Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Vạn Quốc Nho (1931-1990)

Văn học Trung Quốc

Vạn Quốc Nho (1931-1990)

Nhà văn Trung Quốc

Thứ Năm 7, Tháng Mười Một 2013

Tiểu sử

Vạn Quốc Nho (万国儒, 1931-1990) bút danh Phương Cương 方刚, Đông Lưu 东流, quê ở Thiên Tân. Ông là nhà văn, đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hội viên Hội nhà văn Trung Quốc. Tốt nghiệp khoa Trung Văn đại học Nam Khai năm 1961. Đã từng trải nhiều nghề như cựu công nhân nhà máy nhuộm Thiên Tân, biên tập viên báo "Tân cảng", tác giả chuyên nghiệp chi hội Thiên Tân thuộc Hội nhà văn Trung Quốc. Tác phẩm: "Đêm gió tuyết" (风雪之夜, truyện ngắn), "Rồng bay phượng múa" (龙飞凤舞, truyện ngắn), "Cuộc chia ly vui vẻ" (欢乐的离别, truyện ngắn), "Hồn liễu" (柳魂, truyện ngắn, đã giành giải thưởng văn học xuất sắc của thành phố Thiên Tân năm 1984).

Tác phẩm

Cuộc chia ly vui vẻ

Nhà máy phát động phong trào cơ giới hóa, tôi được điều về ban quản trị làm nhân viên thống kê, chuyên việc ghi chép, theo dõi mức độ cơ giới hóa của các buồng máy. Bác thợ già của tôi tên là Phùng Kim Đức làm trưởng kíp kíp làm việc ngoài giờ, hướng dẫn công nhân chế tạo các loại phụ tùng máy móc cải tiến. Hôm đó, bác bảo tôi:

— Này chú Lý, trong khi thống kê, chú nhớ nhắc tôi luôn luôn để ý tới tất cả những việc thủ công của toàn thể nhà máy đấy. Nếu chưa "hóa" xong mọi việc thì không nghỉ. Không được để một động tác thủ công nào sót lại.

Phong trào cơ giới hóa của nhà máy như một ngọn lửa đốt cháy đồng cỏ hoang trong mùa đông, bùng lên nhanh chóng. Trước cửa ban quản trị, tiếng thanh la báo tin thắng lợi vừa ngừng thì một tràng pháo báo hỉ lại ran lên. Tôi làm thống kê cứ bận tíu tít. Bản thành tích của nhà máy vừa ghi xong mức sản xuất được cơ giới hóa là bảy mươi phần trăm thì một giờ sau đã thay đổi, tôi đành phải làm lại. Vì vậy, tôi quên bẵng mất điều bác Đức dặn. Nhưng hôm ấy tôi lại phát hiện một vấn đề mới. Hôm đó, bác thợ già của tôi chỉ lo cơ giới hóa công việc của các công nhân khác còn bản thân mình thì lại không nhớ mà "hóa" cho. Bác vẫn chưa rời bỏ cái búa tạ trong tay, thật đáng buồn cười biết bao. Tôi thấy ngay cả đồng chí bí thư Đảng ủy cũng thế, mấy hôm nay đồng chí phê bình người khác không cắt tóc, không cạo râu, nhưng bản thân đồng chí thì tóc dài có thể tết đuôi sam được. Nhà máy chúng tôi đã tìm ra được những sự việc mới mẻ. Tôi đang nghĩ vậy thì trống và thanh la đã vang lên bên ngoài. Nghe tiếng trống, tôi biết ngay là bác Đức tới báo tin thắng lợi, vì tiếng trống của bác đánh khác hẳn tiếng trống của người khác, nghe gọn và mạnh, làm mọi người rộn ràng xao xuyến. Tôi nghĩ bụng, nhân dịp này mình sẽ nhắc bác điều ấy vậy! Đồng chí bí thư và các đồng chí khác đã chờ sẵn trong sân. Tiếng trống vừa dứt, bác thợ già của chúng tôi đứng ra trước đám người. Năm nay bác ngoại năm mươi tuổi, nhưng thân thể cứng rắn, giọng nói oang oang, vang to hơn cả tiếng kèn đồng. Bác báo tin thắng lợi, nhưng khác với mọi người, bác không đọc theo bản báo cáo làm sẵn mà lại hét thật to:

— Đồng chí bí thư nghe đây này! Thế rồi bác hoa chân múa tay kể hết sự việc. Tin thắng lợi đều là tin vui cả, không chuyện phát minh thì cũng là chuyện nâng cao sản lượng. Nghe bác nói, người ta thường rưng rưng rơi lệ. Như vấn đề sáng tạo ra việc tự động xếp vải vào ống sắt thành công ngày hôm kia chẳng hạn. Bác báo cáo tin mừng, vừa nói được một lúc thì giọng bác đổi hẳn, quầng mắt của mọi người cũng đỏ cả lên, vì bác kể đến chuyện bác Hàn, người công nhân già trước ngày giải phóng.

Công nhân xưởng nhuộm của chúng tôi phải làm việc trong một cái ống sắt lớn. Ống sắt này cao chừng bảy thước, to hơn ba thước, trông như một hộp sữa bột khổng lồ. Công nhân phải chui vào đáy ống để xếp vải. Trong ống sắt oi bức nóng nực, ngay giữa mùa đông cũng phải cởi trần làm việc mà mồ hôi vẫn nhễ nhại. Trước ngày giải phóng, một hôm bác Hàn cùng một người thợ bạn tên là Tam Hổ xếp vải trong ống sắt. Hôm đó là một đêm mùa hạ. Quốc dân đảng may quân phục, bắt công nhân phải làm thêm giờ đêm. Trong ống sắt nóng đến nghẹt thở, ai nấy đã phải nhịn đói làm việc liền mười hai tiếng đồng hồ rồi. Xếp xong một ống vải, bác Hàn bò ra khỏi ống lên sân thở hít, còn Tam Hổ thì ngất đi trong ống sắt. Tên đốc công đến. Hắn chẳng hỏi ai, miệng càu nhàu chửi anh em làm biếng, đóng sầm nắp ống lại, tiếp đó mở ống hơi thả nước sôi chảy vào. Khi bác Hàn vào không tìm thấy Tam Hổ đâu cả, bác mở nắp ống ra nhìn thì chỉ thấy một đống xương trắng lởn vởn trong nước sôi. Nhưng tên tư bản độc ác kia lại đổ tội lên đầu bác Hàn, bỏ tù bác, cho mãi đến sau ngày giải phóng bác mới được trở về nhà máy.

Bác Hàn kể lại câu chuyện thương tâm đó cho bác Đức nghe. Nghe xong câu chuyện, bác Đức thức suốt hai đêm không nghỉ, cùng bác Hàn nghiên cứu ra một cái máy tự động xếp vải vào ống sắt. Nhờ có máy này, công nhân không phải chui vào ống xếp vải nữa mà chỉ thảnh thơi ngồi ngoài vặn nút điện.

Kể xong câu chuyện, bác nói với đồng chí bí thư:

— Nếu Tam Hổ còn sống mà được sử dụng cái máy xếp vải tự động này thì sướng biết bao! Nói rồi bác cứ thế khóc rưng rức!

Giờ đây, bác lại tới báo tin thắng lợi, nhưng lần này không chỉ báo một vài sáng tạo lẻ tẻ nào mà là một bản tổng kết chung. Tiếng trống vừa dứt, bác nói như thường lệ:

— Đồng chí bí thư nghe đây này! Tiếp đó với tư cách một người trưởng kíp làm ngoài giờ, bác tuyên bố: Qua gần một tháng trời phấn đấu, những bộ phận sản xuất thủ công của toàn nhà máy đã căn bản cơ khí hóa xong, chỉ còn lại cái chổi của bộ phận quét dọn và con dao của bác cấp dưỡng vẫn chưa bỏ đi được. Bác xin bảo đảm trong hai hôm sẽ "hóa" xong. Cũng như mọi lần, bí thư động viên bác một lúc, nhưng cuối cùng đồng chí nói:

— Bác Đức ạ, tôi có chút ý kiến với bác nhá. Bác chỉ lo "hóa" cho người khác còn bác thì vẫn chưa rời bỏ cái búa tạ đấy!

Đồng chí bí thư nói xong, tôi thấy mặt bác đỏ gay. Bác nắm tay lại đấm đầu một cái, "hừ" một tiếng, chẳng nói thêm một câu nào nữa, chạy đi ngay. Anh em phá lên cười. Đồng chí bí thư cũng cười, và nói với tôi:

— Này, cậu có biết tại sao bác Đức lại không nghĩ tới cái búa tạ của mình không?

Tôi suy nghĩ rồi đáp:

— Tôi nghĩ rằng bác thợ già của tôi chưa nỡ dứt nó ra đấy thôi!

Cái búa tạ của bác Đức cũng có một lai lịch cơ đấy: Cán búa làm bằng gỗ cây hòe, bác đã dùng nó bao nhiêu năm, thay bao nhiêu đầu búa thì tôi không biết, nhưng tôi chỉ biết rằng, cái cán đó bị khói hun, dầu dính, mồ hôi thấm đã ngả màu đen như mực, bóng như một chiếc gậy pha lê. Ở đầu tay cầm có ba hằn ngón tay mài mòn sâu hoắm vào. Nó là báu vật của bác, bình thường bác không cho ai sờ tới nó. Tôi còn nhớ, dạo ấy vào dịp đầu năm, tôi vào nhà máy học việc với bác. Tôi bắt đầu học nghề rèn, cầm búa đập sắt. Mới đầu, tôi không thích nghề này, nghĩ bụng làm nghề rèn thì có ra cái thớ gì đâu, suốt ngày chỉ quai búa choang choang mà thôi! Vì vậy, tôi làm việc uể oải, không yên tâm, có một lần quai búa hụt, suýt gãy cán. Thế là bác nổi nóng mắng tôi một trận ra trò. Ngay đêm hôm đó, ngồi quanh bếp lửa sắp tàn, bác ôm búa trong tay kể lại quãng đời bác đi học việc.

Bác Đức đã làm bạn với cái búa tạ từ hồi mới mười bốn tuổi. Bác kể rằng hồi đó, bác chưa cao bằng cán búa, cánh tay cũng bé hơn cán búa, nhưng còn có cách nào khác? Để kiếm mỗi ngày vài bát cháo cầm hơi, bố mẹ bác đã phải cho bác tới học việc một người thợ rèn. Từ đó, búa tạ là bạn, miếu đổ là nhà, bác mặc manh áo rách đẩy chiếc xe cút kít cót ca cót két đi khắp chân trời góc biển.

Người thợ cả của bác là một con người đơn độc, nghiêm khắc. Bác học nghề, ngoài việc quai búa, thụt bễ, thổi cơm ra, lại còn phải khâu vá cho thợ cả. Đầu bác cứ bị đánh sưng lên từng cục. Búa tạ nặng như thế, lòng bàn tay rớm máu, cánh tay sưng không nhấc lên nổi, nhưng trước mặt thợ cả bác không bao giờ dám khóc một tiếng. Có lần bác nghĩ bụng: tại sao mình lại phải quai cái búa tạ nặng nề chết tiệt này? Bác định bỏ trốn, vứt cái búa tạ ấy đi. Nhưng, rời búa ra, biết làm gì để kiếm nổi cơm ăn?

Về sau, người thợ cả của bác chết, chỉ để lại cho bác một vật duy nhất là cái búa tạ. Bác vác búa sang nhà thợ rèn khác quai búa thuê. Bác đã từng gửi gắm hy vọng của mình vào chiếc búa này. Hy vọng của bác rất đơn giản: bác không muốn mình cũng như người thợ cả đã chết, làm thợ rèn suốt đời mà vẫn sống đơn độc, cuối cùng vẫn ôm búa chết. Bác cần phải có nhà, sống cuộc đời no ấm. Nhưng trong thời đại bấy giờ, chút hy vọng đó cũng vô cùng mỏng manh. Bác quai búa thuê hết nhà này đến nhà khác, sống bên lò than ba chục năm trời, rút cục vẫn chăn đơn gối chiếc, vẫn chiếc búa của người thợ cả để lại bạn bè theo bác, vẫn ngủ trong miếu đổ, sống cuộc đời lưu lạc nay đó mai đây. Sau ngày giải phóng, bác đã có việc làm cố định. Bác vào nhà máy làm công nhân. Bác nói: từ ngày đó trở đi, bác mới nắm vững cán búa, nắm chắc cuộc sống, nắm chắc hy vọng trong tay.

Ở trong thời đại trước, lao động của một con người chỉ để làm cho cá nhân mình được no ấm mà thôi, nhưng sau ngày giải phóng, bác thợ già của tôi đã hiểu biết ý nghĩa to lớn hơn của lao động. Bác thường nói: cũng cái búa này, ngày nay quai nó sao mà nhẹ thế, một sức mạnh vô hình nào đang giúp đỡ tôi, tiếng búa choang choang kia, quai xuống đe bắn tung hoa lửa, không còn là những tiếng than thở căm thù chế độ cũ nữa mà là bản nhạc nhịp nhàng ca ngợi thời đại mới. Bác thường bảo: bác yêu cái búa này, vui lòng quai đến lúc chết vẫn không rời tay. Tất nhiên bác chỉ nói mấy câu cuối cùng đó ra khi thấy tôi rưng rưng nước mắt cảm động vì quãng đời đã qua của bác.

Bác Đức là một con người như thế đấy. Bác yêu quý cái búa tạ của mình, có một tình cảm kỳ lạ đối với nó, vì chiếc búa đã ghi lại gần hết cả cuộc đời của bác! Cho nên tôi nghĩ rằng, sở dĩ bác quên bẵng mất việc li dị chiếc búa ra cũng vì nhiều nguyên nhân như vậy.

Đêm hôm đó, cũng là đêm đầu tiên toàn nhà máy quyết định ăn mừng thắng lợi cơ giới hóa, tôi tới phòng bảo vệ lao động, định tìm bác để nói chuyện. Nhưng, sắp tới cổng thì tôi mới chợt nhớ ra hôm nay là ngày nghỉ. Từ ngày phát động phong trào cơ giới hóa đến nay, anh em đều tự động không nghỉ. Hôm nay cả nhà máy đã "hóa" gần xong, anh em được nghỉ bù. Nhưng tôi vẫn chống tay lên cánh cửa nhìn vào. Hừ, trong nhà vẫn đỏ đèn, bác thợ già của tôi ngồi một mình dưới đất, ôm chiếc búa trong lòng, đang khắc gì lên cán! Chợt thấy, lòng tôi xúc động, rón rén đi tới sau lưng bác nhìn trộm. Thì ra bác đang khắc chữ lên cán búa! Hàng trên, ba chữ "Phùng Kim Đức" đã khắc xong, hàng dưới năm chữ " buổi chia ly vui vẻ" đang khắc dở. Thấy thế tôi mừng rơn người bèn hỏi:

— Bác đang làm gì đấy? Tôi làm bác giật mình. Bác vội đẩy búa ra, cười, đứng dậy bảo:

— Từ giã chiếc búa tạ này đây! Nói đoạn bác chỉ hai thỏi sắt hình chữ H đứng sững trước mặt, nói: — Kia, cái món này thay búa đấy! Tôi chú ý nhìn kỹ, thì ra đấy là một cái máy búa được chế ra theo phương pháp thủ công, lòng tôi rộn lên vui sướng, liền hỏi:

— Bác làm ra từ bao giờ thế?

— Vừa xong. Thật không ngờ, hôm nay đã rời bỏ được chiếc búa tạ dùng trong bốn chục năm trời này! Nói đoạn, bác mở nút điện, máy búa chạy lên chạy xuống, tiếng đập mạnh và giòn tan vang lên nhịp nhàng theo đầu búa lên xuống tự động. Tôi nhìn trộm lên mặt bác, hai mắt bác nheo lại, hai giọt nước mắt chảy, nhưng vẻ mặt bác thì phấn khởi, không sao tả hết nỗi vui mừng và xúc động.

Doãn Trung dịch

Nguồn: Hoa bách hợp (truyện ngắn Trung Quốc), NXB Văn học, 1960


Xem online : Tiểu sử nhà văn Vạn Quốc Nho