Menu
Xem lẹ

Trang nhà > Lịch sử > Trung đại > Kỷ niệm 1000 năm ngày mất Lê Hoàn

Kỷ niệm 1000 năm ngày mất Lê Hoàn

Thứ Tư 14, Tháng Hai 2007

Năm 2005 là đúng 1000 năm, kể từ ngày mất của vua Lê Ðại Hành (941 - 1005).

Tại Hà Nội đã diễn ra một cuộc Hội thảo khoa học mang tên “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”. Hơn 30 tham luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nhiều độ tuổi đã góp phần làm sáng rõ hơn chân dung một vị vua được coi là có những đóng góp kiệt xuất vào tiến trình lịch sử của đất nước nói chung và công cuộc định đô ở Thăng Long nói riêng. Có thể nhắc đến một vài vấn đề nổi bật có tính chất phát hiện, khẳng định trong Hội thảo này.

Nên gọi “Lê Hoàn” hay “Lê Đại Hành”?

PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội) đã viết: “Gọi thẳng tên cụ là Lê Hoàn e không phải phép mà gọi là Lê Đại Hành thì thật cũng không hay”. Bởi vì Đại Hành không phải là thụy hiệu mà chỉ là cách gọi tạm của các vị vua khi mới qua đời, chưa mai táng trong sơn lăng. Nhà sử học Lê Văn Lan đã có bài viết giải thích vì sao Lê Hoàn phải “dùng tạm” cái tên này đến cả nghìn năm. Ông dẫn giải ý kiến của nhà sử học Lê Văn Hưu về hai nguyên nhân chính: vì “Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) là con bất tiếu, lại không có bề tôi Nho học để giúp đỡ mà bàn về phép đặt thụy hiệu cho nên thành ra là thế!”. Ông phân tích nguyên nhân “Ngọa Triều là con bất tiếu” (bất tiếu: không giống ông cha) có phần chính xác hơn, vì dưới bệ rồng của Lê Hoàn đâu phải không có bề tôi Nho học, ngược lại, nhà vua đã từng có những bậc đại sư như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Thái sư Hồng Hiến...

Như vậy, nói như TS Nguyễn Quang Ngọc thì “nhà vua ra đi dường như rất vội, không kịp mang theo gì cho riêng mình, kể cả thụy hiệu, miếu hiệu để đến nỗi nghìn năm sau các lớp cháu con vẫn nghĩ như ông vừa mới đi xa, vẫn còn đang trong chuyến ’đại hành’”.

Lê Hoàn và những đóng góp cho Đại Cồ Việt

Điều được nhiều tham luận đề cập nhất là vị vua mang tên tạm “Đại Hành” ấy đã có những đóng góp quan trọng về mọi mặt quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa trong suốt 24 năm trị vì. Ông cũng là người đã tạo bối cảnh thuận lợi cho việc định đô ở Thăng Long của triều đại nhà Lý (1010).

Về công lao chống giặc ngoại xâm, nhiều tham luận đề cập tới cuộc kháng chiến chống Tống năm 981. Bên cạnh việc ngợi ca công lao của Lê Hoàn, các nhà khoa học còn đóng góp những ý kiến khác nhau về diễn biến trận chiến. Về ngoại giao, PGS Trần Thị Băng Thanh khẳng định “Lê Hoàn là một nhà ngoại giao tầm cỡ. Ông nhìn nhận rất rõ những vấn đề nào thuộc về nguyên tắc thì không thể nhượng bộ dù chỉ một ly, nhưng điều nào thứ yếu, chỉ là danh hão thì ông hào phóng chấp nhận, biếu cống rất hậu hĩnh. Có thể nghĩ “của nhiều nói ngọt” cũng là một kế sách của Lê Hoàn trong cuộc đấu tranh trên trận tuyến không có gươm khua ngựa hý này”

Về văn hóa, PGS.TS Nguyễn Hải Kế đã đánh giá vai trò quan trọng của Lê Hoàn: “Người tổ chức, phát huy và khơi mở nhiều truyền thống quý báu của văn hóa dân tộc”. Nhà vua đã tạo ra “một thế mới, mẫu mực trong nguyên tắc bang giao với triều đình phương Bắc”, ông cũng là người “bày lệ vui đua thuyền, về sau thành lệ thường”... Một số tham luận khác cũng dẫn chứng, phân tích khẳng định Lê Hoàn là vị vua có tầm văn hóa, có tài dùng người. “Ông thực tin và trọng dụng giới Thiền sư, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với tầng lớp trí thức tinh hoa của đất nước” (Nguyễn Hữu Sơn)... GS. Bùi Duy Tân còn có một nhận định thú vị: Triều đại Lê Hoàn là một triều đại khai sáng văn học dân tộc bằng hai kiệt tác thi ca: Nam Quốc Sơn Hà và Quốc Tộ. Ông cho rằng Nam Quốc Sơn Hà không phải là tác phẩm của Lý Thường Kiệt, nó xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Tống của Lê Hoàn. Nếu như Nam Quốc Sơn Hà là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc thì Quốc Tộ (vận nước) là Tuyên ngôn Hòa bình đầu tiên của nước ta. Hai kiệt tác này được sinh ra dưới thời đại của vị vua tài năng Lê Hoàn.

Vai trò của Lê Hoàn với công cuộc định đô ở Thăng Long

Bên cạnh nội dung đánh giá công lao của Lê Đại Hành trên nhiều lĩnh vực, các nhà khoa học cũng khẳng định vai trò của ông đối với công cuộc định đô ở Thăng Long của nhà Lý. PGS Nguyễn Hải Kế qua nghiên cứu các vùng đất và danh hiệu Lê Hoàn phong cho các con và một loạt các hoạt động khác về chính trị, quân sự, kinh tế đã chỉ ra sự quan tâm đặc biệt của nhà vua đến vùng trung tâm châu thổ sông Hồng. Đây là sự “chuẩn bị địa bàn trực tiếp để hơn 10 năm sau đó Lý Công Uẩn có thể ung dung quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La”. Dưới cái nhìn của khảo cổ học, TS. Tống Trung Tín lại góp cho hội thảo một nhận định xác đáng về đóng góp này của Lê Hoàn. Ông cho rằng “Nghệ thuật Hoa Lư thời Đinh-Lê đã tạo những tiền đề vững chắc cho sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật Lý nói riêng, Đại Việt nói chung ở Thăng Long” và dẫn chứng “tại di tích 18 Hoàng Diệu, các nhà khảo cổ đã tìm thấy gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, ngói có tượng uyên ương, gạch hoa sen và các loại gốm thế kỷ thứ X”...

Trong một thời gian không dài, các nhà khoa học, nghiên cứu, trong đó có rất nhiều bạn trẻ của trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) đã cố gắng khắc họa sinh động, nhiều chiều về người anh hùng dân tộc Lê Hoàn. Đây là một cách tưởng nhớ công ơn của thế hệ cháu con đối với bậc tiền nhân. Sau hội thảo, Ban tổ chức sẽ biên tập các tham luận và in thành sách.

Di tích Lê Hoàn ở Hà Nội

Trong tổng số gần 2000 di tích của Thủ đô, đã tìm được 3 di tích nằm gần nhau, dọc theo sông Nhuệ - địa bàn hoạt động của Lê Hoàn.

Ðình Phú Diễn

Ðình Phú Diễn (thôn Phú Diễn, xã Hữu Hoà, huyện Thanh Trì) nằm sát bờ sông Nhuệ. Là một làng cổ lâu đời, trong quá trình tồn tại, mảnh đất này gắn bó với nhiều sự kiện lịch sử của dân tộc, mà dấu ấn còn in đậm và lưu truyền mãi trong truyền thuyết dân gian là sự kiện vua Lê Ðại Hành trên đường hành quân lên phía Bắc chống giặc đã dừng chân săn bắn, để rồi có một thời gian dài, làng mang tên “Ðại Hành” và dân làng thờ ông làm thành hoàng ở chốn đình chung ngàn năm hương khói.

Di tích có quy mô không lớn nhưng bảo lưu được lối kết cấu kiến trúc và nghệ thuật truyền thống: đình có mặt bằng kiến trúc hình chữ “đinh” gồm nhà đại bái và hậu cung; toàn bộ khung nhà được làm bằng gỗ với các bộ vì bốn hàng chân, vì nóc theo kiểu “chồng rường giá chiêng”. Trên bề mặt các thành rường phủ kín các hoa văn thực vật, vân mây, sóng nước, tứ linh, tứ quý. Các hoạ tiết trang trí này làm bằng kỹ thuật chạm nổi và chạm bong kênh. Bên cạnh khối kiến trúc nghệ thuật có giá trị cần được bảo tồn ấy là bộ di vật văn hoá lịch sử khá phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại của thời Lê Trung Hưng còn lưu lại: 6 pho tượng thú bằng đá, kiệu thờ, hạc gỗ và những sản phẩm văn hoá vật chất thời Nguyễn như hương án, long ngai, bia đá, sắc phong... Ngoài giá trị lịch sử, các di vật này còn được chạm khắc tinh xảo, mang giá trị nghệ thuật cao và là những cổ vật quý trong kho tàng di sản văn hoá nước nhà. Ðặc biệt ở đây hiện còn bảo lưu được cuốn sách cổ “Phú Diễn Lê Ðế phả lục” do quan Hàn lâm Ðông các Ðại học sỹ Nguyễn Bính soạn.

Ðình Hoa Xá và lầu Minh Ngự

Hai di tích này nằm kề bên nhau, phía tả sông Nhuệ, ở thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì. Ðây chính là nơi Lê Hoàn dừng binh để lấy quân lương, là mảnh đất chôn nhau cắt rốn của Bà chúa Tó (Bà chúa Hến) - người con gái đã vận động nhân dân vùng Hữu Thanh Oai đóng thuyền, vùng Tả Thanh Oai góp lương thực cho quân Lê Hoàn đánh trận, còn bản thân mình làm ra loại bánh dùng làm lương khô cho quân lính (đó chính là loại bánh chè lam, đặc sản trong ngày hội làng). Bà được vua phong thứ phi, lúc bà mất, dân làng hằng năm đều đặn cúng giỗ, nơi ở cũ của bà dựng lầu Minh Ngự, nhà cung phi sửa thành miếu điện. Từ đó, miếu - đình Hoa Xá là nơi phối thờ hai vị, đời đời linh thiêng giúp cho dân làng.

Ðình Hoa Xá có quy mô khá lớn, bao gồm các bộ phận kiến trúc: giếng đình - sân - Nghi môn ngoại - sân - Nghi môn nội - sân - hai dãy tảo mạc - đình chính và khu vườn rộng. Phía sau Nghi môn nội là đôi ngựa đá của Ngô Thì Nhậm cung tiến vào đình từ năm 1798. Lầu Minh Ngự thì có quy mô không lớn, nhưng liên quan chặt chẽ đến đình Hoa Xá. Cũng như đình Phú Diễn, đình Hoa Xá và lầu Minh Ngự được làm theo lối kiến trúc truyền thống, hiện còn một số mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 và lưu giữ được rất nhiều cổ vật quý: 16 đạo sắc phong thần của các triều đại phong kiến Lê - Tây Sơn và Nguyễn phong tặng cho phu nhân Ðô Hồ; câu đối, bài thơ ca ngợi công đức của hai vị thành hoàng, đặc biệt còn bút tích để lại của Ngô Thì Nhậm trong bài “Cung tiến ngựa đá” cuối thế kỷ 18; tượng phu nhân Ðô Hồ; những tấm bia đá; những bộ kiệu đòn, kiệu bát cống thế kỷ 18...

Cả ba chốn thanh cao kia đều là những di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật trong kho tàng di sản văn hoá của quốc gia. Ðình Phú Diễn đã được Bộ VHTT xếp hạng năm 1992, còn đình Hoa Xá và lầu Minh Ngự chỉ sau đó chưa đầy 2 năm.

KTĐT, HNMĐT


Xem online : Lê Hoàn