Menu
Mục lục

Trang nhà > Lịch sử > Trung đại > MỞ ĐẦU CUỘC THÁM HIỂM VÀ TRUYỀN GIÁO TÂY PHƯƠNG

MỞ ĐẦU CUỘC THÁM HIỂM VÀ TRUYỀN GIÁO TÂY PHƯƠNG

Thứ Sáu 29, Tháng Mười Một 2019

Hình trên: Hoàng tử Enrique, biệt danh “Nhà Hàng Hải”.
Vào cuối thời Trung cổ, Châu Âu phát triển về mọi phương diện. Nhu cầu xuất và nhập khẩu càng lúc càng cấp thiết. Trước đây, “con đường tơ lụa trên đất” nối liền Châu Âu với Châu Á hoạt động mạnh, nay đế quốc Ottoman gây trở ngại, do nhu cầu kinh tế, Châu Âu cần tìm một con đường mới để giải quyết vấn đề tiêu thụ và giới thiệu sản phẩm mới. Về tôn giáo, Giáo Hội La Mã luôn ý thức nhiệm vụ truyền giáo “Các con hãy đi rao giảng khắp muôn dân…” (Mt 28, 19) nên cần phải đưa người đến những vùng đất “ngoại giáo”.

Hai cường quốc hàng hải

Kỹ thuật hàng hải tiến bộ mạnh với quan niệm Trái đất hình tròn. Việc sử dụng la bàn, việc tính toán chính xác tọa độ giữa biển khơi góp phần vào những cuộc hành trình lâu ngày. Ngoài ra, công nghệ đóng tàu đã cho ra đời những loại thuyền buồm có dung tích lớn, chạy cả khi ngược gió, chở được nhiều người, nhiều hàng, lại được trang bị những vũ khí hiện đại nên đã khuyến khích những nhà thám hiểm, chinh phạt, thương gia lên đường… Hai đế quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phát triển rất nhanh.

NGƯỜI BỒ ĐÀO NHA là những người tiên phong đi về phía Đông Ấn Độ. Nhờ có ngành bản đồ học nên họ sớm khám phá nhũng vùng đất mới ở Bắc Phi và Trung Phi. Các thuyền buồm caravelle tải trọng lớn, có thể ngược gió, trang bị các máy móc định vị hiện đại vào thời điểm đó như la bàn, máy đo kinh tuyến, vĩ tuyến… nên có thể hoạt động dài ngày trên biển khơi. Việc bành trướng tiến hành năm 1415 với cuộc đánh chiếm Ceuta. Họ từ từ tiến xuống phía Nam, dọc duyên hải Tây Châu Phi. Hoàng tử Enrique biệt danh “Nhà Hàng Hải” quyết tâm mở rộng biên cương. Với những vị vua đầy quyết tâm chinh phạt, họ đã dần dần đánh chiếm nhiều nơi. Năm 1418, họ đến Madère, 1430 đến Acores, năm 1447 họ tiếp xúc được Châu Phi phía dưới sa mạc Sahara, nước Congo. Năm 1485, Barthelemy Dias vượt Mũi Bão Tố mà sau đó vua João 2 đổi thành Mũi Hảo Vọng. Dom Manuel trị vì từ năm 1495 đến 1521 đã mang danh “Vị Lãnh Chúa chinh phạt, hàng hải, thương mại xứ Ethiopia, Ấn Độ, Arabia và Ba Tư”.


Năm 1498, Vasco de Gama (hình bên) với ba tàu buồm, sau khi vượt Mũi Hảo Vọng, được người tài công A Rập Ibn Madjid giúp đỡ lần đầu tiên đã đến duyên hải Ấn Độ, cảng Calicut. Sau hai năm lênh đênh trên biển cả, ông trở về Châu Âu với số lượng hàng hoá giá trị gấp sáu mươi lần phí tổn chuyến đi. Thời kỳ đó, người A Rập độc quyền buôn bán trên vùng đất Ấn Độ Dương và trên con “đường tơ lụa trên biển” kéo dài đến vùng Viễn Đông. Kinh nghiệm chuyến đi trước bị o ép bởi thương gia Hồi giáo, nay người Bồ quyết tâm trở lại biểu dương thanh thế, hù doạ người A Rập. Năm 1500, 13 chiến thuyền chở theo 1200 quân đã tiến đánh nhiều nơi. Sau cuộc chiến chỉ còn sáu chiếc trở về Châu Âu. Năm 1502, 15 chiếc khác lại khởi hành theo con đường mà Vasco de Gama và cháu là Estevao de Gama đã khai mở. Lần này, họ quyết tâm đặt chủ quyền thống trị của vua Bồ. Năm 1504, do lệnh của đô đốci Alfonso de Albuquerque, họ xây dựng một pháo đài gần Cochin, đây là cơ sở thường trực của người Bồ tại Ấn Độ. Họ quyết tâm loại ảnh hưởng người A Rập trong việc buôn bán hương liệu, đá quý, đồ gia vị, sau đó là các loại chì, đồng, thuỷ ngân, san hô, tiền tệ… Họ muốn thành lập một đế quốc. Do lệnh của Alfonso, người Bồ chiếm thành Goa năm 1510, năm 1511 chiếm Malacca.

Các con tàu thường cập bến vào tháng 9 và trở về Châu Âu vào tháng Giêng Dương lịch. Tàu nhanh chỉ mất sáu tháng, còn chậm phải mất một năm, tuỳ theo các đợt gió mùa.

Cứ thế người Bồ tiến dần sang phía Đông. Nhờ người Trung Quốc mối lái, họ đã đến Siam (Thái Lan) năm 1511, đến Trung Quốc năm 1513 và tới Nhật Bản khoảng năm 1542-1543. Trên con đường đi lại giữa Goa và Trung Quốc, người Bồ đã biết nước Champa và Đại Việt. Trong tác phẩm “Suma Oriental’ của Tomé Pires viết vào khoảng năm 1512-1515 ở Malacca và ở Cochin, ông đã tường thuật khá tỷ mỷ những sản vật, tình hình kinh tế, quân sự của hai quốc gia Champa và Cauchy hoặc Cauchychyna (Giao Chỉ).

Tài liệu chính thức cho biết một đoàn tàu dưới sự chỉ huy của Fernão Perrez d’Andrade rời Malacca ngày 12 tháng 8 năm 1516. Trận bão sớm đã khiến đoàn tàu trôi dạt vào bờ biển ở Cù lao Chăm (Poulo Champeilo) và suýt nữa sinh chuyện đánh nhau. Sau đó, mọi việc ổn thoả và dân địa phương cung cấp nước uống, lương thực. Đoàn tàu trở lại Malacca sau khi ghé Poulo Condor tại đây có nhiều gà, rùa và “điều mới lạ” là có vài “nhánh nho đen”.

Nhờ quen biết, Alfonso d’Albuquerque yêu cầu Andrade trở lại Đại Việt vào tháng 4 năm 1523 để xin giao thương buôn bán. Nhưng việc không thành vì nội chiến. Ông có đặt mấy padroẽs (bia khám phá và chủ quyền). Sau này linh mục Dòng Tên người Bồ Fernão Mendes Pinto vào năm 1555 có nhắc lại đã thấy hình này ở Cù lao Chăm. Ngày nay không thấy dấu vết, hoặc đã chuyển đi hoặc bị phá huỷ.

Bằng con đường hàng hải qua duyên hải Champa và Đại Việt này mà thánh Phanxicô Xavier đã đến Nhật Bản và Trung Quốc.

NGƯỜI TÂY BAN NHA tuy đi sau người Bồ Đào Nha nhưng họ cũng rất thành công trong việc bành trướng lãnh thổ.


Năm 1492, Christophe Colomb (hình bên) khám phá Châu Mỹ, duyên hải Châu Mỹ phía Đại Tây Dương và quần đảo Antilles. Họ sử dụng quần đảo này như điểm xuất phát chinh phạt. Họ đến Tân Tây Ban Nha (Mêhicô) năm 1519-1521, đến Pê-ru năm 1530-1535, sau đó đến Colombia, Chile... Khác với người Bồ Đào Nha, chỉ ưa chiếm vùng duyên hải, người Tây Ban Nha thâm nhập sâu vào nội địa. Vào năm 1550, có thể coi như họ chiếm lĩnh cả Châu Mỹ ngoại trừ Brazil. Còn phía Châu Á, Magellan đã đến Philippines vào năm 1519-1521.

Tại Châu Á, hai cường quốc hàng hải này đụng độ nhau ở quần đảo Moluques, với hiệp ước năm 1529, đế quốc Bồ Đào Nha dừng lại ở phía Tây Philippines.

Toà Thánh làm trọng tài: chia đôi thế giới

Trong bối cảnh tranh dành ảnh hưởng của các quốc gia Châu Âu mà trước hết là nguy cơ bùng nổ chiến tranh giữa người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, hai cường quốc công giáo vào thế kỷ 15. Giáo Hội thể theo lời yêu cầu của họ đã phải đứng ra làm trọng tài ký hiệp ước Tordesillas. Ngày 28-6-1494, một Tông sắc do Đức Thánh Cha Alexandre VI ký, tạo ra một biên giới tưởng tượng kéo dài từ Bắc đến Nam Cực, chia Trái đất làm hai phần giao cho nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Lấy một hòn đảo trong vùng quần đảo Acores làm trung điểm, lúc đầu là 100 dặm nằm ở phía tây bắc vĩ tuyến 37. Châu Á như vậy nằm trong vùng ảnh hưởng người Bồ. Về sau hai nước ký hiệp ước lui thêm 270 dặm tức 370 dặm. Hậu quả của hiệp ước này là nước Brazil thuộc vùng đất vua Bồ Đào Nha.

Trong khi chia thế giới cho họ, Đức Thánh Cha không quên nhắc nhở họ vấn đề truyền bá Tin Mừng, yêu cầu các nước “gửi đến đất liền và hải đảo… những người chính trực, kính sợ Chúa, tài tình và có khả năng để giáo dục dân cư ngụ những miền đã nói trong niềm tin tôn giáo và phong tục tốt”.

Qua Jus Patronatus, quyền bảo trợ mà hai nước vận dụng để áp dụng chính sách thực dân đã khống chế quyền hạn Toà Thánh cho đến khi Giáo Hội thành lập Thánh Bộ Truyền Giáo. Quyền bảo trợ sau này đã gây nhiều phiền nhiễu, phát sinh nhiều điều gay cấn giữa các dòng tu truyền giáo tại nhiều nơi, đặc biệt tại Việt Nam. Một bên nại vào quyền bảo trợ và một bên phải thực hiện những chỉ thị mới của Đức Giáo Hoàng.


Các dòng tu truyền giáo lên đường

Những khám phá trên đã ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống Giáo Hội. Trong khi các nhà thám hiểm lo khám phá những vùng đất mới, các nhà quân sự lo chinh phục đất đai, các thương gia buôn bán làm giàu thì các dòng tu thể theo lời yêu cầu của các nhà thám hiểm, thương gia hoặc các vua chúa đã tình nguyện lên đường truyền giáo. Thoạt đầu là những tuyên úy đi theo các con tàu.

Những bản tường trình của họ về những vùng đất mới lạ, những dân tộc, những nền văn hoá khác nhau đã thúc đẩy nhiều tâm hồn muốn tận hiến cuộc đời cho công cuộc mở mang “Nước Chúa” hăng say lên đường.

Tại Châu Á, người Bồ đã lập một loạt các thương điếm suốt nhiều vùng duyên hải nên dân định cư công giáo mỗi ngày một đông. Năm 1533, Goa đã trở nên một thành phố quan trọng nên về phương diện tôn giáo cũng trở thành Tổng Giáo Phận bao gồm các địa phận trực thuộc như Cochin (1558), Cranganor (1600), Malacca (1557). Macao (1575) lo cho vùng Viễn Đông, Funai lo cho Nhật Bản và Mozambique lo phía Châu Phi.

Ngươì Tây Ban Nha với các tu sĩ Augustinô, Phansinh (1577), Dòng Tên (1581), Dòng Đa Minh (1587) cũng lên đường sang hoạt động ở Châu Á. Năm 1614 Dòng Đa Minh đã thiết lập Đại Học Thánh Tôma tại Manila, nổi tiếng cho đến tận ngày nay.

Việc hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đi đầu trong cuộc thám hiểm đã mở đường cho biết bao nhiêu khám phá tiếp theo. Hai nước đã có những cống hiến phi thường cho “sự nghiệp mở cửa thế giới”, “toàn cầu hóa thế giới đợt một”; khám phá những vùng đất mới, những dân tộc mới, những tài nguyên mới, những tôn giáo mới… và một hình ảnh mới về hành tinh.

Bên cạnh những điều thuận lợi tốt đẹp như việc phát triển ngành hàng hải, giao lưu kinh tế, tiến bộ kỹ thuật, khoa học… những khám phá trên cũng mở đường cho bao tai hoạ qua tham vọng bành trướng, chủ nghĩa thực dân đế quốc, những cuộc chiến tranh huỷ diệt, chế độ nô lệ tàn khốc, kỳ thị văn hoá, tôn giáo v.v.

Riêng với đạo Công Giáo đây là khởi điểm cho một phong trào truyền giáo trên khắp thế giới. Qua con đường hàng hải trên Biển Đông mà Tin Mừng đã đến với cha ông chúng ta tại Việt Nam.

Ngày nay những phát hiện mới, những biên cương mới vẫn tiếp tục trên thế giới, vd.: Xa lộ thông tin, khám phá vũ trụ, tiến bộ khoa học… Điều tốt và việc xấu vẫn luôn đồng hành. Gạn đục, khơi trong; chọn điều tốt, loại điều xấu luôn đòi hỏi chúng ta nhiều nỗ lực. Lịch sử là một thầy dạy tốt. Đọc và học những kinh nghiệm quá khứ để áp dụng vào cuộc sống hiện tại vẫn còn rất cần thiết.

Tài liệu tham khảo

  • PIERRE-YVES MANGUIN: Les Portugais sur les côtes du Viet-Nam et du Champa, École française d’Extrême-Orient, Paris 1972, tr.1–49.
  • MỘT GIÁO SƯ SỬ HỌC: Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam, cuốn 1, từ tr.39–45.
  • ROBERT LANGUE S.J.: La première épopée missionnaire, Revue Mission de l’Église no.102, tr.34–42.
  • NGUYỄN VĂN TRINH: Lịch sử Giáo Hội Việt Nam, Đại Chủng viện Thánh Giuse, Tập 1, 1994, tr.46 tt.

Xem online : LM Antôn Nguyễn Trường Thăng