Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Văn chương > Nước ngoài > Cho Hak Rae (1927)

Văn học Hàn Quốc

Cho Hak Rae (1927)

Nhà thơ Hàn Quốc

Thứ Sáu 27, Tháng Sáu 2014

Tiểu sử

Cho Hak Rae 조학래 (Triệu Hạc Lai) là nhà thơ, đại tá quân đội Hàn Quốc. Ông sinh năm 1927 ở huyện Imsil, tỉnh Jeolla Bắc, Hàn Quốc. Ông đã từng làm Đoàn trưởng đoàn nghệ thuật Hàn Quốc sang thăm Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.

Tác phẩm: Tuyển tập thơ Cho Hak Rae, NXB Seul, 1972.

Trích tuyển

Hà Nội... Bình Nhưỡng

Dõi theo mây muôn màu về miền Nam vạn dặm
Vượt chân trời lên hướng Bắc ngàn trùng
Bình Nhưỡng - Hà Nội ơi, Hà thành và Bình Nhưỡng!
Xa ngàn trùng nhưng gần tựa kề bên!
Cách nhau dù có xa xôi
Cùng có một lịch sử lâu đời
Biến thành hai trái tim - Bình Nhưỡng, Hà thành
Tim hai nước máu sôi đang đập mạnh
Dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, Bình Nhưỡng thắng lợi
Chiến thắng rồi bọn xâm lược Pháp hôi tanh
Hà Nội rung trống đón mừng Hồ Chủ tịch
Thắng lợi của Bình Nhưỡng có Đại Đồng xanh biếc
Đã trở thành của Hoàn Kiếm huy hoàng
Thắng lợi của Hà Nội có Hoàn Kiếm xanh lam
Là thắng lợi của Bình Nhưỡng, của người yêu hòa bình thế giới
Dưới ánh nắng miền Nam chói lọi
Trong lòng mẹ đã trở về, thủ đô Hà Nội
Mây đen bóng tối thời Pháp đã tiêu tan
Mưa tạnh, vắt ngang cầu vồng trên vòm cây lá thắm
Nức lòng ai cũng ngợi ca Hà thành hạnh phúc
Nơi có Hồ Chủ tịch, Hà Nội, Hà Nội ơi!
Hà Nội hôm nay thét lên với toàn thế giới
Vì Việt Nam, vì thống nhất...
Đỉnh núi Mô Lan, tháp Giải Phóng rực ánh sao cao ngất
Cờ đỏ tung bay đón gió Cột Cờ!
Đường của hai dân ta thênh thang, thẳng tắp không mờ!
Vinh quang thay Bình Nhưỡng - Hà thành, Hà thành - Bình Nhưỡng!

(Đào Vũ và Doãn Thành Long dịch)

Một nắm đất

Ôi Sài Gòn, ôi Mê-kông
Ôi rừng dừa, ôi vườn cây kín mít
Ôi thành phố, xóm làng trên quê hương thân thiết
Giã từ thôi, ta sẽ trở về...

Và sau bao mộ chí còn kia
Bao đồng chí đã nằm yên đó
Dâng lên một vòng hoa thắm đỏ
Giã từ thôi, nhất định trở về...

Từng đoàn quân đội ra đi
Đã từ giã quê hương ra tập kết
Từ giã chốn bưng biền thân thiết
Khác nào nơi cắt rốn chôn rau

Mặt trời treo ở trên cao
Đốt lửa trên mũ lá
Mồ hôi rơi tầm tã
Đi đi hoài, đến một làng kia

Trước nhà, dưới bóng hàng tre
Bộ đội dừng chân nghỉ mát
Một má già tóc bạc
Đương đập lúa trong sân

"Anh em ơi! sao lại đứng tần ngần
Ta hãy vào giúp má!"

Đoàn chiến sĩ vội vàng hối hả
Đi theo anh đội trưởng vào sân

"Cảm ơn con một bụng vì dân
Má chưa kịp đón mời con, con đã tới"

Các chiến sĩ lại xếp thành từng đội
Từ giã xóm làng
Bà má già hối hả vội vàng
Nắm tay anh đội trưởng

"Các con đi, từ giã quê kiểng
Biết thuở nào về
Quê hương nay u tối não nề
Các con đi, có còn đâu ánh sáng"

"Má ơi! đừng lo lắng
Các con nhất định sẽ về đây
Ngày con về thăm má cũng là ngày
Tổ quốc ta đã hoàn toàn thống nhất"

Cầm vạt áo
Mẹ già lau nước mắt:
"Con má cũng là quân đội nhân dân
Nó chắc rồi cũng sẽ như con
Cũng từ giã miền Nam ra tập kết..."

Dù là má liền da dính thịt
Dù không là má ruột sinh ra
Cũng là má của chúng ta
Cũng là má những người con chiến sĩ

Bỗng bà má như từ trong mộng dậy
Bà chạy vào, đem nắm đất ra
"Nắm đất đây là lòng của má già
Là lòng của miền Nam tất cả
Hãy giải phóng mảnh đất này đau khổ
Quân thù đang dày xéo dưới bàn chân!

Đừng quên con! nhớ mãi nghìn lần
Nhìn đến đất, lại nhớ liền tiếng má
Hết giặc Pháp, bây giờ quân giặc Mỹ
Đang dày lên nửa nước miền Nam"

Mặt má, hiện dần những nét đau thương
Anh đội trưởng phải cố cầm nước mắt
Nén xúc động anh cười tươi nét mặt:
Má ơi! thôi chào má, chúng con đi...

Trước mắt má già còn lệ đọng trên mi
Như chiến sĩ bạt ngàn đang trở lại
Như sóng lúa tươi vàng đang xô đẩy
Trên đồng quê giải phóng, ruộng chia rồi

Bà má giơ tay lên trán, bồi hồi
Nhìn theo mãi bóng đoàn quân đội
Nhìn thẳng mãi tới thủ đô Hà Nội
Nhìn tới bầu trời miền Bắc xanh trong

Vì làm sao bà má chịu đau thương
Sao bà má quật cường đứng đó?
Hai nước chúng ta cùng có một miền Nam đau khổ
Hãy đoàn kết chống thù chung, thống nhất nước nhà

Trong buổi tọa đàm với các đồng chí Liên khu V

(Hoàng Trung Thông dịch)

Nguồn:  Việt Nam trong lòng bạn (tập thơ văn nước ngoài viết về Việt Nam), NXB Văn học, 1960