc trời sáng, tôi vẫn còn bị những ấn tượng đó chi phối.

Đêm hội của chúng tôi đã kết thúc. Đã đến lúc đi làm. Vừa ra khỏi lán, chúng tôi đã thấy chính Mr. Norton, sau ngài là Fico Lacrasea và hai viên cảnh sát ở trong làng tiến lại, Fico Lacrasea tốt bụng nói với chúng tôi:
— Mr. Norton luôn luôn bảo vệ pháp luật. Ngài là bạn của Cuba, bạn của những người lao động hiền lành và ngay thẳng. Ngài kêu gọi duy trì và bảo vệ trật tự của công ty mà ngài đại diện. Ngài biết rõ điều gì xảy ra ở đây đêm qua và yêu cầu các anh đi làm ngay, không nói lôi thôi, còn anh người Tây Ban Nha: Ercos và Marcos Antilia đã làm người khác xao lãng công việc và phá rối trật tự thì phải lập tức đi đến Orminga Lorca. Cảnh sát sẽ giải đi.

Manuel Erdos chửi rủa ầm lên.
— Mr. Norton không có quyền. — Tôi mỉm cười bình tĩnh nói. — Chúng tôi tổ chức ăn mừng Chúa giáng sinh, không ai có quyền cấm, vì chúng tôi đang ở trên đất chúng tôi.

Mr. Norton từ đầu đến giờ vẫn giữ vẻ thản nhiên liền long trọng lên tiếng, như đứng trong thánh đường:
— Đây không phải là đất của các anh, Đây là đất của công ty đường Cuba. Công ty không thích những cuộc quần tam tụ ngũ, vì điều đó làm cản trở lao động và công việc. Công ty muốn mọi người chỉ nghĩ đến việc chặt mía. Marcos Antilia và anh, tên vô chính phủ Tây Ban Nha kia! Ở đất này, chúng tôi chỉ cho các anh có một quyền: đó là cuốn gói khỏi đây cho nhanh. Còn đi đâu thì cảnh sát sẽ nói cho các anh biết.

Nói đoạn, Mr. Norton oai vệ bỏ đi. Tôi định phản đối nhưng cổ tắc nghẹn không nói được. "Nhưng mà hắn nói đúng, — tôi nghĩ, — Quả thật, đây nào phải là đất của chúng tôi!".

Chúng tôi không nói một lời, rời khỏi địa phận của công ty đường Cuba. Trước mặt chúng tôi, con đường uốn khúc dưới ánh nắng mặt trời Cuba rực rỡ. Sau lưng chúng tôi là cánh đồng mía đã tưới đẫm mồ hôi và máu chúng tôi.

Trần Ngọc Phong dịch

Nguồn: Bông hoa nhỏ dành cho Maura (tập truyện Cuba), NXB Mũi Cà Mau, 1986