Đông Tác

giao lưu với NCCông

Home > Lịch sử > Trung đại > Tại sao 536 là năm sống khổ nhất

Ann Gibbons, Tạp chí Science

Tại sao 536 là năm sống khổ nhất

Friday 19 June 2020, by Cong_Chi_Nguyen

Ảnh: cột băng sâu 72m được khoan trong con sông băng Colle Gnifetti ở vùng núi Alps của Thụy Sĩ là bằng chứng xuyên suốt 2000 năm qua về dấu vết ô nhiễm do mưa bụi từ núi lửa, gió bão và con người. Những lát cắt từ cột băng nắm giữ manh mối hóa học cho các sự kiện tự nhiên và nhân tạo (NICOLE SPAULDING/CCI FROM C. P. LOVELUCK ET AL., ANTIQUITY 10.15184, 4, 2018)

Khảo cổ và lịch sử

Hỏi nhà sử học thời trung cổ Michael McCormick “Năm nào là khổ nhất của nhân loại” và nhận được câu trả lời: "536". Không phải năm 1349, khi “Cái chết đen” quét sạch một nửa châu Âu. Không phải 1918, khi cúm đã giết chết gần 100 triệu người, chủ yếu là thanh niên. Mà là năm 536. Ở châu Âu. "Đó là năm đầu của một trong những thời kỳ khổ nhất để sống, nếu không phải là năm khổ nhất", McCormick, người chủ trì Initiative for the Science of the Human Past (Sáng kiến ​​Khoa học về Quá khứ Nhân loại) của Đại học Harvard nói.

Một màn sương mù bí ẩn đã nhấn chìm châu Âu, Trung Đông và nhiều phần của châu Á vào bóng tối, cả ngày lẫn đêm trong 18 tháng. "Suốt năm, mặt trời phát ra ánh sáng mờ mờ như mặt trăng," nhà sử học Procopius ở xứ Byzantine viết. Nhiệt độ mùa hè năm 536 giảm xuống khoảng từ 1,5°C đến 2,5°C, khởi đầu thập niên lạnh nhất trong 2300 năm qua. Tuyết rơi vào hè năm đó ở Trung Quốc; rồi xảy ra mất mùa, chết đói. Biên niên sử Ailen ghi lại "sự thiếu thốn bánh mì từ những năm 536—539". Sau đó, vào năm 541, bệnh dịch hạch đã tấn công cảng Pelusium của người La Mã ở Ai Cập. McCormick nói, cái gọi là “Bệnh dịch hạch Justin” đã lan rộng nhanh chóng, quét sạch từ khoảng một phần ba đến một nửa dân số của Đế chế Đông La Mã và đẩy nhanh sự sụp đổ của nó.

Phương pháp nghiên cứu

Các nhà sử học từ lâu đã biết khoảng giữa thế kỷ VI là một giai đoạn đen tối trong cái gọi là Đêm trường Trung cổ (Dark Ages: Thời đại đen tối), nhưng nguồn gốc của những đám mây mù bí ẩn từ lâu vẫn là một câu đố. Giờ đây, một phân tích cực kỳ chính xác về cột băng từ sông băng Thụy Sĩ của một nhóm do McCormick và nhà nghiên cứu về sông băng Paul Mayewski tại Viện biến đổi khí hậu của Đại học Maine (UM) ở Orono đã chỉ ra thủ phạm. Trong cuộc hội thảo tại Harvard tuần này, nhóm nghiên cứu đã báo cáo rằng một vụ phun trào núi lửa thảm khốc tại Iceland đã phun đầy tro bụi ở Bắc bán cầu vào đầu năm 536. Hai vụ phun trào lớn tiếp theo đã xảy ra năm 540 và 547. Sau đó có sự đình trệ kinh tế kéo dài đến tận năm 640, khi một tín hiệu khác từ cột băng thông báo có bụi chì tăng đột biến trong không trung, đánh dấu sự hồi sinh của hoạt động khai thác bạc, như nhóm nghiên cứu đã báo cáo trong tạp chí Antiquity tuần này.

Đối với Kyle Harper, một nhà sử học thời Trung cổ và La Mã tại Đại học Oklahoma ở Norman, nhật ký chi tiết về các thảm họa thiên nhiên và ô nhiễm bởi con người được đông lại trong băng đã "cho chúng ta một bản ghi mới để hiểu về sự kết hợp giữa con người và nguyên nhân tự nhiên đã dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế La Mã, và sự khuấy động sớm nhất của nền kinh tế mới ra đời ở thời Trung cổ này. "

Kể từ hồi những năm 1990 khi có nghiên cứu về các vòng vân gỗ trong thân cây cho thấy mùa hè vào khoảng năm 540 lạnh bất thường, các nhà khoa học liền săn lùng nguyên nhân. Ba năm trước, các cột băng được khoan dò ở Greenland và Nam Cực đã mang lại một manh mối. Khi một ngọn núi lửa phun trào, nó phun lưu huỳnh, bismuth và các chất khác vào khí quyển, nơi chúng tạo thành một tấm màn che khí dung hắt ngược ánh sáng mặt trời vào vũ trụ và làm mát hành tinh. Bằng cách kết hợp nhật ký trong băng của những dấu vết hóa học này với hồ sơ về khí hậu ghi lại trong vân gỗ, một nhóm do Michael Sigl, hiện thuộc Đại học Bern, phát hiện ra rằng gần như mọi mùa hè lạnh bất thường trong 2500 năm qua đều xảy ra sau một vụ phun trào núi lửa. Một đợt phun trào ồ ạt được nhóm nghiên cứu cho là đã xảy ra có lẽ ở Bắc Mỹ vào cuối năm 535 hoặc đầu năm 536; và một đợt khác tiếp theo vào năm 540. Đội của Sigl kết luận rằng cú trào kép này giải thích được thời kỳ bóng tối và giá lạnh kéo dài.

Mayewski và nhóm nghiên cứu liên ngành của mình đã quyết định tìm kiếm những vụ phun trào tương tự trong cột băng được khoan vào năm 2013 tại Colle Gnifetti Glacier trên dãy núi Alps của Thụy Sĩ. Cột băng dài 72m đã chôn bụi bặm suốt 2000 năm từ núi lửa, bão cát Sahara và các hoạt động của con người rơi xuống trung tâm châu Âu. Nhóm nghiên cứu đã giải mã được nhật ký này bằng một phương pháp mới với độ phân giải cực cao, trong đó dùng tia laser cắt ra những lát băng mỏng 120 micron, đại diện cho một vài ngày hoặc vài tuần tuyết rơi, dọc theo chiều dài của cột băng. Mỗi lát mẫu —trong số khoảng 50.000 mẫu có từ mỗi mét của cột băng— đã được phân tích ra khoảng một chục thành tố. Nhà nghiên cứu núi lửa Andrei Kurbatov nói: Phương pháp tiếp cận này cho phép nhóm nghiên cứu xác định các cơn bão, phun trào núi lửa và ô nhiễm bụi chì chi tiết đến từng tháng hoặc thậm chí ít hơn, trong suốt 2000 năm qua.

Lịch trình sự kiện

  • 536: Núi lửa Arlington phun trào, làm mờ mặt trời trong 18 tháng. Nhiệt độ mùa hè giảm từ 1,5°C đến 2,5°C.
  • 536—545: Thập kỷ lạnh nhất được ghi nhận trong 2000 năm. Các mùa vụ cây trồng bị thất thu ở Ireland, Scandinavia, Mesopotamia và Trung Quốc.
  • 540—541: Lần phun trào núi lửa thứ hai. Nhiệt độ mùa hè giảm một lần nữa từ 1,4°C đến 2,7°C ở châu Âu.
  • 541—543: Bệnh dịch hạch Justin lan truyền qua Địa Trung Hải, giết chết 35—55% dân số và đẩy nhanh sự sụp đổ của Đế quốc Đông La Mã.
  • 640: Sau khi giảm vào giữa những năm 500, sự gia tăng của bụi chì báo hiệu sự gia tăng khai thác bạc vì kinh tế phục hồi.
  • 660: Đỉnh cao thứ hai phản ánh sự gia tăng khai thác bạc, có lẽ tại Melle, Pháp, gắn liền với việc chuyển từ dùng vàng sang bạc cho tiền xu và sự khởi đầu của nên kinh tê thời trung cổ.

Phát hiện khoa học

Trong mẫu băng từ mùa xuân năm 536, Laura Hartman, sinh viên tốt nghiệp ĐH Maine, đã tìm thấy hai hạt thủy tinh siêu nhỏ do núi lửa phun ra. Bằng cách bắn phá các mẫu bằng tia X để xác định dấu vết hóa học của chúng, cô và Kurbatov phát hiện ra rằng chúng khớp với các hạt thủy tinh được tìm thấy trước đó trong các hồ và đầm lầy than bùn ở châu Âu và trong cột băng Greenland. Những hạt đó lại cũng giống như đá núi lửa từ Iceland. Sự tương đồng đã thuyết phục nhà địa chất học David Lowe của Đại học Waikato ở Hamilton, New Zealand, người nói rằng các hạt trong cột băng Thụy Sĩ có khả năng đến từ cùng một ngọn núi lửa ở Iceland. Nhưng Sigl nói rằng cần có thêm bằng chứng để thuyết phục ông rằng vụ phun trào là ở Iceland chứ không phải Bắc Mỹ.

Dù bằng cách nào, gió và hệ thống thời tiết năm 536 phải ăn khớp để dẫn đường cho mây bụi bay về phía đông nam trên khắp châu Âu và sau đó bay vào châu Á, tạo ra một khối lạnh lẽo khi mây mù núi lửa "lăn vòng", Kurbatov nói. Bước tiếp theo là cố gắng tìm thêm các hạt từ ngọn núi lửa này trong các hồ ở châu Âu và Iceland, nhằm để xác nhận vị trí của nó ở Iceland và làm rõ tại sao nó lại tàn phá đến vậy.

Một thế kỷ sau, sau nhiều lần phun trào, nhật ký băng thông báo một tin tốt hơn: sự tăng vọt của chì vào năm 640. Bạc được nung chảy từ quặng chì, do đó chì là một dấu hiệu cho thấy nhu cầu về bạc đã tăng lên trong nền kinh tế được phục hồi sau chuỗi thiên tai của thế kỷ trước, nhà khảo cổ học Christopher Loveluck thuộc ĐH Nottingham ở Anh cho biết. Đỉnh cao thứ hai vào năm 660 đánh dấu một lượng lớn bạc được đưa vào nền kinh tế mới nổi thời Trung cổ. Nó cho thấy vàng đã trở nên khan hiếm khi thương mại tăng lên, buộc phải chuyển sang dùng bạc làm tiêu chuẩn tiền tệ, Loveluck và các đồng nghiệp của ông viết trong Tạp chí Antiquity. "Nó cho thấy lần đầu tiên có sự gia tăng của tầng lớp thương gia," ông nói.

Tiếp sau đó, mẫu băng là cửa sổ nhìn vào một thời kỳ đen tối khác. Bụi chì biến mất khỏi không trung trong “Cái chết đen” từ năm 1349 đến năm 1353, cho thấy nền kinh tế đã một lần nữa bị dừng lại. "Chúng tôi đã bước vào một kỷ nguyên mới với khả năng tích hợp các nhật ký môi trường có độ phân giải cực cao với các hồ sơ lịch sử có độ phân giải cao tương tự," Loveluck nói. "Đó là một kẻ thay đổi trò chơi thực sự."

Đăng trong tạp chí Khảo cổ học
doi: 10.1126 / Science.aaw0632


View online : Source


Biên dịch: NCCong