Menu

Trang nhà > Gia đình > Truyền thống > Hồn sâu Hà Nội

Hồn sâu Hà Nội

Deep soul of Hanoi

Chủ Nhật 7, Tháng Giêng 2007

Chế Lan Viên có câu thơ hay như một định lý: "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn..." Chữ tâm hồn ở đây là tâm hồn thi sĩ, là day dứt, thương yêu, là nhớ nhung kỷ niệm, là sâu nặng tình người... mà thi sĩ sẽ mang nó trong hồn mình suốt một đời người.

Nhưng ngoài ra cũng có thể hiểu một cách khác dù rất chủ quan: Tâm hồn của mảnh đất ấy, mỗi mảnh đất ấy đều có một tâm hồn, ai biết đến hay không, đất ấy vẫn trường tồn. Mỗi lần đi qua Hà Tĩnh, người ta hay nghĩ đến đây là quê hương của Nguyễn Du, người mang nặng đẻ đau ra cô Kiều trăm năm vẫn sống. Đi tàu Hà Nội - Hải Phòng qua ga Cẩm Giàng, nhiều người thầm nhắc lòng mình: "Đây là nơi Thạch Lam sinh ra, người để lại những bài văn bất hủ như Hà Nội ba sáu phố phường, Sợi Tóc, Đêm Giao Thừa, Nhà mẹ Lê...".

Chỉ riêng trong lòng Hà Nội, cái nôi của văn chương văn hiến, từng mảnh đất phố hay phường cũng có thể làm tâm hồn ta rung lên như sợi dây đàn cảm ứng, nhớ một đồng điệu xa mờ bảng lảng. Hàng Bạc hay Hàng Buồm, nơi cửa sông Tô Lịch, cứ nhắc ta về một ông Phạm Đình Hổ với câu văn giản dị như lời nói thông thường: "Nhà ta ở phường Hà Khẩu". Hồn Nguyễn Văn Siêu đêm đêm có bay về mài mực và tung ngòi bút trên đài Nghiên Tháp Bút để nước Hồ Gươm sóng sánh long lanh câu thơ và câu văn trong "Tùy bút lục"? Những bài thơ ngâm vịnh tạc thù giữa bà chúa Liễu Hạnh và ông trạng làng Bùng Phùng Khắc Khoan trong đêm trăng Hồ Dâm Đàm sương phủ là những bài gì giữa phẩm tiên và nho sĩ mà nay mỗi lần ta đến Phủ Tây Hồ, cái mùi, vị bún ốc phàm trần chẳng thể đánh bạt nỗi thuyên quyên tài tử? Đời thường, ngày thường, lúc hoa đào theo người về từng phố ngõ đón xuân hay mùa hoa bằng lăng nước tím lơ mơ, lúc hoa xoan tây đệm cho dàn nhạc ve sầu nỉ non cất tiếng, giữa ngày mưa bong bóng phập phồng hay đêm thu thơm nỗi hoàng lan quí phái và hoa sữa nồng nàn... ta - người dân thường thành phố - thả bước chân vào mảnh đất kinh kỳ nghe hồn mình cũng một chút lênh đênh. Mỗi phố lặng tờ kia hay âm vang tiếng phách gõ rao món ngon "xực tắc" nọ, ta nhớ đến một người nào đã ra đi thành lữ thứ bặt tin, nửa trăm năm không trở lại, hay một bóng hình đã vĩnh viễn trong cỏ thu vàng chẳng bao giờ về lại cùng ta... ta nhớ đến một khuôn mặt trăng rằm, một đôi mắt tinh anh chơm chớp hàng mi như lá điền thanh, lá me keo, hoặc một nụ cười nửa miệng để bắt ta phải trằn trọc hiểu nhiều... Xuân Diệu từng có câu thơ đùa:

Nhà tôi hăm bốn Cột cờ,
Ai yêu thời đến, ai lờ thì thôi...

mà sau đó cô Thúy Bắc, từng có thơ hay như rút ruột mình thành "Sợi nhớ sợi thương" để "Ngả về phương anh", kém nhan sắc nhưng tài hoa không kém, cũng mạ lại câu thơ kia thành: "Nhà tôi ở xóm Hà Hồi, Ai yêu thì đến, ai hời thì không..." mà sau này, chị không "ra đi" từ xóm Hà Hồi quanh co chữ chi ấy, nhưng lại ra đi từ tầng 4 khu tập thể Giảng Võ, láng giềng nhà văn Hoàng Quốc Hội và nữ sĩ Nguyễn Thị Hồng, người có bài thơ "Lời tượng nhà mồ" ta đọc lại mà gai ghê cảm giác như lạc vào cõi âm hồn Tây Nguyên bập bùng ngọn lửa tình không bao giờ tắt... Cái phố Đình Ngang hơi chéo nơi gần Cửa Nam tức cửa Đại Hưng nhiều triều đời trước, Cao Bá Quát đã về đâu? Phải chăng cũng gần kề chốn này, nay có rạp chiếu bóng mang tên Tây loảng xoảng thứ kim khí Mêtal, là nơi từng có gian lều của người bị giam lỏng 10 năm giữa Đông Quan trong câu thơ: "Góc thành Nam, lều một gian" từ gần 600 năm về trước? Nguyễn Vang-bóng-một-thời thường để lạc khoản dưới những bài tùy bút "Am sông Tô", cái am tranh lá bên bờ sông Tô Lịch có thật hay không có thật khi quê ông ở làng Mọc kề bên con sông vừa trong vừa mát để trai gái dừng chèo ghé sát thuyền nhau trong ca dao? Nguyễn đã khoác cái bị cói trong đựng đủ thứ rượu hợp "gu" mình đi về cõi tiêu tao mà nay có kẻ hậu sinh chê ông là không biết uống nước trà. Làng Mọc tức Giáp Nhất vẫn còn, còn cả ngôi mộ đá hoa cương của ông "vua phóng sự đất Bắc Kỳ" Vũ Trọng Phụng rời bỏ kinh thành mới 27 tuổi đầu sầu tủi. Ta đi qua con đường Điện Biên, đã nhìn thấy mấy cây đề cổ thụ, quá nhà Xuân Diệu mươi bước chân, chợt nhớ người bạn gái lớn tuổi mang họ Thạch: Thạch Trang Đạm, không hiểu bà có một chút nào dòng máu Khơ Me của dải đất miền Trung ra tập kết và đã trở lại quê mình sau giải phóng, đã mấy chục năm không còn gặp lại. Bà không phải người nổi tiếng để ai cũng biết như một Hồ-Thơ-Nôm hay Bà-Huyện-Thăng-Long-thành-hoài-cổ, nhưng ít ra bà đã Hà Nội liền mấy chục năm, có tình yêu và hạnh phúc, sinh con đẻ cái ở giữa lòng Hà Nội. Qua phố Quán Sứ, không còn một sứ quán Chiêm Thành, Trung Quốc nào, mà chỉ còn ngôi chùa mới xây thế kỷ hai mươi, chợt nhớ nhà báo Thái Cương, mà sinh thời ông hướng dẫn lối vào nhà: "Nhà tôi bé nhỏ nằm lọt thỏm giữa hai ngôi nhà lớn hai bên". Ôi, Thái Cương, bây giờ ông ở một mình trong gian nhà dài hai mét, rộng sáu mươi phân, có chật hẹp lắm không, và đêm đêm có ngồi dậy viết thêm cho các tờ báo nào nơi ấy? Đi thêm chút nữa, qua phố Triệu Quốc Đạt ngắn ngủi, từng có nhà "lục xì" ngay trên cái sân riêng của bệnh viện Võ Tánh (nay là sân sau của bệnh viện Bà Mẹ và Trẻ em), chợt nhớ người bạn học thuở đầu xanh cùng nhau đi ăn bánh tôm hồ Tây và chia nhau viên phá xa nóng giòn bờ Hồ Gươm. Anh Chính, anh ở xa Hà nội đúng nửa vòng trái đất. Hà Nội vẫn chờ đứa con xa xứ bằng tấm lòng bao dung và tình bè bạn, bằng tâm hồn của đất đai như ngọn cây hoàng lan đã cao vượt mái nhà, nhưng gốc vẫn nguyên chỗ cũ. Vòng xuống hồ Thuyền Quang, quặt vào ngõ Liên Trì, cái tên nhắc nhở thế kỷ trước đây là "Ao sen", có hai người con gái đã không-Hà-Nội. Một người rời bỏ chồng con về Văn Điển. Còn cô em lại theo chồng con vào xứ chim yến và trầm hương, kề bờ biển, có Tháp Bà, ta gọi Nha Trang... Những người Hà Nội ra đi, lớp này tiếp theo lớp khác, để có một Hà Nội mới, người Hà Nội mới, lớp này tiếp theo lớp khác, từ những đại lộ thênh thang đến con ngõ u hoài tịch lặng. Chị Quì ở Phất Lộc, quán bà Tộ Béo (tục danh là Mụ Béo) kề nhà Thủy Tạ, nhà vô địch Đông Dương về bơi lội ở làng Yên Phụ, Hùng Nhân, nghệ sĩ Mộng Dần sau đền Bà Kiệu, chú tàu què bán lạc rang ở sát tường đền Bạch Mã, anh em ông giáo Anh văn Lê Bá Kông, Lê Bá Khanh thường đến nhà vợ ở phố Lê Văn Hưu, gọi là hàng kem Bình Minh... hoặc hàng phở Giảng Võ ở phố Cầu Gỗ, hay quán Trung Đồ, tức quán giữa đường, nơi tạm dừng chân của những chiếc xe tang độc mã hay tam mã (260 phố Huế), nhà may Sửu giữa phố Tràng Tiền, trưng biển đề có bằng Hàn Lâm Viện Pháp hẳn hoi (sau thành bố vợ một ông Bộ trưởng của chính quyền chúng ta)... không thể một lúc mà mang hết những gì chứa nặng tâm tình giãi bầy lên trang giấy. Hồn đấy. Hồn đất đấy. Vườn Bách Thảo, nơi buổi trưa ta ngồi học trên bậc cỏ sườn ngọn núi Sưa (tức Sư Sơn), từ mấy thuở, những ai lại ngồi đấy học bài hay ai ngồi choàng vai thủ thỉ, ta bạc tóc vẫn không quên tiếng ve sầu rỉ rả, và có con ve còn động tình, thả giọt nước xuống vai ta mà nó không cần biết đời nó và đời ta, cái nào dài hơn, cái nào có lý.

Nhiều người bận rộn, không còn thì giờ để rong du, Hà Nội hiện lên trong lòng họ ra sao, ai mà biết được. Anh tự vệ Chợ Đồng Xuân dùng dao bầu giết giặc đã thành hồn Hà Nội chìm sâu. Người chuyên viết ca dao, tác giả bài "Đóng nhanh lúa tốt" do Lê Lôi phổ nhạc, cũng đã rời bỏ ngôi nhà 105 phố Phùng Hưng mà ra đi vĩnh viễn, chắc cả thi nhân và nhạc sĩ đã đồng ca tác phẩm ấy trong chiều sâu Hà Nội khuất chìm...

Đến lúc Hà Nội tròn nghìn năm, con đường Hòe Nhai, Liễu Giai hẳn đẹp hơn, dù nó không còn là đại diện cho một kinh thành Đông Hòe, Tây Liễu, mà tưng bừng một "Hà Nội như động tiên sa" kiểu mới, kiểu của những người thế kỷ sau đang chầm chậm đỗ vào ga Hà Nội...

Theo KTĐT