Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Ilya Grigoryevich Erenburg (1891-1967)

Văn học Nga

Ilya Grigoryevich Erenburg (1891-1967)

Nhà văn Nga

Thứ Bảy 26, Tháng Mười 2013

Tiểu sử

Ilya Grigoryevich Erenburg (Илья Григорьевич Эренбург, 27.1.1891 – 31.8.1967) là nhà thơ, nhà văn Nga Xô Viết. Ông sinh ở Kiev và mất ở Mátxcơva. Ông đã được nhận Giải thưởng Stalin (1942, 1948); Giải thưởng Lenin (1952). Tác phẩm của ông đã được dịch nhiều sang tiếng Việt.

Tác phẩm

Câu chuyện về Lukasốp

Trên chiến trường, bên cạnh những xác chết, vũ khí bị hư hại, những ảnh báo và những mảnh quần áo, có những bức thư vương vãi, phong bì màu hồng và màu thanh thiên, hay thư gấp thành hình tam giác, viết trên giấy kẻ ô ly xé từ quyển vở ra hay trên mặt trái của tờ hóa đơn. Những lá thư ấy giống như những cánh hoa. Đối với con người đang mải lo một công việc vượt quá sức người, chúng nhắc cho người ta nhớ đến cuộc sống.

Trong chiến tranh, người ta nói đủ mọi thứ chuyện: nói về mưa, về món cháo, về những người vợ chung thủy và không chung thủy, về gã kế toán ranh ma ở nông trang. Người ta chỉ không nói đến chiến tranh.

Lukasốp thật khéo kể chuyện nhà mình đến ngay cả những người hay nghi ngờ cũng phải cảm động: Nôvô Ilinxkôê có vẻ là chốn thiên đường. Ở đấy có một bờ dốc dựng đứng ven sông, trẻ con lặn hụp trong nước và la hét, còn trên sườn dốc là nhà Lukasốp. Nàng Masa mắt xám, ngực tròn căng, má hồng lựng, đứng cạnh bếp lò. Chiếc đồng hồ quả lắc nảy nhíp đều đều như tiếng tim đập... Còn mật ong, mật ong thơm ngon! Trước ngọn gió giá buốt của thảo nguyên gần Attrakhan, Lukasốp kể chuyện về bọng ong và mọi người mường tượng kiều mạch trổ hoa. Những con ong, hay những con ong bé bỏng — theo lời Lukasốp — bay vo vo trong bão tuyết.

Lukasốp đã vượt qua nhiều dặm đường. Hôm ấy là một ngày thu rực rỡ, cát lấp lánh như tuyết. Lukasốp cảm thấy sông rộng quá chừng, và anh thở dài. Còn đồng đội của anh reo hò vui vẻ: đến được sông Đơniep có phải là chuyện chơi đâu. Lukasốp tìm thấy một chiếc thuyền con ọp ẹp giữa đám cành liễu. Anh sốt ruột lạ lùng. Đại úy nói: "Người Ukraina xứng đáng được..." Lukasốp cáu: "Tôi là người Tambốp...", anh vội vã như thể ở bên kia là nhà anh.

Họ chèo chống khá lâu, nước cuốn thuyền trôi. Hai tay Lukasốp đẫm máu. Bọn Đức bắn, sông phun bọt phì phì. Rồi một mảnh đạn xuyên thủng phần đuôi thuyền. Nước rít lên, Lukasốp nhảy xuống bơi đi, trán anh nổi phồng gân xanh.

"Cậu ấy bơi sang được rồi". Đồng đội ngỏ lời thán phục. Cô điện báo viên nhắc lại tên Lukasốp. Tên anh bay vào căn nhà có bốn vị tướng đang ngồi bên tấm bản đồ. Tên anh bay đến Mátxcơva, đột nhập vào những căn phòng mờ mịt khói thuốc lá của các tòa soạn, xuống các phòng sắp chữ, và sáng hôm sau, nó bắt đầu đi chu du khắp đất nước mênh mông.

Masa đọc báo và bật khóc "Ngớ ngẩn — ông bố nói, — sao lại khóc? Xem xem cấp bậc của nó ra sao?". Chị đáp: "Con thật là ngố", — và chị mỉm cười, nhưng nước mắt vẫn chảy hoài. Chị nhớ đến chồng, nhớ lần anh đọc báo: "Chiến tranh ở Tây Ban Nha"... Hình ảnh Lukasốp nhòa đi, nhưng chính vì thế chị càng muốn khóc nhiều hơn.

Buổi tối, các chiến sĩ ngồi trên cát ẩm. Bầu trời rực lửa, những đốm lửa màu lá mạ và da cam.

— Người ta làm bến qua sông, — Lukasốp nói, châm thuốc hút và lại bắt đầu kể chuyện, — Một đội thiếu niên tới cắm trại. Một cô phụ trách cùng đi với các em, cô gái người Kiép. Hồi ấy tôi đâu có ngờ số phận sẽ lại đưa tôi đến đây?... Buổi tối các em đốt lửa trại và ca hát. Cô ấy cũng hát. Đôi khi con người ta có giọng hát khiến người khác nghe mà xúc động đến phát run lên. Còn Masa lại cười. Cô ấy bao giờ cũng thế: — ấp hai tay lên ngực chỗ tim đập và cười. Tôi hỏi: "Ở đâu ra những bài hát như thế?". Còn cô ấy...

Chợt có tiếng động cơ ầm ầm. Mọi người lập nghiêm, tưởng tướng quân đến. Nhưng một sĩ quan lạ mặt ra khỏi xe, hỏi Lukasốp đâu. Đấy là Đađaép phóng viên quân đội và là nhà văn. Lukasốp tới gặp anh ta.

— Tôi đây, thưa thiếu tá!

Đađaép mỉm cười:

— Hay lắm! Tôi là nhà báo. Vả chăng, chính tôi cũng muốn nói chuyện tâm tình với đồng chí...

Lukasốp cảm thấy lo phiền: danh tiếng làm anh mệt mỏi. Anh mong mỏi đừng ai biết đến mình, như con chim tha thiết muốn ẩn mình trong bóng tối màu xanh của khu rừng.

Ở tòa soạn người ta bảo Đađaép: "Cần biểu dương những anh hùng vượt sông". Và Đađaép bắt đầu gạn hỏi Lukasốp từng li từng tí. Lukasốp trả lời vắn tắt và khô khan: anh bơi được tới bờ bên kia, rồi anh em khác bơi sang kịp thời. Thường ngày vốn hay nói, giờ đây anh lại lặng thinh. Anh biết bây giờ các đồng chí đang nói: "Cậu ấy gặp may, Đađaép sẽ viết về cậu ấy", vì thế anh chán ngán, muốn mau mau quay lại với các bạn, kể nốt câu chuyện về cô phụ trách thiếu niên. Nhưng Đađaép không chịu thôi: con người khiêm tốn điềm tĩnh này có cái gì hấp dẫn anh.

Các nhà văn thường thích những người mà họ không bao giờ miêu tả được, còn trong các sách của Đađaép thì cuộc đời lại ồn ào và mãnh liệt. Anh không biết nói thầm, không hiểu rõ các sắc thái chiến tranh, anh thấy nó vừa tàn bạo vừa đẹp. Anh là người can đảm, và anh trêu chọc thần chết bằng cách chọn những chỗ nguy hiểm nhất.

Nhiều người cho rằng Đađaép độc ác, nhưng một mặt anh ta làm cho bạn xa lánh mình, mặt khác anh ta lại có thể vồ vập ngay một người mới thoạt gặp: đối với anh, người chỉ là một bộ phận của phong cảnh. Anh có năng khiếu, anh viết theo yêu cầu, không phải vì xu nịnh, mà bởi vì anh hoàn toàn dửng dưng, thái độ dửng dưng ẩn sau những lời lẽ nồng nhiệt và những hành động liều lĩnh. Anh không yêu người đàn bà mà vì người đó suýt nữa anh tự sát, cũng không yêu ông bố già. Anh có yêu nghệ thuật không? Anh chỉ nghĩ về anh thôi. Khi thất bại trong sáng tác, anh bị dằn vặt như một con bạc gặp vận đen, danh tiếng là tiền đặt cửa. Khi một người bạn trách anh háo danh, anh đáp một cách nghiêm chỉnh và buồn rầu: "Có lẽ ngay cả danh vọng cũng chỉ là hư ảo..."

Anh tự hào là người khéo gợi mở tâm tình: một con "át" nổi tiếng đã thú nhận với anh rằng anh ta mê tín như đàn bà. Một viên đại tá dầu hai thứ tóc đã thổ lộ với anh câu chuyện tình duyên trắc trở của mình. Vậy thì lẽ nào không tìm hiểu được con người có đôi mắt xanh cả tin này?

— Đồng chí nên nói chuyện với Gôlubencô, đêm hôm đó Gôlubencô vượt sông ba lần kia đấy.

Đađaép mỉm cười:

— Tôi muốn viết về đồng chí! Vợ đồng chí sẽ đọc bài đó...

Lukasốp giật mình: anh quên rằng trước mặt anh là một nhà văn.

Rút cuộc Đađaép đã dò biết được bí mật của Lukasốp, đã được nghe kể cả về Masa, cả về những con ong bay vo vo.

Ánh lửa pháo sáng chiếu rọi khắp xung quanh, một trái bom nổ gần đâu đây. Đađaép hút thuốc lá và mỉm cười lơ đãng, còn Lukasốp nằm ép mình xuống cát. Anh nghĩ: tại sao Đađaép không sợ chết?

— Đồng chí thiếu tá, đồng chí có gia đình không?

— Vừa có vừa không, — Đađaép đứng lên. — Thôi được, ta nói chuyện tạm đủ rồi. Tôi còn phải đến sở chỉ huy.

— Nên đợi đến sáng thì hơn, đường đi xuyên qua rừng,.. Bọn chúng vẫn chưa bị quét hết. Hôm qua một chiếc xe tải đã bị phục kích...

Đađaép nhún vai.

— Tôi sẽ đến nơi an toàn.

Anh ta đến gặp đại úy, đại úy đề nghị:

— Nếu xe còn chỗ, đồng chí cho Lukasốp đi nhờ, đại tá cho gọi đồng chí ấy.

Ngoài đồng cũng tối, nhưng khi vào đến rừng, họ có cảm giác rằng xe đi vào bóng đêm. Đèn pha làm lộ ra trong bóng tối khi thì những đụn cát, khi thì những cây to như người khổng lồ. Thế giới có vẻ kỳ quái chưa từng thấy.

Lukasốp ngồi cạnh Đađaép. Anh muốn nói chuyện, nhưng sợ làm nhà văn phát chán. Đại tá gọi anh lên làm gì: Người ta sẽ lại hỏi han... Tay siết chặt khẩu tiểu liên, Lukasốp nhìn chằm chằm vào bóng đêm: rừng vẫn sống động.

Ngộ nhỡ chúng giết chết Đađaép thì sao?... Hai năm qua, anh đã quen giáp mặt với cái chết, nhưng ý nghĩ rằng một nhà văn nổi tiếng có thể bị chúng giết chết khiến anh lo lắng. Anh nhớ, hồi mùa xuân, trung tá Alôkhin bị hạ sát, và mọi người đều nói rằng như thế là đã thiệt mất một kỹ sư xuất sắc. Lukasốp đã đem giấy tờ của đồng chí ấy đến ban tham mưu trong đó có một tấm ảnh: một cô bé nhỏ nhắn với bím tóc xinh xinh...

Lukasốp co ro: đêm lạnh và ẩm.

— Đồng chí thiếu tá, đồng chí đang nghỉ ngơi đấy ư?

Đađaép không trả lời. Anh cảm thấy rã rời như đã được nghe một lời thú nhận bàng hoàng. Nhưng Lukasốp đã kể với anh những gì?... Đađaép nhếch mép cười: sẽ phải viết về những con ong. Rồi anh thiu thiu ngủ...

Tiếng súng làm anh bừng tỉnh.

Lukasốp lấy thân mình che cho Đađaép. Xe không dừng lại. Khi vơ lấy khẩu tiểu liên, Đađaép cảm thấy có máu. Đađaép bắn một tràng. Trong bóng tối vẫn có đạn bắn ra. Rồi bắt đầu yên ắng. Đađaép sờ nắn khắp người Lukasốp. Anh gào to: "Dừng lại!". Nhưng người lái vẫn cho xe phóng thật lực. Đađaép mở phanh áo varơi của Lukasốp: tim đã ngừng đập. Đường toàn ổ gà. Lukasốp cứ nảy lên chồm chồm và đổ xuống người ngồi cạnh. Lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, Đađaép cảm thấy lo sợ.

... Đađaép đã kể chuyện với tôi về Lukasốp. Tối hôm ấy, anh buồn lạ thường, anh nói:

— Tôi đã thử miêu tả chuyện đó, nhưng kết quả chẳng ra sao. Đoạn kết về những con ong gượng ép như trong truyện ngụ ngôn. Rõ ràng đấy không phải là đề tài của tôi... Nhưng kỳ lạ thật, Lukasốp là người đầu tiên chết trên tay tôi.

Đađaép uống rượu, đấy là thứ rượu vang phương Nam đặc sánh, thứ rượu thường làm cho người ta vui vẻ hào hứng, nhưng nó lại khiến cho Đađaép ủ rũ hơn.

— Chắc anh cảm thấy buồn cười. Tôi đã nổi danh quá sớm. Danh tiếng là người đàn bà bằng đá hoa cương... Lúc này tôi thấy người tôi lạnh ngắt như Lukasốp lúc ấy...

Đang buổi trưa hè nóng nực, cái nóng làm không khí lung linh. Tôi nghĩ về Lukasốp. Tôi tưởng chừng như anh còn sống, và tôi muốn nói điều gì đó với Masa. Tôi không biết anh vẫn tiếp tục sống trong cái gì, trong trái tim chị hay trong tiếng nổ sấm sét của trận tấn công hay có lẽ trong tiếng vo ve của những con ong sà xuống những cánh đồng đang trổ hoa, nhưng tôi biết, anh không chết và không thể chết.

Phạm Mạnh Hùng dịch

Nguồn: Ba giờ đồng hồ giữa hai chuyến bay (tập truyện ngắn nước ngoài), NXB Mũi Cà Mau, 1986