Menu
Mục lục

Trang nhà > Tin học > Bảo tàng > Máy tính điện tử thế hệ 2

Second generation electronic computers

Máy tính điện tử thế hệ 2

Thứ Ba 14, Tháng Giêng 2020

Lịch sử cho thấy những thế hệ đầu tiên của máy tính điện tử đều rất ngắn ngủi. Hiểu theo cách tích cực thì nghĩa là công nghệ điện tử phát triển quá nhanh.

Năm 1951, Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ (U.S. Census Bureau) đã chính thức sử dụng UNIVAC 1, máy tính kỹ thuật số điện tử được sản xuất thương mại đầu tiên trên thế giới. UNIVAC là viết tắt của “Universal Automatic Computer”, nghĩa là "Máy tính Tự động Phổ dụng". UNIVAC 1 được thiết kế chủ yếu bởi J. Presper Eckert và John Mauchly, những người đã từng phát minh ra máy tính ENIAC.

UNIVAC 1 nặng 7,2 tấn, sử dụng 5.000 ống chân không, và có thể thực hiện được khoảng 1.000 phép tính mỗi giây. Nó bỗng trở nên nổi tiếng khắp cả nước vào ngày 4/11/1952, vì chỉ mới biết được một tỷ lệ nhỏ phiếu bầu mà đã dự đoán chính xác chiến thắng áp đảo vô cùng bất ngờ của Dwight D. Eisenhower trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ.

Nhưng vài năm sau UNIVAC 1 và thế hệ máy tính điện tử đầu tiên đã phải nhường chỗ cho thế hệ thứ 2 sử dụng bóng bán dẫn tin cậy hơn ống chân không. Trong thế hệ này, hơn 100 ngôn ngữ lập trình đã được phát triển, đồng thời các bộ nhớ và hệ điều hành đã được chế tạo và định hình. Phương tiện lưu trữ bên ngoài như trống từ, băng từ và đĩa từ đã được sử dụng, cũng như máy in cho kết quả ở đầu ra.

Tại Anh, nhóm Tom Kilburn (ảnh trên cùng) vẫn tiếp tục nghiên cứu sau khi chế tạo máy tính Manchester giúp cho nhóm Alan Turing giải được các điện mật của phát xít Đức. Chiếc máy 48 bit mà họ làm ra vào tháng 11/1953 được coi là máy tính bán dẫn đầu tiên trên thế giới, với 550 điốt và 92 transistor. Tiếp theo, phiên bản cải tiến được hoàn thành vào tháng 4/1955 có 1.300 điốt và 200 transistor đã được bán dưới cái tên Metrovick 950.

Nhưng còn phải đợi đến khi các máy tính thuộc dòng IBM 650 và 700 của công ty IBM (International Business Machines) xuất hiện thì các máy tính sử dụng bóng bán dẫn mới thật sự tạo ra được dấu ấn quan trọng trong thế giới tin học.

IBM 650

IBM 650 cỏ tên là "Magnetic Drum Data-Processing Machine" (Máy xử lý dữ liệu dùng trống từ tính). Đó là một trong những máy tính đầu tiên của công ty IBM. Chiếc thứ nhất được lắp đặt vào cuối năm 1954 và trở thành máy tính phổ biến nhất trong 5 năm tiếp theo, được gọi là “chiến mã của IBM”. IBM 650 được công bố vào năm 1953, nó đọc dữ liệu từ bìa đục lỗ với tốc độ 200 bìa/phút hoặc bằng tay của nhà điều hành thao tác trên các công-tắc của bảng điều khiển.

Máy tính bán dẫn IBM 650

Trống từ được xem là câu trả lời cho các vấn đề về tốc độ và lưu trữ. Dữ liệu và các chỉ thị được lưu trữ dưới dạng các điểm từ hóa trên bề mặt của một chiếc trống có đường kính 4 inch và dài 16 inch, quay được 12.500 lần trong mỗi phút. Bộ nhớ trống có thể chứa 20.000 chữ số tại 2.000 "địa chỉ" riêng biệt. Kết quả tính toán được tạo ra trên các bìa đục lỗ với tốc độ tối đa 100 bìa/phút.

Bất cứ khi nào xảy ra một lỗi ngẫu nhiên, IBM 650 có thể tự động lặp lại các phần của quá trình xử lý bằng cách khởi động lại chương trình tại một trong số các điểm ngắt và sau đó tiếp tục hoàn tất quá trình xử lý nếu lỗi không xảy ra. Đó là một cải tiến lớn so với quy trình trước đó vốn yêu cầu người dùng phải can thiệp thủ công để máy tính lặp lại quy trình.

Đến năm 1956 thì IBM 650 được cải tiến thành IBM 650 RAMAC với việc bổ sung tới bốn đơn vị lưu trữ bằng đĩa cứng. Tổng cộng trước sau những máy này đã được IBM bán với số lượng hàng nghìn chiếc và chỉ dừng sản xuất vào năm 1962.

NCCong


Xem online : Máy tính điện tử thế hệ I