Menu

Trang nhà > Lịch sử > Cổ đại > An nam đô hộ phủ

An nam đô hộ phủ

Thứ Ba 30, Tháng Ba 2010

Xem mục lục ở sau Lời mở đầu Việt Nam khai quốc

KHÂU HOÀ

Cũng như triều đại Tấn 800 năm trước đó, triều đại nhà Tùy có những dấu hiệu báo trước sẽ là một vương triều lớn. Giết chính cha mình là Tùy Văn Đế để tiếm ngôi vào năm 604 Tùy Dạng Đế đã làm kiệt quệ đế quốc non trẻ bằng những cuộc chiến tranh, những dự án xây dựng tốn kém, và bằng một lối sống vương giả xa hoa phù phiếm vô độ. Năm 615, Tùy Dạng Đế suýt nữa thì bị người Đột Quyết (tổ tiên của người Thổ nhĩ kỳ) bắt sống. Sau đó quyền hành của ông bị suy sụp và đế quốc nhà Tùy bị chia năm xẻ bảy thành những cát cứ. Năm 618, Lý Uyên cướp được kinh đô Trường Sa và lập triều đại nhà Đường. Cũng như trong các kỷ nguyên trước đó, mỗi khi có một triều đình sụp đổ và một triều đại khác lên thay ở Trung Quốc là Việt Nam lại hưởng thái bình được ít lâu dưới tài lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương. Người đem lại thái bình cho miền biên giới phía nam lúc đó chính là Khâu Hoà.

Ra đời vào năm 551 ở Lạc Dương, khi còn niên thiếu Khâu Hoà theo thân phụ, một tướng quân, luyện rèn võ nghệ nhưng khi trưởng thành, ông quan tâm nhiều hơn đến hành chánh dân sự và bắt đầu sự nghiệp dưới triều nhà Châu. Dưới triều đại nhà Tùy, Khâu Hoả được bổ nhiệm cai quản nhiều huyện ở miền Hoa Bắc nơi ít có rối ren, loạn lạc vì ông nổi tiếng là người có đức tính khoan dung độ lượng.

Cuối thời trị vì của Tùy Dạng Đế, khắp miền Nam dân chúng nổi lên chống lại những hành động bóc lột áp bức của các thái thú. Tình hình chỉ yên ổn trở lại khi triều đình phương Bắc tức tốc gửi những quan chức, được coi là lương thiện và thanh liêm, đến thay thế các thái thú tham ô. Trong những quan chức nhà Tùy mới đến miền Nam nhậm chức này có Khâu Hoà, mặc dầu lúc đó ông đã bước vào tuổi lục tuần.

Từ năm 604 nhà Tùy đã hạ quy chế tất cả các châu xuống cấp quận do đó lãnh thổ Việt Nam được chia thành ba quận nằm gọn trong một châu. Quận Giao Chỉ gồm toàn thể đồng bằng sông Hồng; châu Ái lại một lần nữa được gọi là Cửu Chân; và Châu Đức mà năm 598 được Lịnh Hồ Hi cải tên là Châu Hoan, nay trở thành quận Nhật Nam. Quá về phía nam là ba quận ngoại vi được thành lập từ những vùng đất vừa chiếm được của Lâm Ấp vào năm 605.

Bảng 3: HỒ SƠ HÀNH CHÁNH ĐỜI TẤN, TỐNG VÀ TỀ

Số Huyện Trong Mỗi Châu TẤN (265-419) TỐNG (420-478) TỀ (479-501)
Quảng Châu 68 136 188
Việt Châu Không có 7 55
Giao Châu 53 53 52
Số Hộ Dân Tính Theo Từng Châu
Quảng Châu 43.120 49.726 Không có
Việt Châu Không có 938 Không có
Giao Châu 25.600 10.453 Không có
Số Hộ Dân Tính Trên Các Quận Của Riêng Giao Châu
Hợp Phố 2.000 Không có Không có
Giao Chỉ 12.000 4.233 Không có
Tân Xương 3.000 Không có Không có
Vũ Bình 5.000 1.490 Không có
Cửu Chân 3.000 2.328 Không có
Cửu Đức Không có 809 Không có
Nhật Nam 600 402 Không có

Tài liệu: Tấn Thư: trang 15, 8b, 9b. Tống Thư: 38, 23b-44b. Nam Tề Thư: 14-20a, 28b.

Bảng 4. THỐNG KÊ DÂN SỐ GIAO CHÂU ĐỜI NHÀ TÙY

Quận Số Hộ Dân
Giao Chỉ (đồng bằng sông Hồng) 30.516
Cửu Chân (đồng bằng sông Mã) 16.135
Nhật Nam (đồng bằng sông Cả) 9.915
Tổng Cộng: 56.566

Tài liệu: Tùy thư, 31, 12b-13a.

Mặc dầu chẳng tồn tại được hết đời nhà Tùy, cơ cấu hành chánh này giúp chúng ta hiểu được rằng các số liệu trong bảng thống kê dân số, như được trình bày trong bảng 4, là nhằm giúp nhà Tùy thu thuế vào thời này. So sánh các con số trong bảng 3 (Chương 3) với bảng 4 cho thấy nhà Tùy đã cai trị miền Nam tương đối hiệu quả hơn. Mặc dù chi tiết về việc nhà Tùy đã cai trị miền Nam thế nào vẫn còn nhiều nghi vấn nhưng điều chắc chắn rằng nhà Tùy đã tìm mọi cách để đàn áp những đại gia đình địa chủ địa phương. Số hộ khầu gia tăng trong bảng 4 chứng tỏ các cố gắng của nhà Tùy trong việc thực thi chính sách "bình đẳng" ruộng đất ở Việt Nam. Mục tiêu chính của công cuộc cải cách ruộng đất này là chia đất cho những người nông dân chịu đóng thuế cho nhà Tùy để họ được có tên trong sổ hộ khẩu. Còn đối với những người không được chia đất thì họ sẽ trở thành những tá điền (không có tên trong sổ hộ khầu) và phải đi làm công cho những địa chủ.

Sử liệu duy nhất còn tồn tại cho thấy rằng chính sách sưu cao thuế nặng của nhà Tùy, qua việc ban chức tước đặc biệt cho các "lãnh tụ" địa phương là những người sẵn sàng tiếp tay nhà Tùy vơ vét các phẩm vật quý giá như ngọc trai, chim trả, ngà voi, sừng tê giác như một hình thức thu thuế gián tiếp ở miền Nam.

Trong khi trung tâm hành chánh của Giao Chỉ nằm ở Long Biên thì một đô đốc của Giao Châu lại đóng bản dinh ở Tống Bình gần Hà nội ngay nay với quyền hành bao trùm khắp miền biên giới [mà theo sử Trung Quốc là]

"để kiểm soát bọn man di từ tất cả những tiểu quốc phía nam, phía tây Giao Châu, và những cư dân trên các hòn đảo ở ngoài biển lớn… thường đến bằng tàu qua những hải trình rất dài… đem tới những hàng hoá qua ngả Giao Chỉ như họ đã từng làm từ thời Hán Vũ Đế…"

Sách chép rằng khi Khâu Hoà đến Giao Chỉ, ông "vỗ về tất cả những anh hùng địa phương và thu phục được sự tin cậy của bọn man di; tất cả những tiểu quốc ở phía tây Lâm Ấp đều đem đến nộp cho ông những phẩm vật quý hiếm như hạt trai, sừng tê giác, vàng và những đồ quý xứng đáng với một vị hoàng đế". Sự thành công của Khâu Hoà trong cách cai trị khiến ông được nhắc đến sau này như là một vị tổng quản nhân từ và đồng thời cũng phản ánh thế giới hàng hải phồn thịnh ở miền biển phía nam nơi từng đem lại thịnh vượng và chiếm ưu thế trong nền kinh tế địa phương từ thời Sĩ Nhiếp.

Khi nhà Tùy không còn kiểm soát được đế quốc của mình nữa thì các lãnh tụ địa phương lại bắt đầu nổi lên. Khởi đầu là Tiêu Thiết, hậu duệ nhà Lương ở lưu vực sông Dương Tử, tự xưng vương và thiết lập triều đình riêng. Kế đến là Lâm Sĩ Hoàng, nổi lên ở phía Đông Trung Quốc, cướp ngôi vua và tập hợp một số thuộc hạ cùng chung mộng đế vương mà trong đó có một người tên là Phùng Áng.

Có cha từng theo quân nhà Tùy xuôi nam và mẹ là một phụ nữ địa phương có quê quán bây giờ là vùng bờ biển Quảng Đông, Phùng Áng khi trưởng thành đã từng làm quan trấn nhiệm ở miền Tây Bắc Trung Quốc trong thời nhà Tùy. Khi nhà Tùy sụp đổ Phùng Áng quay về quê mẹ và kiểm soát được vùng Quảng Đông và phía đông Quảng Tây ngày nay. Còn miền tây Quảng Tây thì nằm dưới quyền kiểm soát của Ninh Trường Chân là người theo phe Tiêu Thiết.

Khâu Hoà đứng bên ngoài tất cả những quan hệ chính trị kể trên. Khi các sứ giả của cả Tiêu Thiết lẫn Lâm Sĩ Hoàng đến yêu cầu ông hợp tác, Khâu Hoà đều từ chối, vì trong thâm tâm ông vẫn chưa muốn tin rằng nhà Tùy đã thật sự chấm dứt. Tiếng đồn vì sự giàu có của Khâu Hoả khiến miền Bắc thèm muốn vì thế Tiêu Thiết ra lệnh cho Ninh Trường Chân đem quân chinh phạt miền Nam. Lúc đầu Khâu Hoả đã chuẩn bị quy thuận, nhưng một quan chức của ông là Cao Sĩ Liên lên tiếng khuyên ông rằng: "Mặc dầu Ninh Trường Chân đông quân, nhưng y phải đi đường xa mà đến, nên xét về quân lương tiếp liệu thì y không thể ở lâu được. Trong khi đó, chúng ta có binh sĩ được huấn luyện, có pháo lũy phòng thủ tốt, và có đầy đủ lương thực thì cớ sao lại phải đầu hàng khi chỉ mới nghe thấy lời đồn đại?"

Cho là phải, Khâu Hoà bèn giao cho Cao Sĩ Liên tổ chức phòng thủ, và quả nhiên quân đội Ninh Trường Chân đã bị đánh bại dễ dàng. Mãi đến khi Khâu Hoà biết được rằng Tùy Dạng Đế đã bị giết vào năm 617 và triều đại nhà Tùy đã thực sự chấm dứt với việc thành lập nhà Đường vào năm 618 thì ông mới chịu quy phục Tiêu Thiết.

Nhưng đến năm 622, khi Tiêu Thiết bị nhà Đường đánh bại thì Khâu Hoà lập tức xin quy thuận triều Đường và được bổ nhiệm ngay làm Đại Tổng Quản Giao Châu cùng với việc Cao Sĩ Liên thân hành lên tận kinh đô nhà Đường để chính thức hoá việc quy phục của Khâu Hoà. Lúc này Khâu Hoả đã 71 tuổi nên chẳng lâu sau ông trở về miền Bắc Trung Quốc và hưởng già ở đó cho đến năm 86 tuổi.

Khâu Hoà đã đem Việt Nam đến với nhà Đường trong những điều kiện hoà bình và thịnh vượng. Nhờ đó mà các tổng quản và thứ sử sau này của nhà Đường có được nền móng tốt để tiếp tục củng cố sự cai trị ở miền Nam. Nhà Đường, với thái độ hoả hoãn lúc ban đầu, đã không phải đương đầu với một dân tộc Việt lộ vẻ thù hằn khi bị chinh phục, một dân tộc đang thịnh vượng, có trình độ văn hoá cao và một hệ thống chính trị ổn định đủ để trở thành chư hầu của đế quốc một cách êm thấm mà không cần dùng đến vũ lực.

Vai trò của Khâu Hoà ở Việt Nam từ lúc nhà Tùy tan rã cho đến khi nhà Đường lên ngôi khác hẳn với cái khuôn khổ cũ trước đó khi các gia đình địa phương thường nắm thế chủ động. Có nhiều lý do để tin rằng nhà Tùy đã vô hiệu hoá được giới lãnh đạo địa phương ở miền Nam sau khi Lý Phật Tử quy hàng. Mặc dù không có số liệu chính thức, rất nhiều bộ hạ của Lý Phật Tử đã bị nhà Tùy giết, và không ít lãnh đạo địa phương đã phải cúi đầu quy thuận với những hứa hẹn đi đôi với những lời đe doạ. Điểm cần chú ý ở đây là sau những tranh chấp quyền lực và suy yếu vì chia năm xẻ bảy, Trung Quốc lại một lần nữa thống nhất, lại phô trương thanh thế và bành trướng sức mạnh như họ đã từng làm trong quá khứ với các lân bang. Đấy là lúc Trung Quốc bắt đầu một thời đại mới.

TỔ CHỨC ĐÔ HỘ PHỦ

Năm 622, nhà Đường bắt đầu phân chia lãnh thổ Việt Nam ra thành nhiều châu nhỏ dưới quyền kiểm soát của hai Tổng Quản Phủ. Tổng Quản Phủ quan trọng thứ nhất được đặt ở vùng phụ cận Hà Nội bây giờ với quyền hành bao trùm 12 châu (Giao, Phong, Chi, Ái, Hoan, Diễn, Trường, Lục, Thang, Võ An, Võ Nga, và Phúc Lộc) gồm 59 huyện trong đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Tổng
Quản Phủ quan trọng thứ hai được đặt ở đồng bằng sông Cả với quyền hành bao gồm các châu ở vùng biên giới cực nam. Mặc dù châu Ái nằm dưới quyền Tổng Quản Phủ phía bắc, nó vẫn chiếm một địa vị ưu việt so với các châu khác trong đồng bằng sông Mã.

Việc gia tăng con số các châu lúc ban đầu dường như nhắm mục đích xác định các vùng tập trung dân cư trọng yếu nhưng những năm kế tiếp, tổ chức hành chánh này lại thay đổi liên miên. Địa vị của các quan thứ sử nhà Đường đứng đầu mỗi châu được củng cố rất nhiều vì càng ngày họ càng quen thuộc với dân chúng và thông thạo tình hình địa phương.

Đầu năm 627, để đáp ứng những đòi hỏi về cải cách hành chánh theo lệnh của tân Hoàng Đế Đường Thái Tôn, con số các châu lại bị giảm thiểu hơn nữa. Năm 628, các Tổng Quản Phủ được đổi thành các Đô Đốc Phủ, dưới quyền các Đô Đốc, một hình thức cai trị đối với các khu vực nằm ngoài lãnh thổ chính quốc. Trong 50 năm sau đó, một cơ cấu phát triển hành chánh mới đã được nhà Đường thực nghiệm tại miền Nam mà đỉnh cao là việc Đường Cao Tông lấy lại tên An Nam Đô Hộ Phủ vào năm 679.

Các đô hộ phủ được đặt dưới quyền cai trị của các Kinh Lược Sứ mà sau đổi thành Tiết Độ Sứ, một chức vụ hành chánh nhà Đường đặt ra để cai trị các dân tộc "man di" hay phi Trung Quốc ở các vùng biên giới. Việc thành lập An Nam Đô Hộ Phủ phần nào phản ảnh mối quan ngại về sự kiểm soát chặt chẽ việc cai trị ở vùng biên giới sau khi nhà Đường bị người Tây Tạng đánh cho một trận tan tác tại Trung Á vào năm 678.

An Nam Đô Hộ Phủ là một trong số bốn vùng đất bị đặt dưới ách đô hộ của Trung Quốc như: An Tây Đô Hộ Phủ ở lưu vực sông Tarim; An Bắc Đô Hộ Phủ ở Mông Cổ; và An Đông Đô Hộ Phủ ở biên giới Cao Ly tức Triều Tiên bây giờ.

Hình thức và con số những châu đặt dưới quyền đô hộ phủ thỉnh thoảng lại thay đổi, nhưng có 8 châu đáng được coi là quan trọng nhất vì sau này 8 châu này sẽ trở thành lãnh thổ trọng tâm của một nước Việt Nam độc lập.

Biên giới phía nam được tính từ châu Hoan, nằm trong vùng hạ lưu sông Cả. Châu Hoan còn có thẩm quyền trên một số những “châu độn” được lập ra để "kiềm chế" những dân bộ lạc ở các vùng núi lân cận. Những "châu độn" này chỉ cao hơn các chức tước nhà Đường ban cho các thủ lãnh bộ lạc ở trong núi một chút để nhằm khuyến khích họ hợp tác.

Cuộc cải cách hành chánh năm 627 không trực tiếp tác động đến châu Hoan, ngoại trừ việc thay đổi tên của vài châu và bãi bỏ hai huyện. Ngược lại với tiến độ cải cách hành chánh ở phía bắc khi con số các châu bị giảm bớt, việc cải cách hành chánh theo lối nhà Đường ở châu Hoan tiến hành chậm hơn vì phải mất nhiều thì giờ phân định ranh giới đối với những châu mới được thành lập sau năm 627.

Năm 628, sách chép là Lâm Ấp được "vỗ về và an ủi" dẫn đến việc thành lập châu Kinh ở biên giới phía nam của châu Hoan. Năm 635, Lâm Ấp lại được "vỗ về và an ủi" để lập thêm một châu nữa là châu Lam cũng ở phía nam châu Hoan. Hai châu mới ở vùng biên giới này đều nằm ở vùng giáp ranh rặng Hoành Sơn. Sau đó hai châu này bị bãi bỏ vào cuối thế kỷ vì dường như việc thành lập hai châu này chỉ là một bước thử nghiệm để quan sát và nghiên cứu vùng biên giới Lâm Ấp mà thôi.

Chỉ mãi sau này thì việc cải cách hành chánh vùng biên giới Lâm Ấp mới được chính thức hoá bằng việc thành lập châu Phúc Lộc từ khu vực mà những người "Lao không văn minh" đã bị di dời vào thế kỷ thứ 6 trước đó. Đầu năm 683, những người “Lao không văn minh” này lại được nhà Tùy "chăm chút và vỗ về" với kết quả là việc kết hợp huyện Phúc Lộc vào châu Đường Lâm hiện có và lấy tên là châu Phúc Lộc vào năm 669. Châu Đường Lâm, được lập không lâu trước đó, bằng cách nhập huyện Đường Lâm vào một huyện cũ khác, có từ thời nhà Tùy khi được tách ra khỏi châu Hoan. Với đà bành trướng như thế nhà Đường đã dần dần thiết lập được sự kiểm soát vững chắc trên toàn vùng duyên hải chiến lược này.

Năm 635, châu Sơn, gồm một tiền đồn quân sự với dân số khoảng trên 5.000 người, được thành lập dọc theo thượng lưu sông Cả, ven vùng đồng bằng Trấn Ninh (cánh đồng Chum). Châu Diễn, nguyên thủy nằm ở dọc bờ biển bắc châu Hoan, nhưng vào khoảng năm 650 thì bị bãi bỏ để sáp nhập vào châu Hoan. Vào khoảng năm 764, châu Diễn được tái lập thành một châu riêng biệt và châu Sơn lại bị bãi bỏ để nhập vào châu Diễn. Nhiên hậu châu Diễn gồm có vùng duyên hải phía bắc châu Hoan với toàn bộ vùng thượng lưu sông Cả.

Năm 622 châu Ái là một trong số 8 châu được lập tại các vùng sâu, vùng xa của đồng bằng sông Mã. Năm 627, tám châu này được kết hợp lại thành 2 châu; và đến năm 636, châu Ái lại nhập nốt những châu còn lại. Nằm ở vị trí chính giữa Đô Hộ Phủ, Châu Ái không phải chịp áp lực hoàn toàn của Trung Quốc như vùng đồng bằng sông Hồng ở phía bắc; đồng thời, lại có châu Hoan giúp chống đỡ những áp lực của những châu ở ngoại vi từ biên giới phía nam. Điều này khiến cho châu Ái gạn lọc được những tinh túy tiếp thu được từ bên ngoài. Và có lẽ đó cũng là lý do tại sao châu Ái lại nổi lên ở thế kỷ 10 như là một trung tâm gốc rễ và lâu bền nhất của các hoạt động chính trị đưa đến độc lập cho Việt Nam.

Châu Trường nằm dọc theo vùng đất cao ở phía bắc châu Ái và bao gồm vùng cực nam của đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên phần đồng bằng trực thuộc châu Trường không thuận lợi làm nông nghiệp vì lúc đó hệ thống đê điều sông Hồng chưa được nối xuống đến vùng này. Dân số tương đối ít ỏi của châu Trường chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt cá và săn thú. Ngày tháng thành lập châu Trường không được ghi lại trong những cuộc cải cách hành chánh vào nửa đầu thế kỷ 7 nhưng châu Trường lại có tên trong kỳ kiểm kê dân số vào năm 740. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng châu Trường đã được thành lập cùng thời với châu Phúc Lộc trong những năm 660 như là một nỗ lực để nhà Đường kiểm soát chặt chẽ khu vực duyên hải tiếp cận với các trung tâm dân cư ở vùng hạ lưu. Châu Trường có vị trí chiến lược quan trọng vì nó khống chế con đường bộ chạy dọc theo bờ biển từ đồng bằng sông Hồng đi xuống miền Nam.

Châu Phong bao gồm các vùng đất nơi mà sông Hồng và các sông nhánh từ các vùng núi cao đổ về đồng bằng vì thế châu Phong được dùng làm đại bản doanh để kiểm soát toàn thể vùng sâu, vùng xa của đồng bằng sông Hồng và sông Mã. Có ít nhất 28 "châu độn" chạy dài mãi tới tận Vân Nam thuộc địa hạt châu Phong. Vì nhiệm vụ chiến lược của châu Phong dưới thời nhà Đường là bảo vệ Giao Chỉ chống lại các bộ tộc ở núi, nên suốt thế kỷ 9 khi nhà Đường gặp mâu thuẫn với các bộ lạc miền núi, châu Phong đã trở thành sân khấu của những vụ xung đột kéo dài.

Trung tâm quản trị dân số và hành chánh của Đô Hộ Phủ được đặt ở Giao Châu và chịu ảnh hưởng của Trung Quốc rất nhiều vì đây là nơi mà đông đảo nông dân sống quần tụ quanh lưu vực sông Hồng và đây cũng là địa điểm tiếp xúc của Trung Quốc với Việt Nam từ xưa đến giờ. Trong thời nhà Đường, Giao Châu là vùng đất đầu tiên được tiếp nhận văn minh Trung Quốc qua việc bị đô hộ theo thể thức hành chánh châu quận có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài đến thế. Trong khi sự đối kháng ảnh hưởng Trung Quốc tại các châu khác được củng cố nhờ yếu tố địa dư thì Giao Châu nằm hoàn toàn trong vòng cương toả của vương triều, và ngày càng quen với những ý tưởng và tổ chức xã hội của Trung Quốc. Những đòi hỏi và yêu sách của các quan Tổng Quản Giao Châu lâu ngày thành nếp đã khuất phục được thái độ chống đối trong cách cư xử của dân chúng địa phương; những trường học được dựng lên, và những gia đình địa phương có tham vọng nay tiếp nhận được nền giáo dục kiểu Trung Quốc với một tư duy rập khuôn theo vương triều.

Tuy nhiên, trong các đền chùa, những tín ngưỡng cổ xưa vẫn được duy trì dưới sự che chở của Phật Giáo và của một loạt các vị thần linh xuất thân từ di sản văn hoá bản xứ. Viễn ảnh văn hoá Việt Nam dựa trên nền tảng của sự thờ cúng thần linh trong bối cảnh linh động Phật Giáo giúp Giao Châu đã trở thành trung tâm của Phật Giáo Việt Nam. Chính những viễn ảnh ấy sau này đã trở thành đỉnh cao văn hoá của một quốc gia độc lập khi Việt Nam chuyển mình tự chủ thoát ách đô hộ từ thế kỷ thứ 10 cho đến sau này.

Thật ra Giao Châu đã không trải qua một nền hành chánh rập khuôn theo kiểu Trung Quốc vì Trung Quốc chỉ luôn coi Giao Châu như là một địa hạt ở biên giới mà dân cư toàn là “bọn man di” không phải là người Trung Quốc; nhưng Giao Châu lại học được các kinh nghiệm của Trung Quốc nhiều hơn bất cứ châu nào khác. Năm 622, tám châu được lập ở đó và năm 627, những châu này đổi thành 8 quận và được gộp cả vào Giao Châu.

Trước thời nhà Đường, nhà Tùy đã từng lập một trung tâm hành chánh ở vùng phụ cận Hà Nội bây giờ. Năm 618, vì lo sợ Ninh Truờng Chân tấn công, Khâu Hoà đã cho xây một thành nhỏ có chu vi khoảng 900 bước được gọi là "Tử Thành" theo cách gọi của Trung Quốc đối với một thành lũy toạ lạc ngay giữa một khu dân cư đông đúc. Đây cũng chính là nơi mà khi xưa Lý Bí đã xây đồn lũy để chống Trần Bá Tiên trong trận đánh thứ nhì vào năm 545. Tử Thành được xây dựng ở bờ nam sông Hồng ngay mép nước triều lên cao nhất vào mùa khô. Lần đầu tiên được thiết lập như một địa hạt hành chánh riêng biệt vào giữa thế kỷ 5, nhờ đê điều đã được đắp dọc theo sông Hồng xuống tận đó, nên khu vực này đã trở thành một trung tâm chính trị đặc biệt dưới thời nhà Tùy và nhà Đường. Chính nơi đây viễn ảnh một nền hành chánh mở rộng của bắc triều đã được ghi nhận qua việc đặt trụ sở chính quyền trung ương địa phương tại phía nam sông Hồng.

Với vị trí dọc theo bờ biển phía bắc đồng bằng sông Hồng, khi mới được thành lập vào đầu năm 535 thì châu Lục có tên châu Hoàng nhưng vào năm 598 bị đổi tên thành Lục bởi Lịnh Hồ Hi. Năm 622, châu Lục lại được nhà Đường tổ chức thành một châu nhưng rồi lại bị bãi bỏ, và sau đó lại được đặt dưới quyền một châu khác ở về phía bắc vào năm 628. Đến năm 650, châu Lục lại tái xuất hiện thành một châu riêng biệt. Tên Lục, nghĩa là khô, "đất khô" bắt nguồn từ việc châu này có một con đường đất khô
nối liền các bờ biển ở phía "bắc vùng duyên hải Quảng Đông" với các bờ biển ở "vùng biên giới phía nam" Việt Nam. Sách chép cho rằng châu này "nằm trong một vùng duyên hải nghèo nàn mà rau đậu không mọc được và dân chúng chằng phân biệt lụa với bông là gì vì đa phần sống nhờ biển". Châu Lục nằm trên ranh giới giữa Đô Hộ Phủ và đất vương triều do đó thường chịu sự kiểm soát trực tiếp nhiều hơn từ phía bắc.

Xem xét lại phần hành chánh và địa lý của Đô Hộ Phủ cho thấy có sự cách biệt lớn giữa các châu về phương diện dân số và chức năng. Nói chung các châu đều là những bộ phận của đô hộ phủ nhưng không phải vì thế mà không thiếu những nét đặc thù của từng châu.

Các châu Giao, Phong, Ái và Hoan nằm trong những phần đất thấp và phì nhiêu nơi dân cư tập trung đông đúc. Châu Giao là châu lớn hàng đầu, có quan hệ mật thiết nhất với nhà Đường. Châu Phong với đặc điểm ở gần núi non nên giữ vai trò của bảo vệ miền biên giới châu Giao. Châu Ái tương đối không bị những thế lực bên ngoài khuấy rối nên khó mà đi vào khuôn khổ theo kiểu cai trị của nhà Đường như các châu khác. Việc châu Ái hưởng ứng mạnh mẽ ý tưởng độc lập của Việt Nam vào thế kỷ thứ 10 là bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng, trong tất cả các khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam sau này, châu Ái là châu kế thừa và bảo tồn truyền thống Việt Nam được nhiều nhất trong suốt thời kỳ nhà Đường đô hộ. Châu Hoan nhỏ và hẻo lánh, một mặt có cơ hội tiếp xúc chặt chẽ với các châu láng giềng ở miền Nam và miền Tây, nhưng đồng thời phải chịu đựng những khuấy phá và tấn công liên tục do những khác biệt về biên giới địa lý và văn hoá. Châu Diễn và châu Phong có nhiệm vụ giữ an ninh các vùng núi ở sâu và xa cũng như ba vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã, và sông Cả. Còn các châu Phúc Lộc, Diễn, Trường và Lục, giữ an ninh những vùng bờ biển và làm trái độn giữa vùng đồng bằng với vùng biên cương Lâm Ấp cũng như các áp lực từ phía Bắc triều.

Năm 742, tất cả những châu này lại một lần nữa bị hạ xuống cấp quận, và đúng 16 năm sau, tức là vào năm 758, tổ chức hành chánh các châu theo kiểu cũ lại được phục hồi. Đây là lần thay đi đổi lại cuối cùng trước khi diễn ra cuộc nổi dậy của An Lộc Sơn ở Trung Quốc. Cuộc nổi dậy của An Lộc Sơn (756 – 763) đã khiến nhà Đường rơi vào cảnh rối loạn đảo điên nên tạm thời Trung Quốc không có thời gian và thế lực để gây áp lực lên miền biên giới phía nam.

Tác giả: Keith Weller Taylor
Chuyển ngữ: Lê Hồng Chương
Source: Damau.org


Xem online : Kiểm tra dân số (chương 5, phần 2)