Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Từ Tỏa Vinh (1947)

Văn học Trung Quốc

Từ Tỏa Vinh (1947)

Nhà văn Trung Quốc

Chủ Nhật 3, Tháng Mười Một 2013

Tiểu sử

Từ Tỏa Vinh 徐锁荣 (1948) là nhà văn Trung Quốc, còn có bút danh là Tuyết Đảo 雪岛, quê ở Kim Đàn, Giang Tô, đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Năm 1990, tốt nghiệp khoa Trung văn, đại học Vũ Hán. Nhập ngũ năm 1970. Ông đã từng làm chiến sĩ trắc hải hạm đội Bắc Hải, cán bộ, phó cục trưởng Cục Tuyên truyền của binh chủng Không quân thuộc hạm đội Đông Hải và hạm đội Bắc Hải, chủ nhiệm ban sáng tác của Bộ Chính trị thuộc binh chủng Không quân và Hải quân. Năm 1993, ông gia nhập Hội nhà văn Trung Quốc. Tác phẩm: Chiếc tàu thủy không buồm (无帆的海船, tiểu thuyết), "Mười tám tuổi, lang thang" (十八岁流浪, truyện vừa) v.v...

Tác phẩm

Quốc bảo

Ngô Thừa Mặc bước xuống bậc thềm ga, Mai Thành liền khoản đãi ông một làn mưa nhỏ ẩm ướt nhưng ấm áp. Mưa là mưa xuân, trong mưa còn thấy hơi hướng của hoa mai. Ngô Thừa Mặc vừa bước ra khỏi xe lửa là đã cảm nhận được, đồng thời cũng cảm nhận được như thế là bà Ngô, vợ ông. Đương nhiên, điều làm ông cảm thấy ấm áp và ẩm ướt còn là hai bàn tay của ông chủ Vương. Gặp mặt, bắt tay là nghi lễ thông thường, nhưng khi ông chủ Vương bắt tay ông, lòng bàn tay ông ta nóng và ẩm ướt, bắt tay xong còn lắc mấy cái. Ngay lúc ấy, cô gái ở phía sau ông Vương cầm một bó hoa tươi trao cho Ngô Thừa Mặc.

Vợ chồng ông Ngô được ông Vương và cô gái dìu, bước ra khỏi nhà ga, lên chiếc xe Benz sang trọng đỗ ở cửa ga. Vừa ngồi xuống, ông Vương đã mở máy, chiếc xe Benz sang trọng lướt đi như máy bay hạ cánh xuống đường băng, qua các đường phố phồn hoa rồi dừng lại trước thảm cỏ của một khách sạn năm sao.

Nghỉ ngơi, tắm rửa, uống trà sáng, tất cả được sắp xếp như dây chuyền, khiến Ngô Thừa Mặc cảm thấy vừa nhanh vừa thoải mái. Uống trà xong, ông chủ Vương tiếp chuyện vợ chồng ông Ngô tại sa-lông trong phòng, cùng tiếp chuyện còn có cô gái tặng hoa.

Trước hết ông Vương giới thiệu tình hình phồn hoa và thịnh vượng ở Mai Thành trong mấy năm qua, sau đó chuyển ngay đề tài, nói, chính quyền thành phố mới đây vừa đổi êkíp, lãnh đạo mới vừa nhậm chức đã nêu phải nâng phẩm vị văn hóa, xây dựng Mai Thành trở nên thành phố nổi tiếng. Ngô Thừa Mặc không mấy hứng thú với sự phồn vinh và thịnh vượng về kinh tế, nhưng hai chữ văn hóa vừa được nhắc tới, mắt ông đã vụt sáng, buột miệng hỏi, vật ấy để ở đâu?

— Không cần vội đâu ạ! — Ông chủ Vương nói — Thầy vừa mới xuống tàu, hãy nghỉ ngơi đi đã. Hai hôm tới, thầy và cô đi quanh thành phố cho lòng được thảnh thơi. Em biết thầy ở kinh thành phải giám định rất nhiều thứ nên mắt rất mệt, vì thế về đây thầy hãy tĩnh dưỡng tinh thần, vả chăng bây giờ đang là mùa ngắm hoa mai ở Mai Thành.

— Phải đấy, tĩnh dưỡng tinh thần rồi giám định mới không nhìn lầm! — Bà Ngô nói.

Ăn cơm trưa xong và nghỉ ngơi đã xong, ông chủ Vương lái chiếc Benz đưa Ngô Thừa Mặc đến vườn mai. Mai Thành vốn là nơi Ngô Thừa Mặc sinh ra, thuở nhỏ ông đã sống ở đây. Hoa mai ở thành phố nhỏ miền Giang Nam chẳng những đem lại cho ông rất nhiều linh cảm mà còn luyện cho ông một con mắt tinh tường. Khi giám định các tranh về hoa điểu, nhất là tranh về hoa mai, chỉ cần nhìn hình thái cánh hoa là ông có thể biết ngay tranh của triều đại nào và do đại sư nào vẽ ra. Chiều hôm ấy, ông đến vườn mai, thấy hoa mai nở đầy vườn thì vui mừng đến mức hoa chân múa tay như trẻ con. Ngay lúc ấy đã ngâm nên một bài thơ vịnh mai:

Chẳng bị phồn hoa lay động
Dưới nguyệt một mình nở hoa
Một cành báo tin xuân đến
Khẽ khàng cất tiếng ngâm nga

Vừa ngâm xong, ông chủ Vương đã vỗ tay tán thưởng, vỗ đến nỗi thi hứng của ông Ngô trào dâng, dâng đến mức không thể dẹp ngay đi được, thế là liên tiếp ngâm mấy bài. Kiến thức cổ văn của ông Ngô thâm hậu, làm được cả thơ, từ và phú, mà đã làm đều là tác phẩm thượng thừa. Trong nhiều trường hợp, ông đã nói công khai: trong giới chơi chữ, vẽ tranh hiện nay, có nhiều "nhà" toàn sao chép thơ của người xưa rồi đề tên mình ở phía dưới, nếu các vị tổ tông ấy ở dưới chín suối mà biết được thì phải mắng bọn ấy là đồ mặt dày! Tự mình không biết làm thơ, còn dám xưng là "nhà" sao được? Nhiều nhất cũng chỉ là thợ chữ, thợ tranh mà thôi.

Ngay tối hôm ấy, ông chủ Vương mời vợ chồng Ngô Thừa Mặc tới tửu lầu nếm đặc sản của địa phương là món cua gạch, sau đó lại đến trà lâu uống trà, hầu hạ hai ông bà già đến mức xuân phong đắc ý, mọi mệt mỏi trong chuyến đi tất nhiên đều khói tản mây tan.

Sáng ngày thứ hai, sau khi trở dậy, Ngô Thừa Mặc cùng vợ xuống vườn hoa trong khách sạn đi một bài Thái cực quyền. Trở về phòng đánh răng rửa mặt xong, ông mỉm cười hỏi bà:

— Đồ nghề của tôi đâu rồi

— Ông làm gì mà vội thế? — Bà gạt đi. Từ khi về Mai Thành, bà như trẻ ra rất nhiều, trở nên có chút nũng nịu.

— Người ta mời tôi về thì tôi cũng phải đối xử tương xứng với người ta chứ.

Đồ nghề mà Ngô Thừa Mặc nói thực ra chỉ là chiếc kính lúp nhập ngoại. Giám định đồ cổ, nhất là giám định tranh, chữ ắt phải dùng đến nó. Tranh, chữ của người xưa từ dùng mực đến tô màu đều cực kỳ tinh tế, có người dùng bút để vẽ mà mảnh được như sợi tóc. Hơn nữa, trong những năm gần đây, một số cao thủ làm đồ giả biết cách dùng mọi thủ đoạn tinh vi, vì vậy càng cần nhờ đến kính lúp. Thường ngày, khi Ngô Thừa Mặc đi giám định ở đâu đó, kính lúp đều do bà vợ bảo quản. Đương nhiên, bà còn bảo quản cả bút mực và con dấu. Tuy Ngô Thừa Mặc có đôi tuệ nhãn thật đấy, nhưng trong sinh hoạt thường ngày lại quên cái nọ, mất cái kia, vì thế mỗi khi đi đâu đều phải do bà thu xếp, bảo quản.

— Ông có phải đi làm thuê đâu, vội cái gì? — Bà Ngô nói — Trong trường hợp này phải làm cao một chút mới được.

Hai người đang nói thì ông chủ Vương đến, lại theo đúng lệ đưa họ vào phòng ăn dùng trà. Trên bàn ăn, Ngô Thừa Mặc lại hỏi đồ cần giám định để ở đâu nhưng ông Vương vẫn nói:

— Không vội, không vội. Từ lâu em đã nghe nói thầy là người Mai Thành, vậy trước hết em xin đưa thầy và cô đi chơi vài ngày ở Mai Thành cho thoải mái đã. Thầy là người nổi tiếng, ở kinh thành suốt ngày bận đến mức xoay như chong chóng, khó có dịp nào để được thoải mái đôi chút, xin thầy cứ yên tâm mà nghỉ ngơi.

Uống trà xong, ông chủ Vương lại dùng xe Benz đưa hai ông bà già đi khỏi khách sạn, tới chùa Vạn Phật dâng hương, sau đó tới công viên Nghi Chu Đình thuê một du thuyền ngắm cảnh men theo con sông đào ngày xưa, cuối cùng ra tới Trường Giang. Trên thuyền, ông Vương còn mời hai diễn viên của đoàn Bình đàn thành phố để đàn những khúc nhạc cổ như Xuân giang hoa nguyệt dạ, Giang Nam xuân v.v..., khiến hai ông bà nghe như si mê. Trưa hôm ấy, thuyền đi chơi ghé vào một quán ăn trên thuyền đậu ở đảo giữa sông, xơi món cá đôn sông thật tươi. Đương nhiên, khi thưởng thức món cá tươi và uống rượu thật ngon, vẫn được nghe đàn tỳ bà và nghe hát chay. Lần này, Ngô Thừa Mặc quả thật hơi say, đấy là "rượu chẳng say người, người tự say", là bị tình quê làm cho say. Tối hôm ấy, khi lê tấm thân sặc mùi rượu về khách sạn, ông đã tự nhủ: xem ra già rồi, nên trở lại Giang Nam định cư, sông núi Giang Nam di dưỡng con người. Vừa nói xong thì ông Vương đang dìu một bên nói ngay:

— Đại sư, câu của thầy là lẽ thường xưa nay, lá rụng về cội mà!

Hai ngày qua, thắng cảnh ở vùng Giang Thành đã đến chơi hầu hết, đến lúc Ngô Thừa Mặc dùng đến tuệ nhãn rồi. Thực ra, trong khi du ngoạn hai ngày qua, ông thỉnh thoảng lại hỏi ông Vương về chuyện giám định vật ấy. Ông là chuyên gia giám định, có tình cảm đặc biệt với cổ vật. Nếu ngày nào không bàn về chuyện ấy, ông cảm thấy có gì đó thiêu thiếu trong cuộc sống. Tất nhiên, ông chủ Vương được hỏi đều trả lời, song chưa hề chủ động mở miệng về vấn đề này. Ông chủ Vương là người sưu tầm rất có tu dưỡng và mực thước, Ngô Thừa Mặc cũng biết sơ qua về vật ấy. Đó là một bức tranh sơn thủy của Bát Đại Sơn Nhân lưu lạc sang Nhật Bản. Bát Đại Sơn Nhân là hậu duệ hoàng thất vương triều nhà Minh. Sau khi triều nhà Minh bị diệt vong, để trốn tránh sự truy đuổi của quân Thanh, Bát Đại Sơn Nhân ẩn cư nơi rừng núi, chuyên tâm vẽ tranh sơn thủy hoa điểu, khai sáng nên phong cách vẽ một thế hệ của Trung Quốc, trở thành đại sư hội họa cấp thế giới. Bởi vậy, khi ông chủ Vương nói đến tác giả của vật ấy, Ngô Thừa Mặc đã phát ra tiếng thở dài theo bản năng: chao, nhiều năm nay, những đồ quốc bảo mà ông đã giám định thật không ít, song được giám định một cổ vật có phẩm vị và giá trị như thế mới là lần đầu.

Thấy Ngô Thừa Mặc thở dài, ông chủ Vương cười:

— Đại sư, chúng ta hãy nghỉ ngơi, vui chơi trước đã!

— Đúng, ông cứ thả lỏng mình hết sức đi, có thả lỏng thì mới không nhầm lẫn được — Bà Ngô nói.

— Cũng không hẳn là như thế! — Ngô Thừa Mặc nói — Bây giờ giám định chữ và tranh ngày càng khó.

— Em nghe người sưu tầm ở Bắc Kinh nói, đại sư có biệt hiệu là Mặc Tiên. Chỉ cần nhắm mắt bước qua bước lại trước bức chữ hay bức tranh, rồi ngửi ngửi mấy cái là đại sư biết ngay đó là thứ thiệt hay thứ nhái! Ông Vương nói — Làm sao có thể nhìn lầm được?

— Đó là người ta bịa chuyện đấy thôi! — Ngô Thừa Mặc nói.

— Dù sao thì hàng thật hay hàng giả đều không qua nổi mắt đại sư! — Ông chủ Vương nói.

Sáng sớm ngày thứ ba, Ngô Thừa Mặc lại theo lệ cùng vợ xuống gác tập Thái cực quyền. Ông đánh quyền là để dưỡng khí. Đừng tưởng giám định là chuyện nhẹ như không, theo con mắt người ngoài, đó chẳng qua là dùng mắt nhìn một cái, hoặc dùng tay sờ một cái mà thôi. Thực ra, đấy là công việc rất hao tổn tinh thần. Có lần giám định xong một cổ vật, phải mất mấy ngày nguyên khí trong người ông mới khôi phục lại được. Giám định tức là dùng nguyên khí tích lũy và nuôi dưỡng cả một đời để rồi phóng nó ra qua mắt, trong tích tắc rọi xuống vật thể cần giám định. Nếu nguyên khí trong người không đầy đủ, ánh mắt không tập trung được, do đó có thể nhìn lầm. Bởi vậy, tuy là đại sư giám định, trải qua sa trường đã nhiều năm thì vẫn có lúc nhìn lầm. Lý lẽ đó không khác gì danh y mà đoán nhầm căn bệnh vậy.

Ngô Thừa Mặc vừa thu lại quyền thì ông chủ Vương lái chiếc Benz sang trọng tới cửa khách sạn, bước vào chào hỏi hai vợ chồng ông rồi đưa hai người tới phòng ăn.
Trà sáng xong, Ngô Thừa Mặc trở lên phòng, dặn vợ mang theo đồ nghề, sau đó lên xe. Nhưng khi xe rời khỏi khách sạn, ông chủ Vương không lái đến công ty bán đấu giá của ông ta mà phóng thẳng ra ngoại ô thành phố, tới tiểu khu nằm bên cạnh Hạc Hồ. Dừng xe xong, ông chủ Vương mới quay lại cười:

— Em đưa thầy và cô đến xem một vật này trước đã.

— Lại còn vật gì để xem nữa thế? — Ngô Thừa Mặc hỏi.

— Xin thầy cô cứ xuống xe vào xem thì khắc rõ! — Ông Vương mở cửa xe, dìu hai ông bà xuống.

Đây là một khu vừa xây dựng xong, từng căn biệt thự ẩn hiện trong sắc núi và sắc hồ. Đường qua tiểu khu đi giữa hai hàng mai đầy nụ hoa sắp nở. Ông chủ Vương dẫn hai ông bà đi một vòng quanh các khu nhà rồi đi tới một biệt thự nhỏ đứng riêng bên hồ. Thò tay vào túi lấy chìa khóa, ông chủ Vương dõng dạc mời:

— Xin mời thầy và cô!

Ngôi biệt thự ba tầng đứng riêng ra này được kiến trúc theo lối xưa ở Giang Nam, ngồi hướng Bắc, ngoảnh mặt hướng Nam, ngay trước nhà là Hạc Hồ. Ông Vương đưa hai ông bà lên xuống một hồi. Khi lên tới lầu ba và ra ngoài hiên, ông Vương chỉ tay ra mặt hồ nói:

— Thưa thầy, thầy ngâm một bài thơ ngay tại đây đi!

Lúc đấy, trên mặt hồ sóng gợn lăn tăn, một đàn hạc trắng đang bay lên bay xuống rồi lượn vòng. Trước cảnh ấy, tình ấy, thi hứng của Ngô Thừa Mặc trào ra, thế là ứng khẩu thành bài thơ:

Mai nở bên hồ, hạc giữa hồ
Xanh là mô mà trắng là mô?
Khách trên lầu là Hằng Nga đó
Có phải người hay tiên giữa mơ?

Vừa ngâm xong, ông Vương vỗ tay khen ngợi:

— Hay quá, thơ hay quá! Thầy quả là đại sư quốc học nữa!

— Đại sư quốc học thì tôi đâu dám nhận. Chẳng qua là ngẫu nhiên có hứng, theo ý làm một bài mà thôi! — Ngô Thừa Mặc nói.

— Đâu có phải tùy tiện mà nên thơ? Đó thật là xuất khẩu thành chương đấy ạ! — Ông Vương chớp thời cơ nói luôn.

— Đều do phong cảnh ở đây quá đẹp! — Bà Ngô nói.

— Cô có thích nơi này không ạ? — Ông Vương hỏi.

— Đâu chỉ là thích, tôi thật không muốn dời chân! — Bà Ngô nói.

— Không muốn dời chân thì mời cô ở lại đây!

— Tôi chỉ nói đùa thôi mà! — Bà Ngô nói.

— Còn em thì không nói đùa. Ngôi biệt thự này em đã mua xong rồi. Nếu cô và thầy ưng ý, em xin tặng thầy cô! — Ông Vương nói.

Ông Vương vừa dứt lời, Ngô Thừa Mặc đã nói:

— Ngôi biệt thự sang trọng đến thế, dù ông có tặng, tôi cũng chẳng dám nhận.

— Có đáng gì đâu! — Thầy là đại sư giám định, có thể nói là của báu của đất nước. Hiện nay các cấp chính quyền đều rất quan tâm đến trí thức. Em tặng thầy ngôi nhà nhỏ này chỉ là thực hiện chính sách của Đảng đối với trí thức — Ông Vương nói — Mấy năm nay, không ít chính quyền địa phương đã tặng giải thưởng lớn cho những trí thức có cống hiến đặc biệt, nơi thì tặng xe hơi sang trọng, nơi thì tặng tiền. Em là chủ tư nhân, tặng đại sư một ngôi nhà có gì quá đâu? Không chừng hành động của em được chính quyền thành phố biết đến thì em còn được đưa lên truyền hình để khen ngợi nữa đấy!

— Ông đừng bảo lời ông Vương là vô lý nhé! Thừa Mặc, mấy năm nay cống hiến của ông cho đất nước thật không nhỏ. Ông đã đưa từ nước ngoài về bao nhiêu là quốc bảo, nhưng có ai thưởng cái gì cho ông đâu? Bây giờ những nhà thư họa hơi nổi tiếng một tí thì chỉ cần cầm bút vạch mấy cái là một thước đã mấy vạn tệ. Còn ông thì sao? Giám định một đồ cổ cỡ quốc gia cũng chẳng qua đem về được một số lẻ của người ta! — Bà Ngô nói, trên mặt lộ vẻ vô hạn cảm khái.

— Thôi, thôi, không nói chuyện ấy nữa! Ông Vương, chẳng phải ông nói là muốn nhờ tôi xem một vật hay sao? — Ngô Thừa Mặc ngoảnh sang, hỏi.

— Đại sư, thầy đã xem rồi! — Ông chủ Vương cười.

— Xem rồi à? — Ngô Thừa Mặc trong một lúc chưa phản ứng kịp.

— Vật em muốn thầy xem là ngôi biệt thự nhỏ ấy đấy!

— Ồ! Ông thật biết nói đùa! — Ngô Thừa Mặc nói.

Chiều hôm đó, ông chủ Vương đưa hai ông bà đến phòng khách Công ty bán đấu giá của mình, lấy từ két sắt lớn ra một hộp tranh bọc bằng đoạn vàng, mở ra rồi lấy từ trong đó một cuộn tranh trang hoàng rất tinh tế, đặt lên chiếc bàn dài bằng gỗ hồng đào. Cuộn tranh được từ từ mở ra. Lúc này Ngô Thừa Mặc chẳng khác gì bác sĩ phẫu thuật chính đứng bên bàn mổ. Trước hết ông mặc áo choàng trắng, sau đó xỏ tay vào đôi găng tay trắng. Áo choàng và găng tay đã được khử trùng cẩn thận là do bà Ngô mang theo từ Bắc Kinh. Trong bộ áo choàng và găng tay, Ngô Thừa Mặc thong thả đi quanh bàn một vòng. Đó là thói quen của ông. Mỗi lần giám định một đồ cổ quan trọng, ông đều thong thả đi quanh như thế. Người ngoài nhìn vào, thấy như ông đang nhàn nhã tản bộ, nhưng thực ra ông đang vận khí. Đi quanh một vòng, đã vận đủ khí, sau đó ánh mắt mới chiếu vào vật cần giám định, làm như thế thì không bao giờ nhìn lầm.
Trong khi Ngô Thừa Mặc đi quanh bàn, ông chủ Vương cung kính đứng bên cạnh chỉ mỉm cười.

Đi quanh một vòng xong, ông Ngô bước tới gần bàn. Trước đây, chỉ cần ông chiếu ánh mắt vào vật cần giám định thì hai con ngươi ông bừng sáng. Nhưng lần này, hai mắt cứ dấp dính. Ông cố nâng mi mắt lên nhưng bức tranh chỉ nhìn thấy lờ mờ, hoặc lúc rõ lúc mờ như ẩn như hiện. Đây là bức tranh sơn thủy dài do Bát Đại Sơn Nhân vẽ. Trên tranh có núi, có sông, có cả mai. Núi là dãy núi ở Giang Nam, mai là mai mùa xuân ở Giang Nam, nhưng ngôi nhà dựa núi, ngoảnh ra sông và ở bên cây mai thì lại không phải nhà tranh như Bát Đại Sơn Nhân thường thích vẽ mà là một tòa biệt thự nhỏ. Có thể mấy ngày nay ông uống quá nhiều rượu để lâu năm, hoặc tham quan quá nhiều nơi nên thị giác mệt mỏi chăng? Ngô Thừa Mặc nghĩ đến đó liền nhắm mắt lại.
Ông chủ Vương bước đến, đỡ luôn lấy ông, nói:

— Đại sư, có cần đến sô-pha ngồi nghỉ một lát không?

— Không cần! — Ngô Thừa Mặc nói xong lại mở mắt ra. Lúc này, hiện ra trên bức tranh không còn là tòa biệt thự nhỏ nữa mà là nhà tranh rồi. Nhà tranh do Bát Đại Sơn Nhân vẽ chỉ sơ sài mấy nét bút, trên nền mực nhạt nổi lên một tầng đá đỏ, vô cùng truyền thần, dường như người ở trong ngôi nhà ấy không hề ăn món của trần gian. Ngô Thừa Mặc thích nhất là tranh của Bát Đại Sơn Nhân. Chỉ cần nhìn thấy tác phẩm của ngài là cả người ông như có dòng điện chạy qua. Nhưng lần này, cảm giác đó không còn nữa. Ảo giác lúc nãy lại quấy rối mình chăng? Ông thầm nghĩ như vậy rồi cầm kính lúp lên soi thật kỹ.

Bút dùng, mực dùng, kể cả lạc khoản đều không có sơ hở nào. Ông soi kính lúp vào con dấu đóng dưới lạc khoản.

Đây là cửa ải cuối cùng trong giám định thư, họa. Xác định một bức thư, họa thật hay giả, có lúc đến cửa ải này là xong.

Ngô Thừa Mặc ghé mắt đến gần mặt kính lúp, nhìn thấy đó là con dấu Bát Đại Sơn Nhân thường dùng hồi đầu, chỉ có điều mực dấu hơi nhạt, mà màu sắc đã nhạt thì hơi có vẻ thiếu chiều sâu.

Mắt ông dừng lại trên con dấu ấy đến mấy phút, sau đó gật nhẹ đầu mấy cái.
Ngô Thừa Mặc vừa gật đầu thì ông Vương đứng sau lưng ngoảnh ngay lại bảo cô nhân viên Công ty cung kính đứng đợi bên cạnh:

— Đưa bút mực đến đây!

Cô gái vội vàng nâng bằng cả hai tay nghiên mực đặt trên bàn trà đưa đến cho Ngô Thừa Mặc. Mực trong nghiên đã được mài sẵn, đó là loại mực Huy Châu, còn gác trên đài nghiên là bút bằng lông dê dài và nhọn hoắt. Cả hai đều là thứ bà Ngô mang theo về.

Cô gái đã đứng trước mặt nhưng Ngô Thừa Mặc không có bất kỳ phản ứng nào, chỉ vắt hai tay ra sau lưng, mắt nhìn dán vào bức tranh mà ngẩn người.

— Thừa Mặc, ông đứng ngẩn ra làm gì thế? — Bà Ngô giục — Người ta đã chuẩn bị xong bứt mực rồi!

Ông vẫn ngẩn người đứng ở đó.

Tối hôm ấy trở về khách sạn, bà Ngô liền to tiếng với chồng. Bà nói:

— Hôm nay ông uống nhầm thuốc đấy à? Ông đã gật đầu rồi sao còn chưa hạ bút?

— Tôi vẫn còn chút nghi ngờ! — Ông Ngô nói.

— Đã nghi ngờ sao ông còn gật đầu?

— Tôi đã gật đầu sao? — Ngô Thừa Mặc hỏi.

— Tôi nhìn thấy rõ ràng mà! — Bà Ngô nói. Ông hãy nói xem, chỗ nào còn chưa chắc chắn?

— Dấu đóng thì xem ra không có vấn đề gì, nhưng mực dấu thì tôi hơi ngờ ngợ — Ông Ngô nói — Theo lý mà nói, tác phẩm này Bát Đại Sơn Nhân vẽ thời kỳ đầu, mà hồi ngài mới trốn ra khỏi hoàng cung, trong tay hẳn vẫn còn mực dấu trong cung, mà mực dấu ấy thì nghìn năm sau cũng không phai được màu. Nhưng con dấu đóng trên tranh lại rất mờ nhạt.

— Như thế là ông bới bèo ra bọ đấy! — Bà Ngô nói — Ông có dám chắc khi vẽ bức tranh này, Bát Đại Sơn Nhân đã quên không mang mực dấu theo nên phải mượn mực dấu của người khác không?

— Việc này thì họa sĩ khác có thể làm nhưng Bát Đại Sơn Nhân thì không. Ngài là họa sĩ coi tác phẩm như mạng sống của mình. Xem ra, ngày mai phải giám định một lần nữa.

Sáng hôm sau, ông chủ Vương lại đón ông Ngô tới Công ty. Ông Ngô lại mặc áo choàng trắng và đi găng tay trắng như bác sĩ ngoại khoa phụ trách kíp mổ. Lần này ông không đưa bà cùng đi, ông sợ bà lại nhiều lời. Đêm hôm qua, hai ông bà tranh cãi mãi về chuyện này, tranh cãi đến mức bà đã nổi nóng, vì thế khi đi, ông không để bà lên xe của ông Vương. Từ lâu ông đã nghe nói, trên quan trường Trung Quốc, có lúc phu nhân làm lay chuyển ý đồ của các cấp lãnh đạo. Ông ngại bà quấy rối, mặc dù ông không làm quan, nhưng trong trường hợp như thế này, chỉ một mình ông được quyết định. Ông sợ có thể sẽ xảy ra chuyện như trên quan trường. Vợ chồng sống với nhau đã mấy chục năm, rất nhiều vấn đề sinh hoạt ông đều nhường bà, nhưng việc này thì ông không thể thỏa hiệp, dù chỉ một chút.

Ông lại đứng trước bức tranh. Ông không đem theo kính lúp mà chỉ ghé mũi sát bức tranh rồi hít thở sâu hết lần này đến lần khác.

Ông chủ Vương cùng mấy nhân viên công ty, kể cả cô gái hôm qua đều im lặng nín thở đứng đằng sau ông.

Ngô Thừa Mặc ngửi quanh bức tranh một hồi, sau đó mới đứng thẳng lưng, mắt ngước lên trần nhà, đầu lại gật một cái theo bản năng.

Cô gái hầu bút mực lại bưng nghiên đến trước mặt ông rồi đưa cây bút lông dê có ngọn dài và nhọn đến tay ông. Ông nhận lấy bút nhưng chỉ dùng để liếm một cái chứ chưa lăn mực. Ông cứ cắn bút như thế bên mép.

Tối hôm ấy trở về khách sạn, mặt vợ ông dài ra. Mặc dù có ông chủ Vương đón tiếp, hai ông bà cùng ăn bữa tối, nhưng ăn xong là bà không đếm xỉa đến ông nữa. Lần này, ông Ngô có hơi băn khoăn. Vợ chồng ở với nhau mấy chục năm trời, mưa gió vẫn chung thuyền, đồng cam cộng khổ, dường như chưa bao giờ xích mích. Chẳng ngờ lần này đi giám định đồ cổ, ông bà lại găng với nhau, thế là ông bèn chủ động bắt chuyện, nhưng bà vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Ông hỏi:

— Mình làm sao thế?

— Làm sao à? Tôi hỏi ông câu ấy mới đúng. Xem đến hai lần rồi, làm sao ông còn chưa hạ bút ký tên? Ông chẳng nói là dấu in tranh không có vấn đề là gì?

— Hôm nay tôi không ngửi thấy hơi hướng trên mặt bức tranh — Ông nói — Tranh hay chữ của Bát Đại Sơn Nhân thời kỳ đầu, mực vẽ bao giờ cũng thoảng mùi băng phiến và xạ hương, nhưng trên bức tranh lần này lại không hề có, không một chút nào cả.

— Ông cũng chẳng nghĩ năm nay mình bao nhiêu tuổi rồi không? Khứu giác còn nhạy bén như xưa chăng? — Bà Ngô nói — Hơn nữa cho dù khứu giác không thoái hóa nhưng hai hôm nay ông hơi bị cảm, mũi lại tắc, như thế còn không ảnh hưởng đến việc giám định hay sao?

Bà nói như thế khiến ông cũng phải gật gù:

— Cũng phải đấy, hai hôm nay tôi hơi bị cảm gió thật.

— Vậy xin thầy cô cứ ở lại vài ngày nữa, đợi đại sư khỏi đã rồi lại đến xem! — Ông chủ Vương từ nãy vẫn ngồi trên sô-pha nói.

Nói xong, ông kéo cả hai ông bà đi ra, nói là muốn mời ông đi xông hơi để ra được mồ hôi. Ngô Thừa Mặc lúc đầu không muốn đi, chủ yếu vì ngại tốn kém cho ông Vương, bởi dù sao bức tranh đó cũng giám định chưa xong. Vạn nhất phát hiện ra đó là đồ giả thì rất khó xử. Nhưng ông Vương nhất định không nghe, nói:

— Mời được đại sư là phúc lớn cho em rồi. Nếu bức tranh đó là đồ giả thì cũng coi như là em nộp một lần học phí thôi mà. Chính quyền thành phố chúng em, trước đây mấy năm còn phải lần từng hòn đá để sang sông, huống hồ là em!

Ông Vương đã nói đến mức đó thì ông Ngô đành vâng lệnh vậy.

Ba lần mátxa xông hơi, Ngô Thừa Mặc cảm thấy nhẹ người, không còn ngạt mũi nữa. Ba ngày liền, ông Vương ngoài việc đưa ông Ngô đi mátxa xông hơi ra (bà Ngô do cô nhân viên Công ty đưa đi xông hơi), còn đưa ông Ngô đi uống trà và xem tiếp những thắng cảnh ở Mai Thành, ăn món đặc sản nổi tiếng. Tất nhiên có mời một cụ lang ở Mai Thành kê cho mấy thang thuốc.

Sau ba ngày, Ngô Thừa Mặc cảm thấy không yên tâm chơi bời được nữa, thầm nghĩ phải mau chóng kết luận thôi. Sáng hôm ấy, ông dậy thật sớm, cùng bà Ngô đi mấy bài quyền xong lại dưỡng đủ khí, rồi bữa sáng cũng không dám ăn nhiều là ngồi lên chiếc Benz do ông chủ Vương lái đến công ty.

Ông Ngô theo lệ lại mặc áo choàng và đeo đôi găng tay trắng. Trước hết ông cầm kính lúp lên, xem kỹ khắp lượt, từ nét bút, màu mực cho tới lạc khoản và con dấu trên tranh, sau đó tay chắp sau lưng, khom người đi quanh bàn, chẳng khác gì con trâu già kéo cối xay. Trong lúc đi quanh, ông ghé mũi đến mấy lần vào bức tranh. Lúc đầu, nhìn núi thì là núi, sông cũng là sông. Xem một lúc nữa, núi vẫn là núi, sông vẫn là sông chỉ có điều căn nhà tranh giữa sông và núi ấy lại biến thành ngôi biệt thự nhỏ. Có một tiếng nói phát ra từ ngôi biệt thự đó: "Chỉ có ông là thanh cao thôi ư? Chỉ có ông là trong sạch như thánh ư? Chỉ có ông mới không ăn cơm gạo trần gian ư?".

Đấy là tiếng bà Ngô. Bà là người ông làm quen hồi ở trường cải tạo 7.5 rồi trở thành người vợ cùng chung hoạn nạn với ông, mấy chục năm qua đều hòa thuận êm ấm. Nhưng khi về đến Mai Thành, nhất là sau khi xem ngôi biệt thự nhỏ, thì đột nhiên bà trúng phải bệnh nói nhiều như ma ám. Bà oán trời oán đất, bảo ông nhiều năm qua chỉ làm việc không công, sống mà như không sống. Bà nói, hiện nay là xã hội kinh tế thị trường, rất nhiều nhà thư pháp và họa sĩ đều mải miết kiếm tiền, có người mua đến mấy cái biệt thự. Còn ông thì sao? Ông không muốn di dưỡng tuổi trời, chứ tôi thì muốn sống cho ra sống mấy năm nữa. Trong khi ca cẩm, bà Ngô thế nào cũng nhắc đến con cái. Ông bà có một trai một gái, đều đã trưởng thành. Nhưng nơi ở của con ông đều không được rộng rãi, nhất là cậu con trai lại sắp có con mà vẫn chỉ ở căn hộ hai phòng. Mượn người giúp việc đành phải để người ta ở phòng khách. Con trai mỗi khi về nhà đều nhắc đến chuyện phải mua nhà, nhưng giá nhà ở Bắc Kinh là giá trên trời. Con gái và con rể còn ở nhà cấp bốn xây bằng gạch từ hồi những năm 80 của thế kỷ trước, nhà như thế chẳng chịu nổi động đất cấp ba.

Đúng là mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Cảnh ở nhà Ngô Thừa Mặc quy kết lại chỉ có một chữ, đó là tiền! Hiện nay, các nhà thư pháp và họa sĩ đều rất có giá, nhưng là chuyên viên giám định như ông, không có giá cho sự giám định. Không biết là thị trường bỏ quên ông hay là ông chưa bước được vào thị trường?

Ngô Thừa Mặc đi quanh bức tranh hai vòng, nhưng vẫn không ngửi thấy mùi băng phiến và xạ hương. Khứu giác của ông chưa khôi phục hay là bức tranh này có vấn đề về mặt bảo quản? Nghĩ như thế rồi, ông bèn đứng lại, mắt vẫn ngơ ngơ nhìn bức tranh. Bát Đại Sơn Nhân ơi! Lúc này ngài chẳng hiển hiện ra để báo cho tôi biết bức tranh này phải chăng do chính tay ngài vẽ? Nhà nghệ thuật phải chăng coi tiền bạc như cỏ rác? Nhưng mà Bát Đại Sơn Nhân ơi, tranh của ngài sau đó cũng ra thị trường rồi. Ngốc nhất là Từ Vị đời Minh, Tuy là Van Gogh của Trung Quốc đấy, để lại rất nhiều thần phẩm nghệ thuật nhưng một đời khốn đốn khổ sở, cuối cùng đã nghèo lại đau ốm rồi chết đói trong ngôi miếu nát! Ông nghĩ đến đây thì giữa sông núi trong tranh lại hiện ra ngôi biệt thự đó.

Ngô Thừa Mặc quay người lại, giơ tay lên. Cô gái hầu bút mực từ nãy đứng sau lưng ông lại đưa cây bút lông dê dài và nhọn hoắt vào tay ông với tốc độ nhanh đến mức khó tưởng tượng nổi. Lúc ấy, tay ông hơi cưỡng lại, dường như có người nào đó giữ chặt lấy tay ông, khiến ông không điều khiển được nữa. Hình như người ấy từ trong ngôi biệt thự nhỏ bước ra.

Ngô Thừa Mặc cầm lấy bút đi tới bàn để tranh.

Bên cạnh bức tranh sơn thủy ấy có gắn một mảnh giấy Tuyên phỏng theo lối cổ, chuyên dành cho nhà giám định quyền uy đề lời bạt. Khi ông cầm bút lăn vào mực, tay ông dường như hơi run. Lúc ấy, vợ ông đứng ngay bên cạnh liền nói:

— Thừa Mặc, ông cứ viết gì cũng được, như mọi ngày luyện viết ấy!

Nghe câu đó, tay ông không run nữa. Vừa viết xong, vợ ông đưa ngay con dấu đã thấm mực cho ông. Ông nhận lấy nhưng tay dường như lại không nghe lời, lại run, thế là bà Ngô liền cầm chặt tay ông ấn dấu xuống. Buông con dấu ra, ông dường như ngã ngồi xuống sô-pha đặt bên cạnh bàn tranh.

Ngày hôm sau, vợ chồng ông trở về Bắc Kinh. Ông chủ Vương đưa hai người tới toa xe lửa có buồng nằm rồi rút trong túi ra một chùm chìa khóa, đưa tới trước mặt bà Ngô rồi nói:

— Thưa cô, đây là chút lòng thành của em.

— Như thế... như thế sao được? — Không đợi vợ nói, Ngô Thừa Mặc đã nói luôn.

— Đại sư, thầy đã giám định cho em một vật quốc bảo, như thế này đã là gì? — Nói xong, ông Vương ra khỏi toa xe, nhảy một phát xuống sân ga.

Chỉ một lát sau, xe lửa khởi động.

Ba ngày sau, bức tranh do Ngô Thừa Mặc giám định bán được với giá rất cao trong phiên bán đấu giá mùa xuân. Bên mua là chính quyền thành phố Mai Thành. Giao dịch xong, một Phó chủ tịch thành phố phụ trách văn hóa nói:

— Ủy ban bỏ ra một số tiền lớn mua bức tranh cổ này để đưa vào bảo tàng thành phố làm vật báu trấn giữ bảo tàng.

Phẩm vị văn hóa của Mai Thành ngay lập tức được nâng cao.

Về đến Bắc Kinh, Ngô Thừa Mặc phải vào nằm viện. Bác sĩ nói, bệnh của ông thực ra vẫn chưa khỏi, lại thêm chịu áp lực về tâm lý quá lớn, thế là đã tuyết lại còn sương, ông phải chữa trị, điều dưỡng đến hơn một tháng mới được ra viện.

Sáng hôm đó, ông bà ra công viên tản bộ. Lúc về đến nhà, ông lấy tờ báo mới được đưa đến trong hòm thư ra, bỗng nhìn thấy một dòng tin, nói rằng Ủy ban Mai Thành bỏ số tiền lớn ra mua của tư nhân một bức tranh sơn thủy do Bát Đại Sơn Nhân vẽ hóa ra là tranh giả. Cuối dòng tin có lời kết rằng: "Kết luận là tranh giả là của một nghiên cứu sinh tiến sĩ, tốt nghiệp khoa chuyên của trường đại học khảo cổ Bắc Kinh, trái ngược hẳn với ý kiến của chuyên gia giám định người Bắc Kinh. Có lẽ sắp tới có cuộc tranh luận học thuật về việc này".

Ngô Thừa Mặc cầm tờ báo đi vào phòng, ngồi phệt xuống sô-pha ngơ ngẩn. Bà Ngô giật lấy tờ báo, xem xong bản tin đó thì cười:

— Chuyện này rất bình thường, ngay đến bức chữ Lan Đình tự có phải là của Vương Hy Chi hay không cũng còn tranh luận cơ mà! Học thuật thì thế nào cũng có tranh luận. Không chừng đây là thủ đoạn của bên mua, trước hết tìm một người dìm xuống đã, sau đó lại mời một người nâng lên. Thao tác của phương tiện truyền thông là như thế, có vậy bức tranh mới càng cao giá.

Bà Ngô nói đến đây bỗng nghe chồng mình lảm nhảm cái gì đó. Ngẩng lên nhìn, bà bỗng nhận thấy mồm ông méo xệch sang một bên, cứ như bị bàn tay vô hình nào đó bóp méo vậy.

Trong óc bà đột nhiên lóe lên một ý nghĩ: "Phải chăng Bát Đại Sơn Nhân đã hiển linh?".

Phạm Tú Châu dịch

Nguồn: Người lạ tặng hoa (tập truyện ngắn Trung Quốc), NXB Phụ nữ, 2011


Xem online : Tiểu sử nhà văn Từ Tỏa Vinh