Menu

Trang nhà > Quan niệm > Đối thoại > "CHÚNG TA TIN Ở CHÚA" (kỳ 2)

"CHÚNG TA TIN Ở CHÚA" (kỳ 2)

Thứ Sáu 10, Tháng Tám 2007

Tất cả những điều trình bày ở kỳ trước chứng tỏ rằng: trật tự thế tục của xã hội Mỹ được đặt trên nền tảng của bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1776, trong đó có nói tới Tạo Hóa nhưng đó là Tạo Hóa Thiên Nhiên chứ tuyệt đối không có nghĩa là Thượng Đế của Ki-tô giáo.

Mặt trước của tờ One Dollar là hình vị tổng thống tiên khởi George Washington. Ông không thuộc một đảng hoặc một giáo phái nào. Khi ông lãnh đạo nước Mỹ dành độc lập từ tay người Anh thì ông là thủ lãnh của Hội Tam Điểm Mỹ (trụ sở đặt tại Alexandria thuộc tiểu bang Virginia). Mặc dầu lúc đầu lập quốc, tuyệt đại đa số dân chúng Mỹ theo đạo Tin Lành nhưng đạo này đã không thể trở thành quốc giáo. Cũng như trong hơn hai thế kỷ qua, hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa luân phiên nhau lãnh đạo nước Mỹ nhưng không một đảng nào có thể đi tới độc tài. Đó là nhờ Hội Tam Điểm có những bậc minh triết (giấu mặt) điều khiển nước Mỹ như một siêu chính phủ (Super-government).

Hội Tam Điểm (Freemasonry) là một hội huynh đệ (fraternal order) lâu đời nhất và lớn nhất thế giới. Hội này xuất phát từ những nghiệp đoàn các thợ xây đá (unions of stone masons) là những người thợ nề chuyên xây các đại thánh đường và các dinh thự lâu đài khắp Âu châu trong thời Trung cổ. Ngày xưa, họ đã đem hết tài năng trí tuệ để dựng nên những thánh đường vĩ đại và những dinh thự nguy nga tráng lệ. Ngày nay họ quyết tâm xây dựng những giá trị luân lý và đạo đức ở tầm mức cao nhất. Họ là những người thấu triệt các thủ đoạn nham hiểm và các tội ác kinh khủng của Giáo hội Công giáo và những chế độ chính trị phi nhân bản. Ngày nay họ quyết tâm xây dựng một Trật Tự Thế Tục Mới (NOVUS ORDO SECLORUM). Những hội viên Tam Điểm được tự do di chuyển khắp nơi trên thế giới (to travel freely), do đó chữ FREE được dùng làm tiếp đầu ngữ trước chữ MASON để trở thành FREE MASON (Hội viên Tam Điểm).

Hội được thành lập vào thế kỷ XVI với quy định đầu tiên là chỉ thu nhận những người thợ xây đá (stone mason). Từ đầu thế kỷ XVII, hội thu nhận những người ưu tú xuất sắc trong xã hội, không phân biệt quốc tịch và nghề nghiệp. Hội chú trọng huấn luyện hội viên về triết lý đạo đức (moral philosophy) hơn là về kỹ thuật. Hội xác nhận không phải là một tôn giáo và không thuộc tôn giáo nào. Hội xác nhận Công giáo là thù địch.

Theo đặc san “Avoice Crying In The Wilderness” số 2 của Tu viện Thánh Gia thuộc Giáo Phận New York (4425 Sneider Road, Fillmore NY14735) thì các thủ lãnh Tam Điểm đã vạch ra đường lối để tiêu diệt giáo hội Công giáo từ năm 1819 (P. 43).

Phần lớn các tổng thống Mỹ từ trước đến nay là hội viên Tam Điểm. Phần lớn các nhà lập quốc ký tên trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền đều là Hội Viên Tam Điểm.

Thiên tài âm nhạc Áo quốc Mozart (1756-1791) cũng là hội viên Tam Điểm, đã sáng tác bản đại nhạc kịch Tiếng Sáo Thần (The Magic Flute) mô tả nữ thần của màn đêm – tượng trưng cho các thế lực đen tối của tội ác – sẽ bị đánh bại và biến mất trên thế gian. Sau đó, hoàng tử của Công lý sẽ xuất hiện để báo hiệu sự hình thành của một Trật Tự Thế Tục Mới (Novus ordo seclorum).

Cũng theo đặc san của Tu Viện Thánh Gia New York thì giáo hoàng Gioan XXIII, Giáo hoàng Paul VI và giáo hoàng John Paul II đều là những người của Tam Điểm cài vào để phá giáo hội Công giáo.

Ngày 25/9/59, Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập cộng đồng Vatican II để khởi đầu cuộc hủy diệt hoàn toàn giáo hội Công giáo. Từ sau Vatican II, giáo hội chỉ còn cái vẻ bề ngoài đồ sộ, thật sự bên trong đã bị sụp đổ tan hoang vì nạn mất đức tin. Giáo hoàng Paul VI nhiều lần công khai tự nhận là bạn của Tam Điểm. Giáo hoàng John Paul II công khai nhìn nhận thuyết Big Bang, tức đã mặc nhiên phủ nhận việc Chúa dựng nên vũ trụ trong 7 ngày. Ngài công nhận thuyết Darwin tức đã mặc nhiên phủ nhận Adam-Eve là tổ tiên loài người, phủ nhận tội tổ tông và Chúa chẳng còn lý do gì để xuống thế cứu chuộc. Điều quan trọng hơn cả là Giáo hoàng John Paul II phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Đàng và Hỏa Ngục. Như vậy, việc các linh mục nhận tiền xin lễ của giáo dân đã trở thành một chuyện lừa bịp vì làm sao có thể cầu nguyện cho linh hồn thân nhân giáo dân lên thiên đàng khi giáo chủ đã xác nhận thiên đàng không có?

Xét cho kỹ, chúng ta nhận thấy cái công phá đạo của Giáo hoàng Paul II không phải là nhỏ và sự tố giác của Tu Viện Thánh Gia New York (Most Holy Family Monastery) không phải là điều vô căn cứ.

Cái Kim Tự Tháp NOVUS ORDO SECLORUM hiện chưa hoàn thành vì nó chưa có đỉnh. Chúng ta tự hỏi một khi cái kim tự tháp đó hoàn thành thì liệu Vatican có còn không? Câu trả lời khẳng định là KHÔNG!

Có lẽ những người Hồi giáo cực đoan đã hiểu rõ nước Mỹ không có quốc giáo và Đấng Toàn Năng Lý Trí (GOD của Mỹ không phải là Allah). Chính vì vậy mà Osama Bin Laden đã gọi nước Mỹ là “vô thần”. Thật sự, Hoa Kỳ là một nước Cộng Hòa đầu tiên trên thế giới thế tục hóa. Sự thế tục hóa được thể hiện bằng những điều khoản phân định rõ rệt giữa thần quyền tôn giáo và thế quyền chính trị trong hiến pháp. Sự thế tục hóa là một nỗ lực của giới lãnh đạo Hoa Kỳ chủ yếu nhằm chống lại những áp lực của Ki-tô giáo. Do đó, “God” trong phương châm “In God We Trust” dứt khoát không phải là “Christian God” tức Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki-tô.

Giáo lý Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki-tô chẳng những là một quái thai tư tưởng, một quái vật ba đầu (gồm có đầu bò El, đầu người Jesus và đầu chim bồ câu) mà còn là một thứ Thiên Chúa loạn luân mất nết. Trong cuốn sách “Chứng Nhân Hy Vọng”, trang 293, tác giả là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết: “Là nữ tử của Thiên Chúa Cha, Đức Mẹ Maria trở thành mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể và hiền thê của Chúa Thánh Thần”.

Chúng ta đã biết giáo lý Ki-tô giáo dạy rằng cả ba ngôi Thiên Chúa là một Đức Chúa Trời. Như vậy, Đức Mẹ Maria cùng một lúc vừa là nữ tử vừa là hiền thê của một Thiên Chúa. Rõ ràng là Thiên Chúa Cha đã làm cho nữ tử kiêm hiền thê mang bầu vào lúc nàng 16 tuổi để đẻ ra Chúa Con là Jesus! Tính chất loạn luân của Thiên Chúa Ba Ngôi là điều không thể chối cãi được. Thượng Đế Lý Trí (God of Reason) của những bậc đại trí như John Locke, Voltaire, J.J. Rousseau, Jefferson, Thomas Paine, Washington... hiển nhiên không phải là thứ Thiên Chúa quái thai loạn luân bệnh hoạn mà Nguyễn Văn Thuận tôn thờ. God trong châm ngôn IN GOD WE TRUST cũng dứt khoát không phải là Thiên Chúa của Ki-tô giáo bao gồm Công giáo và các giáo phái Tin Lành. God trong châm ngôn của Mỹ tương tự như quan niệm về ĐẠO của Lão Tử hoặc quan niệm về Thượng Đế của Spinoza (1631-1677). Học giả Stephen Mitchell viết về Thượng Đế của Spinoza như sau: “Thượng Đế là tổng thể của mọi vật hiện hữu trong thời gian và không gian hoặc như chúng ta có thể nói tại Huê Kỳ ngày nay: Đó là Đạo” (God is the totality of all things that exist in time space... or as we might say today in America: The Tao – The Enlightened Minds – page 142).

PHẦN KẾT

Qua tất cả những điều đã trình bày ở trên, chúng ta nhận thấy nền trật tự xã hội thế tục có tính chất biến định đã không cho phép chính phủ Hoa Kỳ hình thành một quốc giáo và mọi hành vi của chính phủ nhằm hỗ trợ cho công cuộc truyền giáo ở nước ngoài đều là bất hợp pháp. Tất cả các giáo hội Tin Lành dù lớn đến đâu thì cũng chỉ là những hiệp hội tư nhân mà thôi.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận rõ một điều là tại Hoa Kỳ có nhiều hiệp hội tư nhân rất giầu và hoạt động rất mạnh. Một số giáo phái Tin Lành tuy hoạt động trong lãnh vực tư nhân nhưng cũng có tham vọng rất lớn. Chẳng hạn như tổ chức Tin Lành TBN, do mục sư Pat Roberson lãnh đạo, có tham vọng dùng hệ thống truyền thanh và truyền hình giảng đạo bằng đủ mọi ngôn ngữ và rộng khắp hoàn cầu trong một kế hoạch mệnh danh là: “Chương trình Thay Đổi Thế Giới” (Programs to Change the World). Từ nhiều năm qua, các hệ thống truyền thanh và truyền hình của tổ chức này đã chủ yếu nhắm vào Trung Quốc và Nhật Bản. Hiện nay, trong 10 tỉnh miền Hoa Nam (Trung Quốc) đã có 16 giáo hội Tin Lành đang hoạt động. Ở Nhật trong mấy thập niên qua đã mọc lên hàng trăm nhà thờ Tin Lành (xin đọc Salvation For Sale của Gerard Thomas Straub – Prometheus Book 1986).

Một số giáo phái Tin Lành khác như Episcopal, nhân chứng Jehovah, Mormon đã đào tạo nhiều mục sư người Việt và đồng thời huấn luyện nhiều nhân viên truyền giáo người Mỹ trẻ tuổi nói thông thạo tiếng Việt. Phải chăng họ đã chuẩn bị cho công cuộc truyền giáo Tin Lành vào Việt Nam trong giai đoạn sắp tới?

Xét về bản chất, Tin Lành cũng như Công giáo đều là những sản phẩm của nền văn hóa du mục Ả Rập, Do Thái. Cả hai cùng thuộc Ki-tô giáo và đều không phù hợp với truyền thống văn hóa của Viễn đông. Thiết tưởng cần xem xét kinh nghiệm của các nước sau:

1/ Bài học sáng giá nhất về việc này có lẽ là bài học Do Thái. Năm 1978, Quốc Hội Do Thái (The Israel Knesset) đã ban hành Luật Cấm Truyền Giáo (Anti-missionary Laws). Theo luật này thì bất cứ ai đến Do Thái truyền đạo Tin Lành sẽ bị tòa án tuyên phạt 5 năm tù và 3200 đô la Mỹ.

2/ Bài học thứ hai ít nghiêm khắc hơn nhưng xét ra cũng rất hữu hiệu. Đó là bài học của Indonesia. Chính phủ Indonesia buộc mọi người ngoại quốc nhập cảnh Indonesia đều phải khai báo về nghề truyền giáo (Missionary). Nếu khai là người truyền giáo thì họ chỉ được sở ngoại vụ cấp phép di trú không quá 6 tháng.

3/ Bài học của Nga có tính cách quyết liệt đối với cả Công giáo lẫn Tin Lành. Tháng 8/1997, Quốc Hội Nga đã biểu quyết luật về Tự Do Tôn Giáo. Theo luật này thì mọi tôn giáo – kể cả đạo Phật, đạo Hồi, đạo Bà-la-môn – đều được tự do truyền đạo và hành đạo. Ngoại trừ Công giáo và Tin Lành bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị cấm hoạt động tại Nga.

̣(Xem kỳ trước)

Charlie Nguyễn


Xem online : Cuộc chiến nào trong Mật mã Da Vinci?