Menu

Trang nhà > Con người > Hồi tưởng > Năm mươi năm mắc dịch (1)

Kỷ niệm từ Hội nghị Paris

Năm mươi năm mắc dịch (1)

GS Nguyễn Ngọc Giao

Chủ Nhật 25, Tháng Tám 2019

Nghề của tôi là học và dạy toán, nhưng nghiệp của tôi là dịch : phiên dịch (dịch nói) và biên dịch (dịch viết) giữa tiếng Việt và tiếng Pháp. Mắc dịch là cách gọi đùa giữa những người phiên dịch khi nói tới công việc của mình với tất cả những nỗi trần ai khổ ải của nó (nhất là phiên dịch chính trị).

Hai chữ này với ý nghĩa đó, chúng tôi dùng từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 của thế kỉ trước. Nhưng nếu tra « mắc dịch » trong Google, nửa giây được hơn 75 000 kết quả, thì hầu hết « mắc dịch » được dùng theo nghĩa đen (nhuốm bệnh dịch) hay nghĩa bóng (rủa : « đồ mắc dịch »), chỉ có một vài lần (sau năm 2000) được dùng để nói tới dịch thuật (thí dụ : bài viết của Phan Huy Đường « Phải điên điên mới mắc dịch – Hành trình của dịch giả »).

Tôi “mắc dịch” từ năm 1968, tính đến năm nay là vừa tròn năm mươi năm. Nhiều người biết tôi làm phiên dịch cho phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại Hội nghị Paris, nên tưởng tôi đã vướng vào kiếp dịch từ tháng 5-1968, khi cuộc nói chuyện Việt Mỹ (giữa đại diện Miền Bắc và đại diện Mỹ) khai mạc. Thực ra, tôi bắt đầu công việc này hai tháng trước đó. Cũng là một sự tình cờ. Cuối tháng 3 năm 1968, có một cuộc họp mặt lớn ở Cung triển lãm, Porte de Versailles (quận 15 Paris), tập hợp khoảng mười ngàn trí thức Pháp ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Đứng ra tổ chức là một liên minh rộng rãi, từ Đảng cộng sản Pháp tới những người gaullistes tiến bộ, Phong trào hoà bình đứng chung với những nhân vật tiêu biểu của giới trí thức Pháp : Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, nhà vật lý (giải Nobel) Alfred Kastler, Louis Aragon và Elsa Triolet, Vercors... (Picasso vắng mặt, gửi điện từ Mougins “chào mừng nhân dân Việt Nam hào hiệp”). Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu, phái đoàn VNDCCH do ông Hoàng Minh Giám, bộ trưởng văn hoá, làm trưởng đoàn. Hai trưởng đoàn Việt Nam phát biểu bằng tiếng Pháp, không cần phiên dịch. Nhưng chiều hôm trước cuộc mít tinh, nhà thơ Chế Lan Viên, cùng đi với giáo sư Hoàng Minh Giám, sáng tác một bài thơ và viết một bài tham luận ngắn, cần một người dịch cấp tốc trong đêm hôm ấy. Thế là tôi bị trưng dụng, bài tham luận không đặt ra vấn đề gì đáng kể, nhưng bài thơ, nhất là thơ “trí tuệ” của Chế Lan Viên, vượt khỏi khả năng tiếng Pháp của tôi, học sinh trường Việt (Chu Văn An), lên đến đệ nhất, chỉ rành tiếng Pháp của sách toán Lebossé & Hémery, ngữ pháp thì vẫn ở trình độ “chia véc-bờ”. Tối hôm ấy, dịch xong, sáng hôm sau, tôi phải cầu cứu chị Madeleine Riffaud, nhờ chị chỉnh sửa ngữ pháp, từ ngữ, tiết tấu câu thơ.

Cuộc tập hợp thành công vượt xa sự chờ đợi của ban tổ chức. Đài truyền hình đưa nhiều hình ảnh. Tôi phải nói tới việc bản mặt của mình xuất hiện trên TV Pháp, không phải để khoe khoang, nhưng việc này, như tôi sẽ kể trong một chương sau, đã tạo ra một bước ngoặt bất ngờ trong cuộc đời của tôi.

Hệ quả của việc này là một tháng rưỡi sau, tôi được gọi đi làm phiên dịch giúp phái đoàn VNDCCH. Tôi không bao giờ hỏi, nhưng đoán mò rằng người giữ vai trò quyết định là ông Nguyễn Minh Vỹ [1], phó trưởng đoàn của Bộ trưởng Hoàng Minh Giám hồi tháng ba 1968, cũng là phó trưởng đoàn của Bộ trưởng Xuân Thuỷ tháng năm 1968.

Công việc chính của tôi là dịch (Việt-Pháp) cho ông Nguyễn Thành Lê, người phát ngôn phái đoàn, trong những cuộc họp báo sau mỗi phiên họp chính thức. Các cuộc họp chính thức diễn ra ở Hội trường Kléber, thường được gọi tên một thời là Khách sạn Majestic, với một quá khứ không mấy vinh quang, là từ năm 1940 đến năm 1944, phát xít Đức đã dùng làm bộ chỉ huy của quân đội chiếm đóng. Sau ngày Paris giải phóng, Hôtel Majestic được quốc hữu hoá và trao cho Bộ ngoại giao Pháp tiếp quản, trở thành Trung tâm hội nghị quốc tế, không xa Khải hoàn môn. Sau Hội nghị Paris (1969-1973), trung tâm này đón tiếp Hội nghị quốc tế ghi nhận Hiệp định Paris (tháng 3-1973), và gần 20 năm sau, Hội nghị quốc tế về Campuchia. Mấy năm gần đây, nó được tư hữu hoá. Một công ti Qatar trúng thầu, biến thành khách sạn “palace” (siêu hạng, trên cả khách sạn 5 sao).

Cách đây hai năm, tới dự một buổi bảo vệ luận văn tốt nghiệp trường thiết kế thời trang của một cô cháu, tôi ngạc nhiên thấy hai con sư tử đứng sừng sững ở hai bên cổng vào. Hoá ra khách sạn đã bán cho một công ti Trung Quốc, mang tên Peninsula Hotel. Sự có mặt của Trung Quốc ngày nay ở địa điểm này phải chăng để bù lại sự vắng mặt của các nhà báo Bắc Kinh trong số hàng trăm ký giả, phóng viên nhiếp ảnh quốc tế trong mấy năm trời, trước hội trường Kléber, cũng như trong các cuộc họp báo ở trung tâm báo chí, đại lộ Ségur (nếu tối nhớ không lầm, phải đến sau “Thông cáo Thượng Hải” 1972, “đế quốc Mỹ” không còn là “kẻ thù số 1” của Mao Trạch Đông, họ mới xuất hiện trong các cuộc họp báo).

Như mọi người đều biết, các cuộc thương lượng thực chất không diễn ra ở hội trường Kléber, mà trong những cuộc gặp “bí mật” giữa các ông Lê Đức Thọ (cố vấn đặc biệt), Xuân Thuỷ (trưởng đoàn) và đại diện của Mỹ (Averell Harriman trong cuộc nói chuyện tay đôi năm 1968, Henry Kissinger trong thời gian Hội nghị bốn bên 1969-1973). Tính từ “bí mật” đúng cho những năm đầu, khi các cuộc gặp diễn ra ở căn nhà nhỏ phố Darthé (Choisy-le-Roi, gần trụ sở phái đoàn VNDCCH) hay biệt thự (của một triệu phú Mỹ) ở St-Nom-La-Bretèche. Nhưng vào thời kỳ chót (năm 1972), các phóng viên quốc tế đã phát hiện ra nơi họp là biệt thự ở Gif-sur-Yvette, mà danh hoạ Fernand Léger đã tặng cho Đảng cộng sản Pháp, và ĐCSP đã cho phái đoàn Việt Nam mượn (cũng như đã cho mượn khu nhà “Trường đảng trung ương” ở Choisy-Le-Roi suốt 5 năm trời). Tại Gif, phóng viên quốc tế đã thuê đất vườn hàng xóm, dựng nên những chòi cao để quay phim, chụp ảnh. Còn trong vòng bí mật là nội dung các cuộc đàm phán, mãi gần đây hai bên mới bắt đầu giải mật. Đặc biệt nhà báo Pháp Daniel Roussel đã được Bộ ngoại giao Việt Nam cung cấp những băng ghi âm để hoàn thành cuốn phim “Conversations secrètes”.

Trong bối cảnh ấy, Hội trường Kléber và các cuộc họp báo ở trung tâm báo chí chỉ đơn thuần là diễn đàn đấu tranh và tuyên truyền ngoại giao để các bên khẳng định lập trường, công khai hoá những đề nghị nhằm “khai thông bế tắc”, tố cáo hành động và “vạch trần luận điệu” của đối phương. Phải nói, trong công việc này, ông Nguyễn Thành Lê, sếp của tôi, là một phát ngôn viên sắc sảo, tạo ra ấn tượng mạnh đối với các nhà báo, nhất là đối với ký giả Mỹ. Cho đến giai đoạn chót, đoàn Mỹ – và tất nhiên, đoàn VNCH – đòi “miền Bắc” phải rút quân khỏi miền Nam. Nghĩa là suốt bốn năm trời, lập trường của Mỹ được bao bọc dưới ngôn từ rất dễ nghe là “hai bên cùng rút”. Và, ít nhất trong giai đoạn đầu, các nhà báo Mỹ liên tục chất vấn người phát ngôn VNDCCH : “Quân đội Nhân dân”, “quân đội miền Bắc” có mặt phía nam vĩ tuyến 17 hay không ? Trả lời có, trong bối cảnh ấy, là một lời “thú nhận”; mở đường cho sự đổi chác thoạt trông rất “công bằng”, là Mỹ và Bắc Việt Nam cùng rút quân khỏi miền Nam, để “nhân dân miền Nam quyết định công việc của mình”. Trả lời không, thì không ai tin, là nói dối giữa ban ngày. Ông Nguyễn Thành Lê kiên trì với câu trả lời : nước Việt Nam là một, Mỹ xâm lược Việt Nam, người Việt Nam có quyền và nhiệm vụ chống xâm lược. Nói khác đi, câu trả lời là có, nhưng là cái có của người có nhiệm vụ và có quyền, không thể đặt ngang với sự có mặt của đạo quân ngoại bang để đổi chác. Câu văn bia ấy, nếu nhắc đi nhắc lại một cách “tự động” thì trở thành nhàm chán. Nhưng ở ông Nguyễn Thành Lê, những câu chữ ấy được nói ra với tất cả sự kiên định và niềm tin, khiến nhà báo phải lắng nghe, nếu không tâm phục khẩu phục cũng phải kính nể. Cùng với sự khẳng định lập trường, nhiệm vụ của người phát ngôn là tố cáo trước dư luận những tội ác của quân đội Mỹ và “đồng minh”. Ngay từ tháng 4-1968, ông Lê đã đưa ra trước dư luận vụ thảm sát ở Sơn Mỹ. Phải nói, lúc đó, báo chí Mỹ hầu như “nghe qua rồi bỏ”, hoặc vì phản xạ “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”, hoặc vì họ hoài nghi về mức độ tội ác mà có thể “cộng sản Bắc Việt” đã cường điệu lên. Nhưng đến khi chính phóng viên Mỹ và mấy quân nhân Mỹ tố giác, hai tiếng “My Lai” và “William Calley” nổi lên, thì họ mới liên hệ Mỹ Lai (thôn) với Sơn Mỹ (xã), và so sánh với những con số mà phía Việt Nam đưa ra, mới thấy là “Việt cộng” hoàn toàn không “tố điêu” trong vụ này. Một vụ khác : năm 1970, khi phái đoàn Quốc hội Mỹ đến Sài Gòn (Nixon muốn họ chứng kiến những thành công của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”), và họ đã khám phá ra những “chuồng cọp” ở Côn Đảo (nhờ sự hướng dẫn của Don Luce). Đây là dịp để ông Nguyễn Thành Lê trích dẫn chứng từ của ông Nguyễn Đức Thuận (trong hồi ký Bất Khuất) về chuồng cọp. Những ai đã chứng kiến sự im lặng kéo dài nhiều phút của hội trường quy tụ hàng trăm nhà báo, không thể quên được cảnh tượng ấy.

Có những giây phút mà cũng hội trường ấy rộn lên những tiếng cười và bình luận ồn ào mà “nạn nhân” là người phiên dịch. Cuộc họp báo thường bắt đầu bằng câu hỏi của một nhà báo : “Phiên họp hôm nay có gì mới ?”. Và câu trả lời, nhắc lại lần thứ n+1 : “Phía Mỹ vẫn ngoan cố...”. Cho đến một hôm, người phát ngôn VNDCH mô tả phiên họp bằng câu ca dao :
Con kiến mà đậu cành đa,
Đậu phải cành cụt, bò ra bò vào.
Con kiến mà đậu cành đào.
Đậu phải cành cụt, bò vào bò ra !

Dịch từng câu từng chữ không khó lắm, nhưng làm sao toát ra được cái ý của hình ảnh con kiến ? Tôi cũng không nhớ đã loay hoay “dịch ra dịch vào” thế nào, nhưng từ đó, mỗi lần nhà báo hỏi, và ông Lê trả lời, tôi chỉ cần “dịch” bằng hai chữ “la fourmi” (con kiến) là đủ. Tất nhiên, cũng từ đó, mỗi sáng thứ năm (ngày họp) trên chiếc xe DS từ Choisy-le-Roi đến Hội trường Kleber, tôi đều hỏi : “Hôm nay anh có định dùng câu ca dao tục ngữ nào không ?”. Tôi không biết các “đồng nghiệp” trẻ hiện nay ở Việt Nam, được đào tạo bài bản, sợ nhất cái gì trong nghề. Đối với tôi, tục ngữ và ca dao vẫn là nỗi ám ảnh ghê rợn !

Chắc có bạn đọc sẽ hỏi tôi có kỷ niệm gì về dịch lầm, dịch “hố” ? Tất nhiên là có. Sai lầm mà tôi nhớ đời liên quan tới tướng “Big” Minh. Câu chuyện xảy ra, nếu tôi nhớ không lầm, khoảng năm 1970-71, tướng Dương Văn Minh bị Nguyễn Văn Thiệu gạt ra bằng cách cử ra nước ngoài làm “đại sứ lưu động”. Cuộc bầu cử tổng thống sắp diễn ra, Mỹ ngại nhất là nó trở thành “trò hề độc diễn”, nên nghe nói họ đã nài kéo tướng Minh ra ứng cử. Trong khi đó, lập trường của hai phái đoàn VNDCCH và Chính phủ cách mạng lâm thời CHMNVN (do bà Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn) tất nhiên là kiên định đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng cách rút hết quân Mỹ và thay thế “chính quyền tay sai hiếu chiến Nguyễn Văn Thiệu”. Câu hỏi của phóng viên Mỹ trong các cuộc họp báo thường xoáy quanh vấn đề “thay Nguyễn Văn Thiệu bằng ai ?”, “ai là người phía các vị chấp nhận đối thoại ?”. Trong danh sách những “ai” đó, tất nhiên tên tuổi tướng Minh đứng hàng đầu.

Hôm ấy, sau một câu hỏi về tình hình chiến sự (hình như có nói tới Khe Sanh, và tên tuổi tướng Giáp được nêu ra), nhà báo hỏi VNDCCH có “chấp nhận tướng Minh” không. Ông Nguyễn Thành Lê trả lời “Tướng Minh...” một cách chung chung, và nhắc lại lập trường “nguyên tắc”. Người phiên dịch (là thằng tôi) vừa bắt đầu bằng ba tiếng : “Le général fantoche Minh” (fantoche tiếng Pháp, có nghĩa là bù nhìn, nguỵ) thì ông Lê chặn lại ngay, và nói thẳng bằng tiếng Pháp : “Le général Minh”. Bạn đọc có thể hình dung ra cảnh tượng phòng họp báo trong những phút sau đó. Đối với các nhà báo, rõ ràng “người phát ngôn Bắc Việt” không coi tướng Minh là “nguỵ”, nghĩa là chấp nhận ông rồi, mặc dầu không nói trắng ra. Đây quả là một “scoop” lớn, hôm sau xuất hiện trên trang nhất các báo New York Times, Washington Post.

Đây là lúc tôi phải thú tội. Tại sao tôi đã dám thêm chữ “fantoche” sau chữ “général” ? Như đã kể ở trên, trước đó ít phút, có nói tới tướng Giáp, “le général Giáp”. Đến lúc nói tới tướng Minh, con người “lập trường cách mạng” trong tôi bỗng nổi dậy, thấy không thể xếp ngang hàng “général” này với “général” kia được. Bịa thêm chữ “fantoche”, đứng về mặt nghề nghiệp, là một sai lầm tối kỵ (dịch là phản, nói theo ngạn ngữ phương Tây), đứng về mặt chính trị, thể hiện căn bệnh tả khuynh cực kỳ ấu trĩ.

Nhưng đối với các ký giả ở hội trường, họ không thể tưởng tượng được rằng một tên phiên dịch của “đoàn cộng sản” dám tự tiện thêm thắt như vậy. Và họ ngờ rằng đây là một màn dàn cảnh khôn khéo của “cộng sản”, gửi đi “thông điệp” mà ai cũng hiểu, nhưng lại không tốn kém một lời cam kết từ phía người gửi. Hệ quả của “sự cố” này là “cốt” của tướng Minh đã tăng vọt trên thị trường chứng khoán chính trường Sài Gòn, ít nhất trong con mắt giới báo chí. Sự ấu trĩ của người phiên dịch đã ngẫu nhiên góp phần vào “sử kiện” nho nhỏ này.

(còn nữa)

Nguyễn Ngọc Giao
Diễn Đàn 21-3-2018


Xem online : Năm mươi năm mắc dịch (2)


[1Ông Nguyễn Minh Vỹ (1914-2002) thuộc hoàng tộc, tên là Tôn Thất Vỹ, là một cán bộ lãnh đạo trong lãnh vực thông tin tuyên truyền. Thời trẻ, ông kết thân với những nhà văn nhà thơ Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên. Xem thêm tiểu sử trong Đỗ Phượng : Nhớ nhà báo Nguyễn Minh Vỹ ; và bài Nhà ngoại giao Nguyễn Minh Vỹ : Một chứng nhân lịch sử.