Menu
Mục lục

Trang nhà > Lịch sử > Cổ đại > Nền văn minh La Mã

Nền văn minh La Mã

Thứ Hai 9, Tháng Tư 2007

La Mã hay Roma là một thành bang do người La Mã lập ra từ năm 753 TCN rồi trở thành một đế chế mênh mông trước khi sụp đổ một nửa vào năm 476. Trong nhiều thế kỉ, nó bao gồm phần lớn lãnh thổ Tây Âu, Bắc Phi, Trung Đông quanh Địa Trung Hải và một số vùng đất ven Hắc Hải, ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn minh phương Tây sau này.

Thời kỳ Quân chủ

Theo khảo cổ học, TP Roma ra đời vào thế kỷ thứ 8 TCN từ những khu định cư của bộ lạc Latin ở đồi Palatine trên sông Tiber, cách biển Tyrrhenia (một phần của Địa Trung Hải) khoảng 20 km. Do đó, Roma có vị trí quyết định đối với giao thông và buôn bán.

Theo truyền thuyết, Romulus sáng lập thành phố này vào ngày 21 tháng 4 năm 753 TCN, do đó mà có tên Roma. Ông là người đầu tiên trong 7 vị vua của Roma. Những vị vua huyền thoại hay nửa huyền thoại đó gồm : Romulus, Numa Pompilius (Vua hiền Numa), Tullus Hostilius, Ancus Marcius, Tarquinius Priscus, Servius Tullius, và Tarquinius Superbus (Tarquin Kiêu hãnh).

Theo sử gia Titus Livius (khoảng 59 TCN–17), Cộng hoà La Mã được thành lập vào năm 509 TCN, khi nhà vua Tarquin Kiêu hãnh bị hạ bệ và thay bằng một hệ thống dựa trên những quan chức hành chính (magistrat) được bầu ra hằng năm. Quan trọng nhất là hai quan chấp chính (consul), những người cùng nhau áp dụng quyền lãnh đạo dạng quân sự, nhưng phải đấu tranh với các đại địa chủ quý tộc trong một Viện Nguyên lão (senat) đã lớn lên về qui mô và quyền lực. Chức magistrat lúc đầu chỉ dành cho quí tộc nhưng sau này được mở rộng cho cả người bình dân thường là tiểu địa chủ.

Người Latin liên kết rồi dần dần thôn tính những bộ lạc khác trên bán đảo Ý, bắt đầu từ hai láng giềng Samnite và Sabine... đến bộ lạc Etrusca hùng mạnh ở phía Bắc, cuối cùng là Tarentum, một thuộc địa lớn của Hy Lạp, vào đầu thế kỉ thứ 3 TCN.

Trong nửa sau của thế kỉ đó, La Mã thắng Carthage trong đợt đầu của 3 cuộc viễn chinh Thanh phạt, cho phép chiếm đảo Sicilia và bán đảo Iberia. Sau khi đánh bại các đế chế Macedon và Seleucid vào thế kỉ thứ 2 TCN, người La Mã trở thành chủ của toàn bộ vùng Địa Trung Hải.

Đế quốc La Mã thời cực thịnh

Xung đột nội bộ giờ đây trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với nền Cộng hoà. Việc từ chối quyền công dân La Mã cho các thành phố Ý đồng minh đã gây ra nội chiến trong những năm 91-88 TCN. Viện Nguyên lão liên tục phản đối những cải cách đất đai có lợi cho binh lính vốn đa số là tiểu địa chủ. Nhưng cải cách quân sự của Gaius Marius làm cho binh lính thường trung thành với người chỉ huy của họ nhiều hơn đối với La Mã, một con cưng của Marius là Lucius Cornelius Sulla đã đánh lại ông và trở thành độc tài trong những năm 81-79 TCN.

Vào giữa thế kỉ 1 TCN, Julius Caesar, Gnaeus Pompeius Magnus và Marcus Licinius Crassus, đã nắm quyền kiểm soát không chính thức thông qua một hiệp ước bí mật lập ra chế độ Tam hùng đầu tiên (Triumvirate). Trước khi chiếm xứ Gaul và có được danh tiếng quân sự, Caesar đã thoả hiệp với Pompeius và Crassus (là những nguyên lão cực giàu với quân đội riêng), và hành động vì lợi ích của họ khi bầu chọn quan chấp chính.

Sau cái chết của Crassus và sự sụp đổ của chế độ Tam hùng, mâu thuẫn giữa Caesar và Viện Nguyên lão do Pompeius nắm đã gây ra nội chiến. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời. Việc Caesar chiếm lấy quá nhiều quyền lực đã dẫn đến vụ ám sát ông được tổ chức bởi Brutus và Cassius vào ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN.

Một Tam hùng thứ hai lên nắm quyền, bao gồm người con nuôi của Caesar là Octavius cùng tướng Marcus Antonius và Marcus Aemilius Lepidus, nhưng họ nhanh chóng rơi vào cuộc tranh giành quyền lực. Lepidus phải lưu tán, Octavius đánh bại Antonius tại trận chiến Actium vào năm 31 TCN và thôn tính lãnh thổ của Cleopatra, người tình Ai Cập của Antonius. Octavius nắm lấy quyền lực gần như tuyệt đối với tư cách là thống soái quân sự và được phong làm hoàng đế Augustus, biến Roma từ một nước cộng hoà thành một đế quốc. Sau đó người kế vị được chỉ định của Augustus là Tiberius đã lên nắm quyền mà không có cuộc đổ máu nào và lập ra triều đại Julio-Claudi.

Thời kỳ Đế quốc

Trong thời kỳ Đế quốc, biên giới tương đối ổn định, người La Mã đã chế ngự được các cuộc nổi dậy ở thuộc địa và chính quốc cùng các cuộc tấn công của những "người man rợ" (barbar) và những khó khăn khác. Hòng gắn kết cả đế quốc mênh mông lại với nhau, các hoàng đế bắt đầu chỉ định các vị đồng hoàng đế (co-emperor), mặc dù điều này thường dẫn đến nội chiến. Sau năm 395 đế chế đã bắt đầu tách thành hai phần đông và tây.

Sự sụp đổ

Theo Edward Gibbon, càng về cuối Đế quốc La Mã càng không chống cự được các cuộc xâm lược do mất lòng tin đối với các cư dân. Họ đã giao nghĩa vụ bảo vệ Đế chế cho lính đánh thuê người barbar. Vai trò của lực lượng quân đội người barbar trở nên mạnh đến nỗi họ có thể dễ dàng vượt mặt Đế chế. Thêm vào đó, Gibbon cũng ám chỉ vai trò của Thiên chúa giáo trong sự sụp đổ của Roma. Thiên chúa giáo, ông nói, đã tạo ra niềm tin vào một thế giới khác bằng gợi ý rằng có một cuộc sống tốt đẹp hơn sau cái chết. Điều này huỷ hoại ý chí của họ về việc duy trì và hi sinh cho Đế chế. Thêm nữa, sự nổi lên của Thiên chúa giáo cũng xác định quyền lợi tư hữu quan trọng hơn nhà nước, đặt nhu cầu của nhà nước xuống dưới bản thân.

Giải thích của Gibbon bị hoài nghi bởi đế chế chỉ tan rã ở phía Tây, trong khi ở phía Đông vẫn tiếp tục tồn tại như là Đế chế Byzantine đến tận thế kỷ 15. Tuy nhiên, mọi người điều đồng ý rằng sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã rất phức tạp, không chỉ có một nguyên nhân.

Các nhà sử học ngày nay đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau cho sự sụp đổ của đế chế phía tây: việc nhiễm độc chì trong các thùng rượu, bệnh dịch, sự mục nát chính trị, văn hóa đô thị không còn sức sáng tạo, và việc chuyển dịch vụ quân sự cho người nước ngoài và người ở ven đế quốc.

Trong Đế quốc La Mã, từ barbar chỉ bất cứ ai không phải là một công dân La Mã, và được áp dụng chủ yếu cho những bộ tộc Bắc Âu ngoài tầm ảnh hưởng của nền văn hoá Roma.

Các tầng lớp xã hội

Những công dân La Mã tự do (libertī) được chia thành 2 tầng lớp: quí tộc và bình dân. Quí tộc (patricia) là những người có tổ tiên trong số 100 ông tổ của Roma. Ban đầu, chỉ có họ mới có thể được bầu vào các chức vị. Việc lấy nhau giữa các tầng lớp bị cấm và danh hiệu quí tộc chỉ có thể được thừa kế chứ không được nhận. Dưới nền Cộng hoà La Mã, một loạt những đấu tranh dẫn tới việc bình dân (plebei) được hưởng quyền bình đẳng hoặc gần như bình đẳng. Nô lệ (servī) ở dưới đáy xã hội, không được coi là công dân.

Đầu thời kỳ Cộng hoà, công dân còn bị chia thành các tầng lớp dựa vào vũ khí mà họ có thể mua được cho nghĩa vụ quân sự. Trước cải cách của Marius, vô sản (proletarii) là tầng lớp chẳng có gì hơn nô lệ ngoài cái tiếng công dân. Tầng lớp giàu nhất gọi là kỵ sĩ (equites), do có thể mua được ngựa chiến. Có cả kỵ sĩ quí tộc và bình dân, nhưng những tầng lớp trên có nhiều quyền lực và uy tín chính trị hơn những tầng lớp dưới. Bầu cử cũng phụ thuộc vào đó. Vô sản rất đông nhưng chỉ được tính vào một đơn vị bầu cử cuối cùng và chỉ tham gia khi bầu không đủ số quan từ những tầng lớp trên. Các đồng minh của La Mã được phân chia thành 2 loại: có quyền và không có quyền bầu cử. Phụ nữ chia sẻ một số quyền cơ bản với chủ hộ nhưng không được coi là công dân đầy đủ và do đó không đi bầu hoặc tham gia chính trị.

Cuối thời kỳ Cộng hoà, sự phân biệt giữa quí tộc và bình dân bắt đầu mất đi ý nghĩa của nó. Một tầng lớp mới, hay quý dân (nobilis), là những gia đình quý tộc hay bình dân đã từng sản sinh ra một quan chấp chính. Trong thời kỳ Đế quốc, sự phân chia giai cấp theo nòi giống bị lãng quên dần, nhường cho sự phân chia theo chức vụ quân sự.

Gia đình

Đơn vị cơ bản của xã hội La Mã là hộ gia đình và dòng họ. Một hộ gia đình bao gồm người cha, vợ con ông ta và những họ hàng khác. Trong những tầng lớp trên thì nô lệ và người hầu cũng là một phần của hộ. Người La Mã cho rằng gia đình rất quan trọng và áp dụng phụ quyền (patria potestas). Người cha có quyền lực rất lớn đối với những người cùng sống với ông ta: có thể ép buộc hôn nhân và ly dị, bán con làm nô lệ và thậm chí còn có thể giết chết những thành viên của gia đình. Những người vợ có thể chọn gia đình của cha mình làm hộ thật mà không nhất thiết phải chọn gia đình nhà chồng, nhưng các con của họ phải theo bố chừng nào ông ta còn sống, dù chúng đã lấy vợ.

Một nhóm những hộ gia đình có quan hệ với nhau tạo thành một dòng họ (thị tộc). Các dòng họ được dựa trên cơ sở quan hệ huyết thống (hoặc nhận con nuôi), nhưng cũng là một hình thức liên minh chính trị và kinh tế thông qua hôn nhân. Đặc biệt trong thời kỳ Cộng hoà La Mã có một số gia đình dòng dõi quyền thế (Gentes Maiores) đã chi phối sinh hoạt chính trị.

Cưới xin

Đối với tầng lớp thượng lưu La Mã, người cha thường bắt đầu tìm người chồng cho con gái của mình khi con gái họ vào khoảng 12-14 tuổi. Người chồng có thể lớn hơn cô dâu khoảng hai tuổi hay thậm chí gấp ba lần tuổi cô ta. Thường là các cô không hoặc ít phản đối - mặc dù có bằng chứng rằng một số cô gái có quyền chọn chồng cho mình (con gái và vợ Cicero tự ý tìm chồng cho cô). Trong khi tầng lớp thượng lưu cưới lúc còn rất trẻ, có bằng chứng cho thấy phụ nữ thuộc tầng lớp hạ lưu - thường cưới muộn hơn vào vào khoảng độ tuổi mười mấy, đầu hai mươi - cưới xin đối với họ không mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và chính trị, vì thế không việc gì phải vội. Bạn bè và gia đình tham dự lễ dạm hỏi trước lễ cưới. Tại buổi lễ này người cha được hỏi liệu ông có hứa gả con gái mình ("cô dâu") và thường thì phải trả lời là có. Cô dâu tương lai sau đó sẽ được nhận các món quà cưới trong đó có một chiếc nhẫn để đeo vào ngón giữa mà nhiều người tin rằng có đường nối thẳng tới trái tim.

Nhà tắm

Đa số người La Mã tắm tại các nhà tắm công cộng hay nhà tắm tư hằng ngày, không chỉ vì sạch sẽ mà còn vì lí do xã hội.

Kinh tế

Nền kinh tế thời kỳ đầu chủ yếu là nông nghiệp và thương mại, Roma cho tự do nhập khẩu lương thực và xuất khẩu dầu oliu, rượu nho. Lúa mì thường thu hoạch 2-3 vụ/năm nhưng sản lượng thấp, chỉ chừng 1 tấn/ha. Công nghiệp chính gồm đóng tàu, làm vũ khí, khai mỏ, xẻ đá, xây dựng. Sức lao động phụ thuộc vào lực lượng nô lệ, từng chiếm khoảng 20% dân số cuối thời Cộng hoà. Giá của nô lệ phụ thuộc vào kỹ năng của họ, thí dụ một nô lệ có nghề y tương đương với 50 nô lệ làm nông nghiệp.

Vào các thời kỳ sau, giá nô lệ tăng vì hết chiến tranh xâm lược, việc thuê sức lao động trở nên kinh tế hơn là sở hữu nô lệ.

Tiền tệ

Mặc dù việc đổi hàng lấy hàng là thông dụng (và thường dùng trong thu thuế) hệ thống tiền tệ đã phát triển ở mức độ cao, với tiền đúc bằng đồng thau, đồng thiếc hoặc kim loại quý được lưu thông xuyên suốt đế chế và ra ngoài biên giới (đến cả Ấn Độ). Trước thế kỷ thứ 3 TCN việc mua bán được thanh toán bằng trọng lượng đồng. Tiền đồng đầu tiên của Rome gọi là as (aes signatum), với khối lượng đồng ghi là 1 cân La Mã nhưng có trọng lượng thực nhỏ hơn, do đó tiện hơn cho việc chuyên chở đồng đi thanh toán.

La-da-rô và Phú ông

Những đồng tiền bạc đầu tiên gọi là denarius được đúc dưới thời hoàng đế Nero vào năm 211 TCN có giá trị gấp 10 đồng as, sau được nâng lên vào năm140 TCN thành 16 as (do đồng as bị đúc nhỏ đi). Lượng bạc có thật trong denarius ít hơn 1/3 so với giá trị danh nghĩa. Sử dụng tiền vàng thay cho tiền bạc thời đó là rất hiếm. Trong thời kỳ Cộng hoà những đồng tiền vàng chỉ được phát hành khi cực kỳ cần thiết, như trong cuộc Thanh phạt thứ 2 và trong nội chiến Sulla. Đồng aureus - tiền vàng chính của đế chế La Mã chỉ bắt đầu thịnh hành trong thời kỳ Đế quốc do cần lạm phát rất nhiều để chiến thắng địch. Giá trị của nó là 25 denarius. Thời gian trôi đi ở La Mã, từ lúc đồng tiền chứa 95% bạc, giảm dần đến lúc chỉ còn 0%.

Thương mại

Ngựa thì quá đắt, và những súc vật thồ khác thì quá chậm cho buôn bán lớn, mặt khác các con đường của người La Mã thường dùng để nối những căn cứ quân sự hơn là chợ và hiếm khi được thiết kế cho xe cộ. Do đó có rất ít vận chuyển hàng hoá giữa các vùng của La Mã, cho đến khi nổi lên nền thương mại bằng đường thuỷ vào thế kỉ thứ 2 TCN. Việc buôn bán nông phẩm tự do đã thay đổi cảnh quan: đến thế kỉ 1 TCN những đồng nho và oliu rộng lớn đã thế chỗ ruộng lúa. Những nông dân tiểu canh đã không thể địch được với giá ngũ cốc nhập khẩu. Khối lượng buôn bán lớn đến nỗi chỉ một nơi khai quật khảo cổ đã cho thấy những đồ chứa bằng gốm chưa hoàn tất chất đống cao tới hơn 40 mét và có chu vi tới 1 kilômét.

Giáo dục

Mục tiêu của nền giáo dục ở Roma là làm cho các học sinh trở thành những nhà hùng biện có ảnh hưởng lớn. Trường học khai giảng vào ngày 24 tháng 3 hằng năm. Mỗi ngày học bắt đầu vào sáng sớm và kéo dài đến hết buổi chiều. Thông thường, những đứa trẻ được dạy đọc và viết bởi cha của chúng. Về sau, khoảng 200 năm TCN, trẻ em được gửi đến trường khi chúng được khoảng 6 tuổi. Nền giáo dục cơ bản của Roma bao gồm đọc, viết, đếm, học phẩm bao gồm những cuộn giấy da và sách. Ở tuổi 13, học sinh học về văn học Hy Lạp và La Mã và cả phần ngữ pháp. Ở tuổi 16, một số học sinh vào học ở trường hùng biện. Những người nghèo hơn thường được dạy ở nhà bởi người cha bởi vì trường học không phải là miễn phí.

Nghệ thuật và văn chương

Roma đã sản sinh ra nhiều nhà văn và nhà viết kịch. Rất nhiều tác phẩm văn học viết bởi các tác giả Roma trong thời kỳ đầu của nền Cộng hoà có tính chất chính trị hoặc trào phúng. Đặc biệt những kết cấu tu từ của Cicero rất được ưa chuộng. Một vài trong số những vở kịch được ưa thích nhất ở thời kỳ đầu của nền Cộng hoà là những vở hài kịch, đặc biệt là những vở của Terence, một nô lệ La Mã đã được trả tự do sau khi bị bắt trong cuộc Thanh phạt thứ nhất.