Menu

Trang nhà > Thủ đô > Nhân vật > Lê Thánh Tông (1442-1497)

Lê Thánh Tông (1442-1497)

Thứ Bảy 10, Tháng Ba 2007

Lê Thánh Tông là vị vua phục hưng mở đầu giai đoạn cường thịnh chính trị, văn hoá của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15. Đến tận thời nhà Nguyễn, ông vẫn còn được triều đình lập miếu thờ riêng và phối thờ ở miếu Lịch Đại Đế Vương.

Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn là một cây bút tài hoa, các tác phẩm lưu lại rất phong phú, vừa thơ, vừa văn, vừa Hán, vừa Nôm: Lê Thánh Tông thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Thiên Nam dư hạ tập, Xuân Vân thi tập, Cổ tân bách vịnh, Quỳnh uyển cửu ca, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ súy, Châu cơ thăng thưởng, Sĩ hoạn châm qui, Hồng Đức thiện chính thư, Chinh Tây kỷ hành, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn...

Lê Thánh Tông vốn tên Tư Thành, con thứ tư của vua Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Ông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại nhà ngoại ở khu đất chùa Huy Văn, thuộc Hà Nội ngày nay.

Nhờ sự ủng hộ của nhóm đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt..., hoàng tử Tư Thành năm 19 tuổi (1460) đã bước lên ngai vàng giữa lúc triều chính nhà Lê đang lục đục mâu thuẫn. Một năm sau, khi trách lỗi các cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị vua trẻ tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua".

Lên nắm chính quyền, Lê Thánh Tông nhanh chóng chấm dứt tình trạng phe phái trong cung đình, khẩn trương tổ chức xây dựng đất nước với một tinh thần cải cách mạnh mẽ, táo bạo. Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Lợi từ 5 đạo đổi thành 12 đạo (tức 12 thừa tuyên).

Bản đồ thành Đông Đô thời Hồng Đức

Lê Thánh Tông đặc biệt chú ý các biện pháp phát triển kinh tế, sửa đổi chế độ thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, mở đồn điền, khai khẩn đất hoang. Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển đất nước của Lê Thánh Tông đã được phản ánh khá rõ qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế...

Dưới thời Lê Thánh Tông, lực lượng quốc phòng bảo vệ đất nước được tăng cường hùng hậu. Trước kia, quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao. Chính nhờ vào quân đội hùng mạnh của mình, vua Lê Thánh Tông tiến hành chinh phạt các vương quốc xung quanh, mở mang lãnh thổ và được cống nạp. Năm 1471, ông thân chinh đưa 20 vạn đại binh chia làm 2 đường thủy bộ vượt đèo Hải Vân tiến vào đất Chiêm Thành. Kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành bị thất thủ, vua Chiêm Thành và 7 vạn binh lính Chiêm Thành bị tiêu diệt, nước Chiêm Thành hoàn toàn sụp đổ. Lê Thánh Tông sáp nhập miền Bắc của Chiêm Thành từ đèo Hải Vân (Đà Nẵng) đến đèo Cù Mông (Phú Yên) vào đất Đại Việt và đặt tên là thừa tuyên Quảng Nam, thừa tuyên cuối cùng trong 13 thừa tuyên của Đại Việt. Năm 1479 quân Đại Việt tây tiến qua đường Nghệ An và thu phục tiểu vương quốc Bồn Man, một lãnh thổ gồm miền tây Nghệ An, Thanh Hóa, tỉnh Hủa Phăn (Lào) và tỉnh Sơn La ngày nay. Lê Thánh Tông đã đặt vùng đất mới này là xứ Trấn Ninh.

Bộ luật Hồng Đức là một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của sự nghiệp Lê Thánh Tông và của cả thời đại ông. Sự ra đời của bộ luật Hồng Đức được xem là sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của xã hội Việt Nam hồi thế kỷ 15. Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt vì con Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp luật là phép tắc chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo". Chính ông đã viết "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" và cho sưu tầm lại thơ văn Nguyễn Trãi bị thất lạc sau vụ án "Lệ Chi viên".

Lê Thánh Tông đã có công tạo lập cho thời đại một nền văn hóa với một diện mạo riêng, khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử văn hóa dân tộc. Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, bắt đầu cho dựng bia ghi tên tiến sĩ. Chưa bao giờ nền giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò của trí thức lại được đề cao như đời Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn, Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời tôn ông làm chủ soái.

Lê Thánh Tông đã hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần 40 năm, ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa. Sử gia Ngô Sĩ Liên ca ngợi Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".

Lịch sử ghi nhận triều vua Lê Thánh Tông là thời thịnh trị nhất, đưa đất nước phát triển toàn diện nhất trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam.


Xem online : Việt Nam niên biểu