Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Yuri Pavlovich Kazakov (1927-1982)

Văn học Nga

Yuri Pavlovich Kazakov (1927-1982)

Nhà văn Nga

Thứ Bảy 26, Tháng Mười 2013

Tiểu sử

Yuri Pavlovich Kazakov (Юрий Павлович Казаков, 8.8.1927 - 29.12.1982) là nhà văn Nga Xô viết. Ông sinh và mất ở Mátxcơva. Tốt nghiêp Viện Văn học Gorki năm 1958. Ông là bậc thầy về thể loại truyện ngắn, thường được so sánh với Anton Chekhov và Ivan Bunin. Tên ông được đặt thành tên giải thưởng văn học là Giải thưởng Yuri Kazakov, giải được trao cho những tác giả có tác phẩm truyện ngắn hay nhất trong năm của Nga. Một số truyện ngắn của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Tác phẩm: "Xanh lam và xanh lục" (Голубое и зелёное, 1956); "Teddy" (Тедди, 1957), "Manka" (Манька, 1958), "Ga xép" (На полустанке,1959), "Phương bắc dễ ghét (Проклятый Север, 1964), "Đôi ngày tháng chạp" (Двое в декабре, 1966), "Mùa thu trong rừng sồi (Осень в дубовых лесах, 1961, 1969, 1983), "Nhật ký phương bắc" (Северный дневник, 1977), "Con đã khóc sướt mướt trong mơ" (Во сне ты горько плакал, 1977) v.v...

Tác phẩm

Ga xép

Trời vào thu ảm đạm và lạnh lẽo. Nhà ga thấp, không lớn lắm, được làm bằng một thứ gỗ tròn, hiện ra đen thẫm dưới mưa. Đã hai ngày nay gió bấc thổi về dữ dội; gió rít lên bên trong cửa sổ của tầng hầm mái ga, trong chiếc chuông và làm những cành bạch dương trơ trụi quằn hẳn xuống, đong đưa liên hồi.

Bên mấy chiếc cọc buộc ngựa tơi tả, thấp ngang đầu, có một chú ngựa đang đứng dạng chân. Gió hất đuôi của nó sang hẳn một bên, làm lay động bờm lông trên lưng; và từng cơn gió lật tung đống cỏ khô trên thùng xe ngựa. Nhưng nó vẫn không ngẩng đầu, đôi mắt nhắm nghiền, có lẽ nó đang mải nghĩ đến điều nặng nề nào đó hoặc là đang thiu thiu ngủ.

Cạnh đấy là một chàng trai có khuôn mặt bè bè, quê kệch, đầy vết tàn nhang, mặc chiếc áo bành tô da đang ngồi trên chiếc va li. Chàng trai không ngừng rít thuốc lá, một thứ thuốc rẻ tiền, rồi nhổ nước bọt, đưa những ngón tay ngắn, đỏ au lên xoa cằm, mặt cúi gằm xuống đất, buồn bã.

Cạnh anh, có một cô gái đang đứng, đôi mắt sưng húp, mớ tóc thò ra dưới chiếc khăn quàng. Khuôn mặt cô hiện ra vẻ khắc khổ, phờ phạc, chẳng chút hi vọng hay thương cảm; hoàn toàn lạnh tanh, lãnh đạm. Có chăng trong đôi mắt u uất kia đang phảng phất một nỗi đau đớn — không nói nên lời. Cô kiên nhẫn đổi đôi chân ngắn cũn với đôi bốt bê bết bùn, cố gắng xoay lưng lại hướng gió, không rời mắt khỏi những đường gân trắng trên tai anh.

Những chiếc lá theo gió lăn tăn trên sân ga, yếu dần tập trung thành đống, rì rầm với nhau điều gì đó một cách buồn bã. Được một lát, gió lại lùa đi, lại một lần nữa là đà trên mặt đất ẩm ướt rồi rơi tõm vào mấy vũng nước, dính chặt ở đó, bất động. Xung quanh hoàn toàn ẩm ướt, dễ bị cảm lạnh...

— Đấy, chính cuộc đời đấy, nó đang trở về đây, phải không? — Bất thình lình chàng trai gợi chuyện, nhếch mép cười. — Bây giờ, việc của tôi khá rồi! Tôi ở lại nông trường để làm gì? Vì ngôi nhà ư? Ngôi nhà cứ để mặc cho mẹ và chị gái ở, chẳng có gì phải tiếc cả. Tôi đã sống ở trên tỉnh, lúc ấy chắc thế nào các huấn luyện viên cũng dành cho tôi một căn phòng... Mấy vận động viên cử tạ như tôi thế nào ư? Trong những trận thi đấu giành hạng vận động viên cấp I, họ chơi rất chật vật. Còn tôi, như một kiện tướng đã cử giật hết sức đơn giản! Em thấy thế nào?

— Em cũng như thế à? — Cô gái khe khẽ hỏi.

— Em ư? — Liếc nhìn cô gái, anh hắng giọng. — Đã nói rồi. Cho anh nhìn tí mà. Anh đi nghe. Đối với anh lúc này, không khi nào... anh cần phải đạt những kỷ lục... Anh sẽ đi Mátxcơva. Ở đấy, anh sẽ cống hiến cả cuộc đời anh cho nó. Anh chỉ tiếc mỗi một điều: đã không biết được những cơ cấu phức tạp này sớm hơn... có lẽ, lâu rồi... chúng nó sống ở đây như thế nào nhỉ? Chúng đang luyện tập.,.. còn anh, như con hải li khỏe mạnh, em hãy đợi đấy, anh sẽ đè bẹp chúng lại một chỗ. Sau đó, anh sẽ đi nước ngoài, tạo lập cuộc sống... Cầu mong! À... anh sẽ về với em... sau này, anh viết thư...

Từ xa vẳng lại tiếng động cơ của con tàu, không rõ lắm. Lát sau, tiếng còi tàu lảnh lót kéo dài nhưng buồn bã phá tan cảnh yên tĩnh buồn chán và ảm đạm. Cửa ga được đóng lại. Trên sân ga lố nhố những chiếc cổ áo ca-pốt. Lúc này người xếp ga bước ra với bộ mặt còn ngái ngủ, đầu đội chiếc mũ cát-két đỏ, lấm chấm vài vết dầu ma-zút đen ngòm.

Ông len vào giữa đám hành khách, lấy thuốc ra vò nát trong tay, ngửi và hướng mắt nhìn trời, sau đó cho tất cả vào túi, vừa ngáp vừa cất tiếng hỏi; giọng khàn khàn:

— Toa nào đấy?

Chàng trai ngoắt chiếc cổ nhỏ và ngắn cũn lại, đưa mắt xuống đôi giày cao su mới tinh nơi chân người xếp ga, vừa lục tìm chiếc vé trong túi.

— Số 9. Có gì không?

— Nào, nào... — Người xếp ga lại ngáp, lầu bầu. — Anh nói số 9 hả? Thế... số 9 đây. Còn thời tiết đểu quá! Ái-chà-chà!...

Xong ông quay trở lại, đi vòng qua vũng nước, tiến vào gian để hành lí. Con tàu đã xuất hiện từ sau khu rừng, nó nhanh chóng lại gần, từ từ giảm tốc độ nhưng còn cố sức kêu lên mỏi mệt, yếu ớt. Chàng trai ngẩng lên, ném mẩu thuốc lá và đưa mắt nhìn cô gái. Cô đang gượng cười nhưng đôi môi chẳng theo ý muốn, cứ run lên.

— Ái chà, thôi đủ rồi! — Chàng trai cằn nhằn, cúi xuống nhấc va li. — Em nghe chứ? anh nói hết rồi mà!

Hai người chầm chậm bước đi trên sân ga, tiến lại chỗ tàu đậu. Cô gái tha thiết đưa mắt nhìn lên khuôn mặt anh, hai tay đưa lên bụm miệng, nói một cách vội vã, lộn xộn:

— Ở đấy, anh hãy gắng giữ mình, đừng cử động như thế quá nhiều... có gì em làm sao sống nổi... Hãy nghĩ đến bản thân, đừng phí sức... Còn em? Em sẽ đợi! Em sẽ tìm anh trên những trang báo... anh chớ tơ tưởng đến em mà làm gì. Điều này có nghĩa là em yêu anh, em có khóc đấy, nhưng em nghĩ là...

— Ôi dào, vứt cả đi! — chàng trai kêu lên — như truyện không bằng, tôi đi đây...

Chung quanh hai người, mặt đất rung chuyển, chiếc đầu máy của con tàu đã đến, đang tỏa ra luồng hơi ấm và ẩm ướt bao quanh họ. Phía sau là những chiếc toa nối đuôi nhau, mỏi mệt, chậm dần, chậm dần. 1,2,3.

— Toa thứ 9 kia rồi! — Cô gái nói thật nhanh. — Chúng ta chờ một lát!

Chiếc toa nhẹ nhàng dừng lại cạnh hai người. Ngay trên lối ra vào toa, những người hành khách phờ phạc, xanh xám đang xúm quanh, cùng hướng đôi mắt tò mò nhìn ra. Trên một khung cửa sổ có một người đàn ông, râu mọc tua tủa, đứng đợi. Ông mặc trên người bộ pyjama kẻ sọc, trán hằn những vết nhăn, đầy đặn, vẻ quyết tâm, ông cố sức mở chiếc cửa sổ. Khung cửa như chẳng chiều ý, và thế là ông nhăn nhó trông thật thiểu não. Cuối cùng ông đã mở được. Ngay tức thì ông nhoài cả người ra ngoài, nhìn quanh nhà ga với nụ cười ngơ ngác trên môi. Ông nhìn thấy cô gái, vẫn với nụ cười đầy vẻ khoan dung, khẽ lên tiếng:

— Đây là ga nào thế, cô?

— Lunđanka. — Người phụ trách toa trả lời, giọng khàn khàn.

— Có hoa chứ? — Người đàn ông mặc bộ pyjama hỏi, mắt vẫn không rời cô gái.

— Chẳng có hoa đâu, — Người phụ trách toa lại nhắc, — chỉ có hai phút thôi đấy nhé!

Thế này là thế nào nhỉ? — Người hành khách ngạc nhiên, mắt vẫn đăm đắm nhìn về phía cô gái.

— Đóng cửa sổ lại đi! — Từ trong toa vang lên lời yêu cầu, vẻ khó chịu.

Người đàn ông mặc bộ pyjama quay lại, phơi chiếc lưng đầy đặn, gượng cười một cách thương hại, đóng cửa sổ xong ông ta biến đi mất, như tàng hình.

Chàng trai đặt va li xuống lối đi, quay lại phía cô gái.

— Thôi, mình tạm biệt nhau vậy. — Anh nói một cách nặng nề, cho cả hai tay vào túi.

Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má, cô gái nức nở, chúi đầu vào vai anh.

— Em sẽ buồn biết bao, — Cô thì thào. — Anh nhớ viết thư cho em... Mà anh sẽ về đấy chứ?

— Đã nói rồi, — Chàng trai nói vẻ miễn cưỡng, pha chút sợ hãi. — Nào, hãy lau nước mắt đi!

— Vâng, em có sao đâu, — Cô gái thì thào, thở dài, vội vàng đưa tay gạt nước mắt, hướng về anh đầy trìu mến. — Em còn lại mỗi một thân. Hãy nhớ người ta thường hay nói rằng...

— Tôi nhớ, tôi phải làm gì rồi! — Chàng trai lẩm bẩm cau có, ngẩng đầu lên, nhìn quanh.

— Đối với em... cả đời mình. em đã dành cho anh, anh hãy nhớ điều này!

— Đã nói rồi... — Chàng trai cằn nhằn, đưa mắt nhìn xuống chân mình một cách thờ ơ.

Hai hồi chuông vang lên, yếu ớt.

— Anh trai ơi, tôi yêu cầu anh vào trong toa cho. Hãy chấm dứt thôi... — Người phụ trách toa kêu lên và trước tiên bước lên lối ra vào toa.

Cô gái tái mặt, đưa tay lên bụm miệng.

— Vaxia! — Cô gào lên, hướng đôi mắt như dại đi về phía hành khách: mọi người đều quay lại nhìn — Vaxia, hãy hôn em đi!

— Điều gì xảy ra cho tôi đây... Chàng trai lại lẩm bẩm, đứng dừng hẳn lại suýt ngã bổ ra đằng sau, cúi người về phía cô gái. Sau đó anh ưỡn thẳng người ra giống như vừa kết thúc một công việc khá nặng nhọc, nhảy vào trong toa. Cô gái khẽ ối lên, cắn chặt môi đến bật máu, úp mặt trong hai bàn tay nhưng lúc này tay cô như chẳng còn chịu sự điều khiển của cô, cứ rời ra...

Chiếc đầu máy ở đằng trước kêu lên như mắc nghẹn, tiếng xèo xèo nổi lên dưới toa tàu, tất cả như đang nghẹn ngào bởi tiếng vọng ngắn ngủi và xa xăm của rừng già. Những chiếc toa như đã lờ mờ hiểu ra, trở nên gàn dở. Những thanh tà vẹt bắt đầu kêu ken két. Chàng trai đứng trong toa, cau mặt nhìn cô gái, sau đó thấy ngượng, cất tiếng kêu khàn khàn:

— Em cứ nghe anh. Anh chẳng đi xa đâu! Em nghe anh đi...

Anh nhe răng, hít mạnh không khí, vẫn còn nói một điều gì đó không rõ, một điều không may, rồi mang va li lên, lê bước tiến vào trong toa.

Cô gái như có điều gì đó nản lòng, gục đầu xuống. Những toa tàu nối nhau vụt qua, mấy thanh tà vẹt kêu lên ầm ầm, phát ra âm thanh ken két, the thé. Còn cô, vẫn nhìn chòng chọc vào vết dầu ma-zút lấp lánh ngũ sắc trên đường ray, nó thoáng biến mất dưới những bánh tàu, rồi ngay tức khắc lại xuất hiện. Cô gái nhìn một cách trầm tư, len lét, và chính cô cũng chẳng nhận ra là cô đang mỗi lúc như một gần lại chỗ vết bẩn; tựa như nó đang quyến rũ, lôi kéo cô. Cô gái cố sức ghì tay lên lồng ngực đang nhói đau, vẻ mặt ánh lên vẻ sợ hãi, trên đôi môi như con trẻ kia dần trắng bệch...

— Hãy coi chừng! — Bất thình lình trong đầu cô vang lên tiếng thét dữ dội.

Cô gái bất giác rùng mình, chớp mắt và lại nhìn thấy vết bẩn màu ngũ sắc hiện ra sờ sờ; tai cô nghe tiếng rít ken két của thanh tà vẹt và tiếng lạch cạch đều đều của bánh con tàu. Cô ngẩng lên, nhìn thấy chiếc toa cuối cùng của đoàn tàu với tấm chắn tròn màu đỏ trên chiếc tăm-pông. Lúc bấy giờ, xung quanh hoàn toàn im ắng và tấm chắn màu đỏ kia như đang bơi giữa không trung, mỗi lúc một xa dần. Ngay lúc đó cô gái ngước nhìn lên bầu trời và thấy như nó đang chùng hẳn xuống. Cô hững hờ kéo khăn lên che mặt và kêu rú lên, người lảo đảo như một bà lão say rượu:

— Đi r-ồ-i!...

Con tàu nhanh chóng khuất sau khu rừng bên cạnh. Không gian trở nên yên tĩnh. Cô lê bước, người xếp ga tiến lại đứng sau lưng cô, ngáp:

— Đã đi rồi ư? — Ông ta hỏi, - Hừm... Hôm nay tất cả đã đi rồi.

Ông im lặng, nhổ nước bọt và lấy chân xéo lên bãi nước bọt vừa nhổ.

— Chẳng bao lâu nữa tôi cũng đi nốt... — Ông lẩm bẩm. — Tôi đi về miền nam. Ở đây buồn quá, trời mưa hoài... Còn ở miền nam tiết trời ấm áp. Thế là thế nào nhỉ? Như những cây trắc bá...

Nói rồi ông đưa mắt nhìn sang cô gái, nhìn xuống đôi bốt đầy bùn, lãnh đạm và nhỏ nhẹ hỏi:

— Này cô gái ơi, không phải là "ngọn đèn biển đỏ" đấy chứ? Thế nào? Hừm... thời tiết thế này quả là đồ vô lại. Thực mà!

Ông bước đi chầm chậm tránh vũng nước trước mặt.

Cô gái vẫn đứng rất lâu trên sân ga vắng ngắt, mắt nhìn thẳng về trước, nhưng kỳ thực cô chẳng nhìn thấy gì: cả khu rừng ẩm ướt, tối om, cả đường ray trăng trắng, hiện ra lờ mờ cùng mấy bụi cỏ màu chì... Cô chỉ nhìn thấy mỗi bộ mặt rỗ hoa, sần sùi của anh mà thôi.

Cuối cùng, cô thở dài, lau bộ mặt ướt đẫm và quay lại chỗ con ngựa. Cô cởi bỏ sợi dây buộc, sửa lại dây đai, lật tung mớ cỏ khô rồi bước lên thùng xe nắm lấy dây cương. Chú ngựa ngã người ra đằng sau, ve vẩy đuôi, ý chừng muốn cưỡng lại, sau đó miễn cưỡng bước ngang qua hàng rào, nơi có đụn cỏ khô và những thanh tà vẹt được xếp chéo vào nhau thành chữ thập rồi tiến ra con đường làng.

Cô gái ngồi yên, chẳng hề nhúc nhích, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc càng xe phía trước, sau đó, ngoảnh lại nhìn nhà ga lần cuối rồi úp mặt xuống thành xe.

1954

Trần Đình Châu dịch

Chú thích

— Tăm-pông: Bộ phận giảm xung của tàu hỏa.
— "ngọn đèn biển đỏ": Nguyên bản là Krachưi viết hoa — ở đây có nghĩa là người đẹp đứng yên chờ đợi như một ngọn đèn biển (ND)

Nguồn: Adam và Eva (tuyển truyện ngắn Iuri Kadakov), Sở Văn hóa và thông tin Nghĩa Bình, 1986