Menu
Mục lục

Trang nhà > Lịch sử > Hiện đại > MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Kỳ 1: Chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam

Thứ Sáu 16, Tháng Ba 2007

LTS: Cách đây 30 năm, Việt Nam đã từng thiết kế, chế tạo thành công máy vi tính với đầy đủ các bộ phận riêng biệt và rồi đã từng đưa vào ứng dụng. Nghĩa là nó đã được vận hành thực sự trong cuộc sống chứ không phải chỉ tồn tại ở phòng thí nghiệm. Nơi đã làm nên kỳ tích này chính là Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển – nay là Viện Công nghệ Thông tin - vừa kỷ niệm 30 năm thành lập (27/12/1976 – 27/12/2006). Tin học & Đời sống xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc hồi ức về chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam qua loạt bài viết của TS Nguyễn Chí Công – một trong những tác giả của chiếc máy này…

Đồng hoa Liễu Giai và các ụ pháo. Photo ©NCCong 1977

Nhận được điện mời từ Ban Lãnh đạo Viện CNTT, ngày 27-12-2006, tôi về Nghĩa Đô, Hà Nội, dự lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Viện và tham gia một Hội nghị khoa học kéo dài sang tận hôm sau. Thật xúc động được trở lại nơi gắn bó tuổi xanh của mình, gặp gỡ hàn huyên với bạn bè đồng nghiệp khi tóc đã điểm sương! Tiếc rằng các anh chị Trần Thành Trai, Nguyễn Văn Gấm, Ngô Thu Nguyệt... ở xa không về được, còn các anh Nguyễn Thúc Loan, Trần Lợi Chung thì đã khuất bóng. Những người khác hầu như đều có mặt đông đủ: từ lớp tiền bối như các anh Phan Đình Diệu, Nguyễn Ngọc Hoàng, Trịnh Quang Khuynh, Nguyễn Lãm, Nguyễn Liệu, Lê Thiện Phố, Hồ Thuần... đến các kỹ sư, kỹ thuật viên trung cấp, sơ cấp, phụ việc mà tôi vẫn nhớ tên, rồi các thế hệ đến sau, tất cả tay bắt mặt mừng, từng nhóm chuyện trò không muốn dứt.

Trong không khí đầy ắp kỷ niệm, anh Trần Tất Hợp - nay là nhà báo – có đề nghị tôi ghi lại một vài mẩu chuyện xưa. Từ chối chẳng đừng khi hội ngộ, tôi đành nhận lời nhớ đâu kể đấy về “cái thủa ban đầu lưu luyến ấy”, nếu lan man hoặc quên sót mong được bổ sung và lượng thứ. Câu chuyện sau đây khá ly kỳ, có cả một số nhân vật lịch sử của dân tộc cũng tham gia. Riêng Viện cũng ghi được những trang sử của mình gắn cùng đất nước vừa thống nhất sau 30 năm đổ máu rồi bị cấm vận và vướng vào hai cuộc chiến mới. Những ai đã từng sống trong giai đoạn bi tráng ấy thì dễ hiểu vì sao chúng tôi vượt qua được những lúc tối, lúc sáng của số phận.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng với CCSTV: H.V.Regemorter bên phải, Y.Capdeville phát biểu, A.Teissonnière đứng cạnh gương. Photo ©CCSTV 1977 Paris

KHỞI THUỶ

Cuối 1976, Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (sau đây gọi tắt là Viện) ra đời như một trong vài thành viên ban đầu của Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN). Nhân lực của Viện đa số rất trẻ, chủ yếu lấy từ Phòng Máy tính và Ban Điều khiển học, hai đơn vị thuộc UB KH và Kỹ thuật Nhà nước, tiền thân của Bộ Khoa học và Công nghệ. Viện trưởng là TSKH Phan Đình Diệu, 40 tuổi. Phòng Kỹ thuật tính toán của chúng tôi do TS Trần Văn Tiễu phụ trách. Trụ sở Viện ban đầu chung với Viện Cơ học, toạ lạc ở khu ao hồ Liễu Giai, Hà Nội. Nó gồm mấy dãy nhà cấp 4 lợp ngói, xếp thành hình chữ E và một căn hầm chứa máy tính Odra 1304 (minicomputer của Ba Lan) nằm trong lòng “Đồi Thông”, ngụy trang dưới bóng phi lao xanh tốt quanh năm.

Từ “Đồi Thông” nhìn về hướng Nam có Khách sạn La Thành ở phố Đội Cấn, hướng Bắc là rặng xà cừ trên đường Hoàng Hoa Thám, mỗi mùa mưa, cả sân lẫn hai ngõ thông ra những phố đó đều lầy lội, xe đạp rất khó đi. Phía Tây có 4 ụ pháo phòng thủ, xa xa phía Đông là làng hoa Ngọc Hà, nơi một máy bay ném bom B52 của Mỹ bị bắn rơi vào tháng 12-1972. Xung quanh Viện toàn là các vườn quả và ruộng hoa tươi đẹp. Cảnh thơ ấy nay đã phải nhường chỗ cho những ngôi nhà bê tông chen chúc, lởm chởm.

Mở đầu xemina về VXL tại Đồi Thông. Photo ©NCCong 1976

CƠ HỘI LỚN

Mới hoạt động, chúng tôi đã gặp may. Tháng 11-1976, anh Phan Đình Diệu mời được Alain Teissonnière và Hoàng Thành Đào, hai chuyên gia Pháp, sang làm việc. Anh Alain dành nhiều buổi sáng để thuyết trình về Vi xử lý (Microprocessors), một khái niệm ngày ấy còn mới lạ đối với cả thế giới, cho nên có tới 54 người từ 7 Trường, Viện khác nhau tham dự, mặc dù phần lớn chưa tin điều Alain tiên đoán rằng chip vi xử lý là những "viên gạch thông minh" xây nên một công nghệ mới sẽ có mặt khắp nơi, thay cho các máy tính lớn (mainframes) kềnh càng, tốn điện.

Còn các buổi chiều, gần hai chục kỹ sư chúng tôi thực hành làm máy tính với anh Alain tromh 2 căn phòng cấp 4 chật chội. Riêng KS điều khiển học Hoàng Thành Đào làm việc cùng nhóm anh Nguyễn Quang A ở Học viện Kỹ thuật Quân sự. Anh Đào còn gặp tôi nhiều lần trong mấy năm sau, trước khi bị mất sớm vì bạo bệnh. Nhanh chóng thân nhau, tôi học được ở anh tinh thần cần cù và yêu nước của một người con dân tộc Thái. Mong anh dưới suối vàng vui lên vì nền tin học nước ta ngày nay đã tiến xa, một phần cũng do được anh khai phá.

4 gian trái thuộc Viện Cơ học, 3 gian bên phải là Phòng Kỹ thuật tính toán. Photo ©NCCong 1977

HỢP TÁC KHKT PHÁP-VIỆT

Anh Alain là một người đặc biệt thẳng thắn và cởi mở nhưng cũng rất khiêm tốn và giản dị, sau này trở thành Tổng Thư ký UB vì sự Hợp tác KH và KT với Việt Nam (CCSTV – Comité pour la Coopération Scientifique et Technique avec le Vietnam). Anh Diệu cho biết Alain mỗi tuần chỉ lao động 3 ngày cho mình, còn lại 4 ngày dành cho Việt Nam. Alain đã đích thân chuẩn bị giáo trình và chuyến đi vòng vèo qua nẻo Moskva (thủ đô Liên Xô cũ), xa gấp đôi đường bay bây giờ, chưa kể phải bỏ ra hơn hai tháng không lương để làm việc với Viện và gom góp tiền túi mua những vật tư và tài liệu, phần lớn của Mỹ nên ngày ấy vô cùng hiếm, đắt.

Thời bao cấp ở Hà Nội, nhân dân sống cực kỳ khó khăn, ăn mặc giới hạn bởi tem phiếu, điện mất thường xuyên, ai có xe đạp đã là khá giả...; may sao con người nói chung rất tốt và đi đường khó bị tai nạn giao thông... Từ phương Tây đến, Alain lại gặp những nỗi khổ khác. Chỉ nhìn ánh mắt anh đau xót khi mở xem cặp lồng cơm lèo tèo rau, lạc của chúng tôi là đủ hiểu. Khi rời Hà Nội, Alain đã sụt mất 4 cân vì thao thức. Đáng sợ hơn hàng rào ngôn ngữ hoặc điều kiện vệ sinh, lại còn sự thật là rất ít ai dám tiếp chuyện “Tây” ở ngoài cơ quan và khách sạn, như thế khác gì giam lỏng. Thậm chí thấy anh cư xử quá tốt, có kẻ còn nghi ngờ là gián điệp CIA, làm chúng tôi càng khốn khổ, dở khóc dở cười.

Chính Alain đã từng gửi thư đến Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước để tìm cơ quan nào muốn hợp tác tin học và chuyển giao công nghệ vi xử lý vào Việt Nam. Đáp lại thư này là quyết định đồng ý hợp tác và lời mời Alain sang VN cuối năm 1976 của anh Diệu, người đã được tiếp xúc giới tin học Pháp và trúng cử vào Quốc hội CHXHCNVN trong khi vắng mặt ... Rồi sau chuyến công tác đầu tiên tại Hà Nội kéo dài 2 tháng, Alain đã tham dự cuộc gặp lịch sử của CCSTV với Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào cuối tháng 4-1977, mở đường cho sự hợp tác khoa học và kỹ thuật Pháp-Việt.

Alain và phần lớn ace trong nhóm VT80. Photo ©NCCong 1977

MÁY VI TÍNH VT80

Chiếc máy vi tính đầu tiên có nhiệm vụ phát triển các máy khác có sử dụng chip Intel 8080A, vì vậy chúng tôi gọi là FT8080, sau này mới đặt tên VT80. Nó được xây dựng theo thiết kế với kỹ thuật quấn dây điện (wrapping) nối các chân cắm do anh Alain mang sang, vì lúc ấy chưa thể làm được mạch in ở Việt Nam và cũng không được phép hàn trực tiếp vào các vi mạch (microcircuits). VT80 bao gồm bìa CPU, nhiều bìa RAM/ROM và I/O cùng các thứ lỉnh kỉnh từ bảng điều khiển đến vỏ máy, nguồn điện.

Những người xây dựng là Nguyễn Gia Hiểu, Nguyễn Chí Công, Huỳnh Thúc Cước, Nguyễn Trung Đồng, Đặng Văn Đức, Phí Mạnh Lợi, Nghiêm Mỹ, Phạm Quang Oai, Nguyễn Văn Tam, Phan Minh Tân, Đỗ Đình Phú, Trần Bá Thái, Lê Võ Bạch Thông, Nguyễn Chí Thức, Bùi Xuân Vinh (xem ảnh trên). Giá như phòng không chật chội thì còn nhiều anh em nữa cũng được tham gia [1].

Công lao lớn nhất dĩ nhiên là của Alain Teissonnière. Thầy rất vui nhưng khiêm tốn nói rằng thật không ngờ một ê-kíp trẻ măng và chưa có ai từng sang phương Tây học tập mà lại nắm bắt được kỹ thuật đỉnh cao nhanh đến thế...

A.Teissonnière và máy vi tính VT80. Photo ©NCCong 1977

Thời gian nghiên cứu, lắp ráp, thử nghiệm, căn chỉnh đều rất ngắn; điện thì không ổn định, có thể bị cắt bất kỳ lúc nào, chúng tôi lại chưa từng được sờ đến những chip hiện đại như thế, chỉ sợ hỏng do tĩnh điện hoặc sốc điện. Mặt khác, phải thực hiện mấy bìa RAM mới được vỏn vẹn vài kB (!), ngày đó chưa có RAM động mà mỗi chip RAM tĩnh chỉ chứa mấy trăm bit.

Do không có bàn phím và màn hình nên phải nhập liệu từng bit bằng các công tắc Liên Xô và hiển thị bằng các đèn LED. Phần mềm để phát triển cũng chưa có, chúng tôi phải dịch thủ công các trình điều khiển (Monitor), Assembler và Debugger, rồi nạp trực tiếp từng bit trên hàng nghìn diode mắt muỗi và điện trở. Lập trình và sửa lỗi đặc biệt tiêu tốn thời gian vì phải dùng ngôn ngữ Assembly hoặc thậm chí mã máy, lại chẳng có máy in nào giúp cho mắt đọc, tay viết. Tuy nhiên tất cả đám thanh niên vẫn thường xuyên tươi cười, quên đi mọi nhọc nhằn và không hề nghĩ rằng cả hai cái tên tự đặt là Đồi Thông và VT80 sẽ đi vào lịch sử công nghệ thông tin nước ta.

Thời gian vùn vụt trôi và cuối cùng thì mừng ơi là mừng, máy ta chạy được thật. Nghe anh Diệu nói cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng phụ trách KHKT cũng rất quan tâm. Một kế hoạch hợp tác lâu dài lập tức được thoả thuận giữa lãnh đạo Viện và CCSTV, trong đó có việc gửi người đi thực tập kỹ thuật tại Pháp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: Cộng hoà Pháp là cánh cửa duy nhất mở sang phương Tây vào thời ấy, khi Mỹ và các đồng minh vẫn tiếp tục thi hành lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Viện KH Tính toán & Điều khiển nhìn từ đỉnh Đồi Thông. Photo ©NCCong 1977

Một tháng sau, tôi thi đỗ tiếng Pháp, được chọn đi thực tập và nhờ vậy cuối cùng mới biết VT80 không hề kém chiếc máy vi tính của Mỹ đã đi vào lịch sử loài người năm 1975. Đó là máy Altair 8800 hiện đang nằm trong Bảo tàng Lịch sử Máy tính tại California [2]. Sau tôi lại được biết thêm rằng thực ra chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới đã ra đời vào tháng 5-1973 tại Pháp bởi kỹ sư François Gernelle và một doanh nhân gốc Việt là kỹ sư André Trương Trọng Thi, giám đốc công ty R2E.

Rồi chúng tôi bồi hồi lưu luyến tiễn đưa những người thày đầu tiên về nước với lòng biết ơn vô hạn. Trong hoàn cảnh khó khăn như thế, các anh đã thổi bùng ngọn lửa nhiệt tình và lòng tự tin của tuổi trẻ chúng tôi, những con người dám vươn tới tương lai. Các bạn trẻ hôm nay đừng ngạc nhiên khi VT80 chỉ chạy ở tần số... 2MHz (!), hãy nhớ đó là năm 1977. Quay ngược về buổi bình minh của vi tính, máy VT80 (cũng như Altair 8800 và tương tự) được dùng để nghiên cứu thì thuận tiện hơn là đem đi làm ứng dụng. Vì muốn ứng dụng thật sự thì còn phải mất nhiều công sức nữa cùng các anh chị em Phòng Lập trình.

Nguyễn Chí Công
(Tạp chí Tin học & Đời sống, Xuân Đinh Hợi 2007)

Xem tiếp Kỳ 2: CÁC THIẾT KẾ MỚI


Xem online : Kỳ 3: SẢN XUẤT VÀ ỨNG DỤNG


[1Lúc đó có mấy anh của các cơ quan bên ngoài vd. như Hùng từ Khí tượng - Thuỷ văn, Nguyễn Mạnh Sắt, Bùi Thế Dũng từ Viện Vật lý, Trần Xuân Thuận từ Tổng cục Thống kê v.v. đã đến tận phòng thí nghiệm của chúng tôi nhiều buổi để học hỏi.

[2Đầu tiên hiện vật Altair 8800 nằm ở Boston Computer Museum —một bảo tàng của TP Boston, bang Massachusetts— mở cửa năm 1979 và hoạt động ở ba địa điểm khác nhau cho đến năm 1999. Khi Bảo tàng Máy tính Boston đóng cửa vào năm 2000, phần lớn bộ sưu tập của nó đã được gửi đến Bảo tàng Lịch sử Máy tính tại California.